Thánh Vinh Sơn Lê Quang Liêm,Linh mục  & Thánh Jacinta Castaneda Gia,Linh mục

print

Thánh Vinh Sơn Lê Quang Liêm,Linh mục

 & Thánh Jacinta Castaneda Gia,Linh mục

 Ngày 7 tháng 11:Thánh Vinh Sơn Lê Quang Liêm,Linh mục (1732-1113)

Ngày 7 tháng 11:Thánh Jacinta Castaneda Gia,Linh mục (1743-1773)

Ngày 7 tháng 11:Thánh Vinh Sơn Lê Quang Liêm,Linh mục (1732-1113)

NB:Vinh Sơn Phạm Hiếu Liêm (còn được gọi là Vinh Sơn Lê Quang Liêm, Vinh Sơn Hòa Bình, Vicente de la Paz 1732 – 1773) là một linh mục Dòng Đa Minh 

Thánh Vinh Sơn Lê Quang Liêm sinh năm 1732 tại Thôn Đông làng Trà Lũ,  Phú Nhai, nay thuộc giáo phận Bùi Chu. Thân phụ là ông Antôn Lê Doãn, là một thân hào nhân sĩ trong làng. Thân mẫu là bà Maria Doãn là một người mẹ rất đạo đức đã hết lòng lo việc dậy dỗ con cái. Năm 12 tuổi cậu Liêm xin vào tu trong Nhà Đức Chúa Trời ở Lục Thủy. Qua thời gian 6 năm học tập, cậu tỏ ra thông minh, đạo đức lại đức hạnh hiền lành nên được các cha dòng Đa Minh đang  coi sóc Điạ Phận Đông Đàng Ngoài chú ý. Cha chính Espinoza Huy đã chọn cậu Vinh Sơn Liêm vào số các thanh niên hưởng học bổng của vua Tây Ban Nha, gửi đi du học tại trường Juan de Latran ở Manila, Phi Luật Tân.

Sau ba năm học hành xuất sắc và là một chủng sinh gương mẫu về đạo đức, hạnh kiểm cũng như học vấn, thầy Vinh Sơn Lê Quang Liêm chính thức xin vào dòng Đa Minh, rồi lãnh tu phục ngày 9 tháng 9 năm 1753. Năm 1754, tức một năm sau thầy Vinh Sơn Liêm tuyên khấn trọng thể cùng với 2 tu sĩ đồng hương khác và lấy danh hiệu là Vinh Sơn Hoà Bình (Vincent de la Paix). Sau khi khấn trọng thể, thầy Vinh Sơn Liêm tiếp tục học thêm bốn năm nữa về thần học và thầy được mọi người nhìn nhận là một sinh viên rất thông minh xuất sắc, đứng đầu trường. Chương trình bốn năm về thần học được kết thúc vào năm 1758, thầy Vinh Sơn Lê Quang Liêm được thụ phong linh mục ngay cuối năm học sau cùng.

Lãnh chức linh mục rồi. cha Vinh Sơn Lê Qang Liêm được lệnh bề trên chuẩn bị trở về quê hương thi hành mục vụ linh mục. Ngày 3 tháng 10 năm 1758, cha từ giã ban giáo sư và các bạn đồng trường trong tình thương mến tiếc. Bao kỷ niệm vui buồn trong suốt thời gian du học, giờ đây cha phải xếp lại để lên đường hồi hương..

Ngày 20 tháng 1 năm 1759 cha về tới Trung Linh, đến trình diện cha chính Espinoza Huy trong sự vui mừng, xúc động sau bao năm xa cách. Cha chính Huy cùng với nhiều người trong gia quyến, bạn bè làng xóm đã ra tận bến đò để đón vị linh mục trẻ trung du học trở về.

Sau ít ngày nghỉ ngơi, đi thăm hỏi họ hàng, bạn bè thân hữu, cha Vinh Sơn Liêm nhận được thư bổ nhiệm làm giáo sư  chủng viên Trung Linh. Cha vâng lời nhận bài sai về phục vụ tai chủng viên Trung Linh. Với vai trò là giáo sư, người truyền đạt những kiến thức đã thu thập đươc cho các môn sinh, cha Vinh Sơn Liêm ý thức như thế cho nên cha đã đem hết tài trí thông minh và tận tụy lo soạn bài vở chu để giảng dậy cho các chủng sinh. Các chủng sinh rất thích thú nge cha giảng dạy, vi học cha không chỉ học được những kiến thức của cha mà học được những nhân đức của cha nữa. Mặc dầu được các chủng sinh quí mến, ban giáo sư trong nể, cha Vinh Sơn Liêm vẫn không thoái mãi trong cương vị này, cha hằng mơ ước được đi làm việc truyền giáo, loan báo Tin Mừng hoà bình cho những ngườI chưa nhận biết Chúa. Bề trên hiểu được nguyện vọng của cha nên chỉ trong vài năm sau, bề trên đã sai cha dấn thân vào cánh đồng truyền giáo mênh mông. Lúc đầu cha nhận đảm nhiệm các xứ Quất Lâm, Lục Thủy, Trung Lễ, Trung Linh, Trung Lao và từ khi cha Jacinto Gia bị bắt, cha kiêm nhiệm luôn cả vùng Lai Ổn nữa. Mặc dầu cha đảm nhiệm nhiều xứ với một địa dư rộng lớn như thế, nhưng cha không chỉ giới hạn việc tông đồ của cha trong những xứ đạo này mà cha còn mở rộng các sinh hoạt của cha đến những làng ngoại giáo trong vùng. Những khó ngăn nguy hiểm của thời cấm đạo, nhất là trong thời chúa Trịnh Sâm trong những năm 1767 đến 1782, đạo Chúa bị cấm cách rất gắt gao, nhưng cha vẫn hiên ngang xông xáo vào các vùng hẻo lánh để rao giảng đạo Chúa. Tới đâu, cha cũng sẵn sàng giúp đỡ, yêu thương mọi người nên cha đã dễ dàng chiếm được sự tin yêu qúi mến của mọi người. Cha thường khích lệ mọi người thêm can đảm đương đầu với cuộc sống. Cha an ủi những người gặp buồn sầu, khó khăn, bệnh nạn. Cha không hề nề quản vất vả khò nhọc vì phần rỗi các linh hồn và để chinh phục được nhiều người về cho Chúa.Công việc tông đồ của cha nói được là rất thành công. Nhưng bao giờ cha cũng khiêm tốn, coi những thành quả đó là do Chúa và của Chúa mà thôi. Cha thường nói vớI bạn hữu “mình chỉ là dụng cụ của Chúa dùng mà thôi, làm được gì tốt đều là Chúa làm. Không có Chúa, mình làm được gì?” Trong các thư cha gử cho Đức Cha và các Bề trêni, ngày nay ta còn đọc được những dòng chữ cha viết như sau: “Xin Đức Cha và các Bề trên cầu nugyện cùng Chúa cho con, khi dâng lễ và trong kinh nguyện, để mỗI ngày con được hoàn thiện hơn, biết vui lòng đón nhận những khốn khó theo ý Chúa

Một ông hoàng em thứ sáu của chúa Trịnh Doanh trước khi từ trần đã lãnh nhận bí tích Rửa Tội nhờ công của các vị Thừa Sai và lờI cầu nguyện của cha Vinh Sơn Liêm. Cha đón nhận tin đó như niềm vui của Giáo Hội Việt Nam, và ngày 17 tháng 6 năm 1764 cha viết thư loan báo tin vui mừng này cho cha Pedro Yre cho Bề trên Giám tỉnh ở Manila và Đức Cha Bernado Vetaria.

Năm 1773, cha Vinh Sơn Lê Quang Liêm đi giảng cho họ Lương Đống để chuẩn bị mừng lễ Đức mẹ Mân Côi. Giáo dân nghe tin cha tới giảng ru nhau tớI nghe cha giảng đông như đi hội. Các quan biết tin, liền bí mật cho ông Điều Cam đi thăm dò đích xác nơi cha trú ngụ rồi cho kéo quân tới bắt. Ông Điều Cam thi hành lệnh các quan, ông cho ngườI đi thăm dò và biết chắc chắn cha ở nhà ông Nhiêu Nhuệ. Thế là ngày 2 tháng 10 năm 1773 các quan sai binh lính tớI vây nhà ông Nhiêu Nhuệ và bắt được cha Vinh Sơn Lê Quang Liêm. Họ đánh cha một trận đòn chí tử rồI trói cha lạI vói hai chú giúp lễ tên là Matthêu Vũ và Giuse Bích rồI đem nộp cho chanh tổng Xích Bích. Viên chqnh tổng giam cha 12 ngày, không thấy các tín hữu đem tiền đến chuộc. Đến ngày thứ 13 thì giảI cha lên Phố Hiến nộp cho quan trấn để lấy tiền thưởng. TớI Phố Hiến, cha Vinh Sơn Liêm lạI có cơ may gặp được cha Castarieda Gia đã bị bắt và đang bị giam tạI đây. Hai môn đệ của Chúa cùng là người dòng Đa Minh vui mừng gặp nhau, tâm sự và khuyến khích nhau can đảm theo Chúa tớI cùng.

Giam hai cha một thời gian tại Phố Hiến , tới ngày 20 tháng 10 thì quan trấn bắt hai cha mong chiếc gông rất nặng có khắc bốn chữ “Hoa Lang Đạo Sư”, rồi  trao cho quan phủ Trần Khê giải cha và hai chú giúp lễ về kinh đô Thăng Long để ra mắt với chúa Trịnh Sâm.

Tại kinh đô Thăng Long lúc ấy có một quan lớn là chú của chúa Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm, mẹ của quan lớn là bà Thượng Trâm, quê xứ Hải Dương vốn là người đã theo đạo Thiên Chúa. Nhiều lần bà đã khuyên con theo đạo. Quan lớn liền nảy ra sáng kiến là triệu tập đại diện bốn tôn giáo để trình bày về đạo của mình. Quan nói: “Lòng ta yêu chuộng sự thật, muốn biết đạo nào là đạo chính để thờ phượng”. Thế là Hội Đồng Tứ Giáo ra đời! Cuộc trao đổi kéo dài ba ngày. Mỗi ngày một vấn đề về nguồn gốc con người. Mục đích cuộc đời và đời sau của mỗi người sau khi chết. Cha Vinh Sơn Lê Quang Liêm và cha Castarieda Gia đại diện cho đạo Thiên Chúa đã khôn khéo trình bày đến nỗi quan lớn phải trầm trồ khen ngợi. Nhưng vì biết Phủ Chúa vẫn cấm đạo nên quan vẫn ngần ngại chưa dám theo. Sau đó ít bữa, hai cha lại có cơ hội tốt được nói chuyện với Thái Tôn mẹ của chúa Trịnh Sâm. Bà vì tò mò đã cho các ngài vào cung để trao đổi với hai cha về giáo lý đạo Thiên Chúa. Không có sách nào ghi lại nội dung buổi nói chuyện ra sao. Nhưng cuốu cùng Thái Tôn hỏi:

– Nếu chỉ có đạo các thầy là đạo thật thì những người không theo đạo ấy chết rồi đi đâu?

Cha Vinh Sơn Liêm đáp rõ ràng:

 Bẩm bà, họ sẽ sa hoả ngục a!

Nghe nói thế, Thái Tôn Dương Hậu đùng đùng nổi giận. Bà dùng uy thế ép con là Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm phải xử tử cả hai đạo trưởng này.

Vì lệnh của mẹ, ngày 4 tháng 11, Tĩnh Đô Vương phải lên án trảm quyết hai chiến sĩ Đức Tin này. Riêng hai chú giúp lễ bị kết án lưu đầy cho tới khi nộp đủ 100 quan tiền chuộc thì được tha cho về với gia đình.

Ngày 7 tháng 11 năm 1773 cha Castarieda Gia và cha Vinh Sơn Lê Quang Liêm bị đem đi xử tại pháp trường Đồng Mơ ngoài thành Thăng Long. Nghe biết tin sẽ xử trảm quyết hai đạo trưởng, dân chúng cả luơng lẫn giáo đi xem rất đông. Khi đoàn người đông đảo dừng chân trước hoàng cung, một viên quan trịnh trọng đọc bản án. Sau khi nghe bản án, theo luật lệ thời đó thì mặc dù đã bị kết án nhưng vua có thể ân xá cho tội nhân.Do đó một viên quan khác lớn tiếng nói:

-“Hoa Lang Đạo đã bị nghiêm cấm. Nhưng cho tới nay chưa người dân Việt nào bị xử tử vì đạo này, nên vua đại xá cho tên Lê Quang Liêm”.

Nghe thế, cha Vinh Sơn Liêm vội lên tiếng thưa rằng:

– Cha Gia bị án trảm quyết vì lẽ gì thì cũng phải lên án trảm

quyết cho tôi vì lẽ đó. Cha Gia là Đạo trưởng, tôi cũng là Đạo

trưởng. Nếu luật nước không kết án tôi thì cũng không được kết

án cha Gia. Vì tôi là công dân nước Việt, lẽ ra tôi phải giữ luật nước hơn ngài. Nhưng nếu giết cha Gia, còn tôi lại tha, án của nhà vua không công bằng. Yêu cầu tha thì tha cả hai, giết thì giết cả hai. Thế mới là án công bình”.

Những người chứng kiến rất đông đảo nghe cha Vinh Sơn Liêm nói thì vô cùng xúc động. Nhiều người nghĩ rằng có thể cha Vinh Sơn Liêm nói những lời phát xuất từ tình nghĩa huynh đệ, không muốn lìa xa người anh em của mình, cũng có thể là lời xin tha cho cha Gia vì thấy những người đứng chứng kiến đông đảo chung quanh đều tỏ lòng thương mến và muốn cho cả hai cha được tha. Tuy nhiên cũng có nhiều người nghĩ rẳng những lời lẽ trên của cha Vinh Sơn Liêm đó cũng có thể do lòng ao ước mong muốn dâng hiến chính mạng sống mình để làm chứng cho chân lý và Đức Tin của Ngài. Mọi người hồi hộp chờ đợi lời phán quyết của các quan.

Nhưng cuối cùng bản án vẫn không thay đổi! Hai vị anh hùng Đức Tin vẫn bình tĩnh, vui mừng nhìn đám đông như để cám ơn và chào tạm biệt. Trên đường tiến ra pgáp trường Dồng Mơ, hai cha đọc kinh Tin Kính, hát kinh Lạy Nữ Vương và sốt sắng cầu nguyện. Cổ vẫn mang gông nặng nề, tay chân vẫn mang xiềng xích, nhưng các ngài vẫn nhịp nhàng bước từng bước theo đoàn quan quân đông đảo đi thành hàng hai, hai bên. Nhiều người theo sau, cũng âm thầm bước những bước nặng nề, khó thở. Tới pháp trường hai cha quì gốc xuống đất, ngửa mặt lên trời hai hat chắo lại. Bọn lý hình được lệnh tháo xiềng xích, gông đề các ngài được thong dong đôi chút.

Những hồi chiếng trống nổi lên, lý hình vung gươm lên cao đợI tiếng chiếng trống cuối cùng thì chém một nhát, đầu rơi xuống đất, hai chứng tá Chúa Kitô hoàn tất sứ mạng nhân chứng của mình. Có những tiếng kêu la từ vòng ngoài vọng lạI:

– Trời đất ơi! Đầu hai vị thánh đã rơi xuống đất rồi. Xin các Ngài nhớ đến chúng tôi và cầu nguyện cho chúng tôi.

Nhiều người xông vào đòi thấm máu và xin những xiềng xích các Ngài đã mang. Các tín hữu xin thi thể các Ngài đem về an táng tại Trung Linh, Bùi Chu.

Đức Giáo Hoàng Piô X đã suy tôn các Ngài lên bặc Chân Phước ngày 20 tháng 5 năm 1909. Nhiều ngườI, nhiều trường học đã nhận thánh Vinh Sơn Lê Quang Liêm làm thánh Bổn Mạng, trong đó có trường Juan de Latran ở Phi Luật Tân cũng đã nhận Ngài làm thánh Bổn Mạng. Thánh Vinh Sơn Lê Quang Liêm quả là ánh vinh quang của dân tộc Việt Nam chúng ta. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Ngày 7 tháng 11:Thánh Jacinta Castaneda Gia,Linh mục (1743-1773)

Thánh Jacintô Castaneda Gia sinh ngày 13 tháng 1 năm 1743 tại Javita thuộc giáo phận Valencia, Tây Ban Nha. Là con thứ ba của hai ông bà Giuse Castaneda và Maria Giuseppa Pujazons. Cậu được trời phú cho một khuôn mặt xinh đẹp đặc biệt. Nhiều người so sánh cậu đẹp như thiên thần trong các tranh của nhà danh họa Murille (1862) của Tây Ban Nha. Bề ngoài cậu đẹp trai như thế, nhưng tâm hồn cậu còn qúi trọng hơn nhiều. Từ lúc 12 tuổi, cậu đã cầu nguyện với Chúa và hứa với Chúa cậu sẽ dâng mình cho Chúa để lo việc truyền giáo, mở mang nước Chúa. Để thực hiện lý tưởng cao đẹp ấy, lúc 13 tuổi cậu đã xin phép cha mẹ để vào dòng Đa Minh trong tu viện thánh Philipphê tại Valencia. Ngày 30 tháng 12 năm 1756 cậu đã được ơn chuẩn đặc biệt để mặc áo dòng Đa Minh lúc 14 tuổi và sau một thời gian luyện tập thầy Jacintô Castaneda đã khấn trọng thể, chính thức là tu sĩ dòng Đa Minh với ba lời khấn của Dòng.

Sau khi khấn trọng thể, thầy tiếp tục học chương trình triết và thần học. Trong thời gian học, thầy là một chủng sinh xuất sắc cả về học vấn lẫn đức hạnh. Hằng ngày thầy hằng nao nức mong ước được sai đi truyền giáo tại vùng Á Đông, vì lúc đó, các tin tức về việc truyền giáo tai vùng này rất sôi nổi và đã có nhiều linh mục tu sĩ Đa Minh đi hoạt động một cách hăng say, tạo được nhiều thành tích rất phấn khởi. Mặc dù còn đang theo học chương trình thần học, thầy Jacintô Castaneda đã nóng lòng, mạnh bạo làm đơn tình nguyện xin bề trên đi truyền giáo tại Á Đông. Ngày 30 tháng 8 năm 1761 thầy được bề trên cho biết đơn thầy xin đi truyền giáo tại Á Châu đã được Ban Giám Đốc chấp thuận. Thầy vui mừng viết cho người anh những dòng sau đây: “Anh không tưởng tượng được em ra đi với lòng hân hoan chừng nào, vì biết mình làm theo thánh ý Chúa và đúng với những gì Chúa đã soi sáng”. Rồi ngày hôm sau, 31 tháng 8 thầy lại viết cho mẹ: “Làm sao có thể nói là đứa con vô tình, khi nó từ chối sự nuông chiều của người mẹ để bước đi theo Chúa? Hoài bão của con là được chịu khó vì Chúa. Nói đến nhọc nhằn, bách hại, tức là nói trúng ý nguyện con mang trong lòng. Xin mẹ gạt tình cảm ra một bên, rồi mẹ sẽ nghĩ khác hẳn, khi Chúa đến xin mẹ một người con để thi hành chương trình cao cả như thế”.

Nhưng ý Chúa thực là kỳ diệu! Đôi khi Ngài muốn thử thách lòng tin và ý chí của những người Chúa chọn. Trường hợp thầy Jancintô Castaneda là một thí dụ. Lệnh bề trên là ngày 8 tháng 9, ngày xuống tầu lên đường đi Phi Luật Tân, thì đột nhiên thầy Jancintô mắc bệnh quai bị sưng cả mặt mũi! Thầy viết trong nhật ký: “Lạy Đức Mẹ, con đã chọn Đức Mẹ là hiền mẫu thay cho người mẹ trần gian đã cưu mang con thì xin Mẹ hãy đến săn sóc và chữa lành cho con”. Ngoài chứng bệnh quai bị. Jacintô trong cuộc hành trình dài hai năm trời từ Tây Ban Nha tới Phi Luật Tân này còn gặp nhiều thử thách khác như bị bão táp, bị say sóng, khí trời đôi lúc nóng oi ả, không khí dịch tễ trong một vài hải cảng, đã làm tăng thêm nhiều bệnh tật khác làm cho một vài người phải chết trên tầu. Cuộc hành trình lâu dài đầy khó khăn này đã giúp thầy học được nhiều kinh nghiêm cam go vất vả của bước đường truyền giáo đồng thời lưu lại cho thầy Jacintô nhiều kỷ niệm đau thương.

Ngày 28 tháng 10 năm 1763, tầu chở các nhà truyền giáo cập bến Manila, Phi Luật Tân. Mọi người vui mừng đến rơi lệ, cùng nhau cảm động hát kinh tạ ơn Chúa và Đức Mẹ. Cả tu viện Đa Minh tại Manila mừng rỡ làm tuần tam nhật tạ ơn Chúa và Đức Mẹ.

Tới Manila ít ngày, thầy Jacintô Castaneda tiếp tục học xong chương trình thần học. Ngày 2 tháng 6 năm 1765 Đức Giám mục giáo phận Zabu truyền chức linh mục cho thầy lúc thầy chưa tròn 23 tuổi xuân. Cha  Castaneda vui mừng biên thư về báo tin cho gia đình để cùng cha dâng lời cảm tạ vì Chúa đã thương ban cho cha thiên chức linh mục để được phục vụ Chúa và giúp ích cho các linh hồn.

Đúng một tháng sau ngày thụ phong linh mục, cha Castaneda tình nguyện đi truyền giáo ở Trung Hoa. Trong lúc Trung Hoa đang trong thờI kỳ cấm đạo gắt gao. Bề trên biết lòng mong ước của cha là muốn đi truyền giáo nên Bề trên đã mau mắn chấp nhận và ngay sau đó cha nhận được lệnh của bề trên đi truyền giáo tại Trung Hoa lục địa với bốn linh  mục Đa Minh khác.

Tháng 4 năm 1766 cha Castaneda cùng vớI cha lavilla đến giảng đạo ở Phúc Kiến. VớI tinh thần hang say và lòng đầy nhiệt huyết, hai linh mục trẻ trung này lăn xả vào môi trường Phúc Kiến đầy khó khăn thử thách. Sau ba năm trờI, các ngài đã chinh pục được rất nhiều linh hồn về cho Chúa. Vì đạo Chúa vẫn bị cấm cách nên những chiến sĩ truyền giáo phải trốn lánh, chui rúc ngày đêm để rao giảng Tin Mừng của Chúa, thế mà ngày 18 tháng 7 năm 1769, hai cha bị bắt và bị giam giữ 15 ngày tại Phú An, rồi bị giải về tỉnh Phúc Kiến, bị giam tù hơn hai tháng với 14 cuộc tra vấn khổ cực. Sau cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ra lệnh trục xuất hai nhà truyền giáo Tây Phương này, Bị trục xuất, hai cha xuống tầu trở về Macao chờ đợi cơ hội khác để tiếp tục xông vào cánh đồng truyền giáo mênh mông tại Á Châu.

Ở Macao chờ thời, thì thời cơ lại tới! Trong lúc chờ mong thì có hai linh mục từ Manila tới Macao để chuẩn bị đi truyền giáo tại Việt Nam. Biết tin này, cha Castaneda va cha Laville vội vàng xin bề trên cho phép được đồng hành vớI  các nhà truyền giáo này đi Việt Nam. Bề trên thấy hai linh mục trẻ này sốt sắng và nhiệt tình thì đồng ý cho hai cha đi Việt Nam. Thế là đoàn truyền giáo gồm 4 linh mục Đa Minh trẻ trung lên đường đi Việt Nam. Con tầu lại lênh đênh trên biển cả để đưa các chiến sĩ của Chúa tới Việt Nam.

Ngày 23 tháng 2 năm 1770, bốn nhà truyền giáo đặt chân trên đất Việt Nam. Cha Castaneda được lệnh ở tại Trung Linh thuộc giáo phận Bùi Chu ngày nay, để học tiếng Việt và phong tục, tập quán của ngườI Việt Nam trong sáu tháng. Từ đây, cha nhận tên Việt Nam là Gia, Jacintô Castaneda Gia. Sau sáu tháng, cha được cử đi truyền giáo ở khu Lai Ổn, Kẻ Diền, phủ Thái Ninh. Trong dịp này, cha viết thư cho một cha bạn như sau: “Hiện nay với sự cộng tác của hai linh mục bản xứ. Quả thật, tôi không đủ sức để có thể làm hết những công việc phải làm. Cánh đồng truyền giáo thật mênh mông. Xin cầu nguyện cho Nước Cha trị đến”. Thật vậy, cha Gia phải phụ trách 60 làng, ở rải rắc cách xa nhau, nên cha phải luôn luôn di chuyển từ nơi này tới nơi khác trong những phương tiện quá eo hẹp, khó khăn. Vì thiếu ăn, thiếu ngủ, thiếu thuốc men nên sức khỏe của cha mau chóng bị sa sút. Nhưng tình yêu Chúa, thiêu đốt tâm hồn cha, cha luôn kiên trì vượt trên mọi khó khăn nhọc nhằn để tớI các giáo xứ mà cha phụ trách. Giáo dân rất yêu qúi cha. Nhưng những người lương dân thì ganh tị và luôn muốn tìm mọi cách để bắt cha để lấy tiền chuộc hay tiền thưởng. Vì vậy mà cha luôn phảI thay đổi chỗ ở, làm mục vụ lén lút, tránh những con mắt dòm ngó của những người lương dân.

Trong suốt ba năm làm việc truyền giáo tuy vất vả mệt học, nhưng lại tâm hồn lúc nào cũng vui vì thành quả trước mắt rất là khích lệ.Nhưng rồi sóng gió lại đổ xô tới, ngày 12 tháng 7 năm 1773 sau khi ban bí tích cho các bệnh nhân ở vùng Lai Ổn, cha Castaneda Gia và thầy Tân về trú ẩn tại Kẻ Diền thì vô tình lọt vào vòng vây của quan quân phủ Thân Khê. Thấy vậy, thầy Tân nhanh trí cho lái thuyền qua bên kia sông Luộc rồi lập tức quay lại đem cha trốn vào làng Gia Đạo. Nhưng không may, bị người gia chủ đi báo với quan Phủ để lãnh tiền thưởng, vì vậy mà cả hai cha con đều bị bắt ngay trong làng Gia Đạo.

Giáo dân biết tin, vội góp tiền đến nhờ ông chanh tổng tên là tổng Xích Bích để xin chuộc cha. Quan phủ đòo 3 ngàn tiền chuộc. Biết được chuyện mua chuộc này, cha Castaneda Gia vội can thiếp và nói:

– Nếu quan muốn tha thì tha chứ tôi không có tiền chuộc. Tôi không muốn bất cứ ai bỏ tiền chuộc tội. Tôi sẵn sàng chịu mọi gian khổ, kể cả cái chết, nếu tôi phải chết.

Quan phủ giam cha nhiều ngày tại phủ với hy vọng các tín hữu sẽ đưa tiền đến chuộc. Nhưng giáo hữu nghe cha nói cương quyết như thế thì cũng bỏ ý định đi chuộc cha. Sau nhiều ngày giam gữi và hành hạ cha, quan phủ cho giải về nộp cho quan Trấn thủ Sơn Nam ở Phố Hiến, Hưng Yên và cha Gia bị tống giám tại nhà tù Sơn Nam từ ngày đó.

Sau nhiều ngày bị giam giữ, tra khảo, bị mang gông, chân tay mang xiềng xích, hôm nay cha Castaneda Gia hân hoan đón một người bạn tù mới là cha Vinh Sơn Lê Quang Liêm, đã bị bắt ngày 2 tháng 10 tại Lương Đống cũng đã bị chánh tổng Xích Bích giam giữ 12 ngày trước khi giải nộp tại đây. Hai anh em linh mục cùng dòng Đa Minh vui mừng được gặp nhau sẽ đồng hành với nhau trong những ngày tù đày và có nhiều thách đố về Đức Tin trong những ngày này.

Ngày 20 tháng 10 quan trấn Sơn Nam ra lệnh đóng gông hai cha và ghi rõ trên gông hai cha những dòng chữ này: “Hoa Lang Đạo Sư” rồi trao cho quan phủ Trần Khê áp giải lên Thăng Long.

Về tớI Thăng Long, hai cha có rất nhiều dịp để trao đổi giáo lý vớccác quan. Cuộc tranh luân sôi nổI và thành công nhất được mệnh danh là “Hội Đồng Tứ Giáo”  giữa các đạI diện của 4 tôn giáo lớn là Khổng Giáo, Lão Giáo, Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo. Cuộc tranh luận xoay quanh ba đề tài:

–  Người ta bởi đâu mà có

–  Người ta sống trên đời để làm gì

–  Người ta chết rồi sẽ đi về đâu

Cha Castaneda Gia đã có kinh nghiệm truyền giáo ở Phúc Kiến, đã thành thạo trưng dẫn những điển tích và những câu châm ngôn của người Trung Hoa, khiến cho viên quan tổ chức là chú của chúa Trịnh Sâm hết sức khâm phục biệt tài và những lý lẽ sau sắc của cha. Chính Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm cũng thích thú hỏi hai cha nhiều chi tiết về đạo. Một hôm ông yêu cầu cha Castaneda Gia cử hành vài nghi lễ cho các quan xem. Cha liền mặc áo lễ, cắt nghĩa lễ nhạc và trình bày giáo lý cho các quan nghe. Sau đó cha đặt tượng Thánh Giá trước ngai Tĩnh Đô Vương, cha quì xuống hôn kính một cách nghiêm chỉnh, sốt sắng và đọc kinh Tin Kính, kinh Ăn Năn Tội, kinh Lạy Cha bằng tiếng Việt. Tiếp đó, cha nâng cao ảnh Đức Mẹ và đọc kinh Lạy Nữ Vương. Cử chỉ trang nghiêm, cung kính và lời kinh cha đọc tạo nên một bầu khí rất cảm động, khiến những người chứng kiến phải xúc động và có nhiều cảm tình với hai cha.

Khi nghe hai cha trình bày giáo lý về đạo, nhất là được chứng kiến cha Castaneda Gia cử hành nghi lễ và đọc kinh thì các quan rất thích thú.muốn tha cho hai cha.

Nhưng thực sự thì trong phủ chúa đã nghị án hai cha phải trảm quyết vì là đạo trưởng không chịu qúa khóa rồi. Có điều bản án tới sớm hơn vì lý do bà mẹ của Tĩnh Đô Vưong Trịnh Sâm bực bội vì câu trả lời thẳng thắn của cha Vinh Sơn Lê Quang Liêm, khiến bà nổi giận truyền phải đem chém đầu hai đạo trưởng này ngay. Rồi từ giờ phút đó, hai cha bị ly gián và không cha nào được phép gặp gỡ bất cứ người nào khác.

Ngày 7 tháng 11 năm 1773, quan quân điệu hai chiến sĩ nhân chứng Đức Tin đến pháp trường Đông Mơ để thi hành bán án. Quan quân hùng hậu đi thành hai hàng, dẫn đầu là quan Giám sát, theo sau là một vệ binh giơ cao bản án, tiếp đến là hai cha nét mặt hân hoan, vừa đi vừa trang nghiêm đọc kinh và hát bài kinh Salve Regina –Lạy Nữ Vương- Một đám đông dân chúng gồm cả lương lẫn giáo, những người có lòng quí mến hai cha cũng chậm chạp bước từng bước theo sau.

Tới nơi, họ tháo xiềng xích, gông cho hai cha. Hai vị tử đạo quì gối trên chiếc chiếu trên mặt đất., cha Castaneda Gia ngửa mặt lên trời cầu nguyện rồi nói với lý hình:“tôi đã sẵn sàng”. Ba hồi chiêng trống vang lên. Lý hình vung gươm lên cao sẵn sàng chờ đợi tới tiếng chiêng trống cuối cùng thì chém một nhát. Đẩu vị thánh tử đạo rơi xuống đất.

Mọi người hồi hộp nín thở chứng kiến cảnh hãi hùng, nhiều người xông tới vội vàng thấm máu vị thánh tử đạo. Cuộc đời cha Jacintô Castenada Gia kết thúc lúc 30 tuổi, sau 6 năm truyền giáo tại Trung Hoa và Việt Nam. Thi hai hai chứng nhân của Chúa được giáo dân lãnh nhận rước về an táng trọng thể tại nhà thờ Trung Linh. Ngày 13 tháng 11 năm 1775, trong một bài diễn văn trước Hồng Y Đoàn, Đức Giáo Hoàng Piô VI đã long trọng nhắc tới chiến thắng vinh quang của hai vị thánh linh mục chiến sĩ Đức Tin can trường và anh dũng này.

Đức Giáo Hoàng Piô X đã suy tôn Ngài lên bậc Chân Phước ngày 20 tháng 5 năm 1906 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Lm. Nguyễn Ðức Việt Châu, SSS