CHUẨN BỊ CHO NGƯỜI TRẺ BƯỚC VÀO ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN 1-15

CHUẨN BỊ CHO NGƯỜI TRẺ BƯỚC VÀO ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN

 Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Dongten,net

 

 

1. HUYỀN NHIỆM CON NGƯỜI PAGEREF _Toc493581931 \h 1

2. THÂN XÁC CON NGƯỜI PAGEREF _Toc493581932 \h 4

3. CON NGƯỜI – LOÀI CÓ TƯƠNG QUAN. PAGEREF _Toc493581933 \h 6

4. CON NGƯỜI CÓ NAM VÀ CÓ NỮ. PAGEREF _Toc493581934 \h 8

5. GIỚI TÍNH CỦA CON NGƯỜI PAGEREF _Toc493581935 \h 10

6. NHỮNG TỆ NAN NGÀY NAY LIÊN QUAN ĐẾN TÍNH DỤC. PAGEREF _Toc493581936 \h 12

7. VÀO ĐỜI VÀ TRẢI NGHIỆM TÌNH YÊU. PAGEREF _Toc493581937 \h 14

8. TÌNH YÊU VÀ NHỮNG HIỂU LẦM.. PAGEREF _Toc493581938 \h 17

9.  MỘT TÌNH YÊU ĐÚNG NGHĨA. PAGEREF _Toc493581939 \h 19

10.  XÂY DỰNG TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC. PAGEREF _Toc493581940 \h 22

11. NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI LẦM LIÊN QUAN ĐẾN HÔN NHÂN. PAGEREF _Toc493581941 \h 24

12. NGƯỜI NỮ. PAGEREF _Toc493581942 \h 26

13. ĐẶC TÍNH HÔN NHÂN KITÔ GIÁO. PAGEREF _Toc493581943 \h 29

14. Ý NGHĨA HÔN NHÂN KITÔ GIÁO. PAGEREF _Toc493581944 \h 31

15. NHỮNG NGĂN TRỞ TIÊU HÔN THEO QUY ĐỊNH CỦA GIÁO HỘI PAGEREF _Toc493581945 \h 34

 

 

1.  HUYỀN NHIỆM CON NGƯỜI

 

Con người là một huyền nhiệm. Đây là điều mà chúng ta đã nhiều lần nghe nói đến, và chắc hẳn là trong một khoảnh khắc nào đó ngồi trầm tư, chính bản thân ta cũng đồng ý với điều này. Sự huyền nhiệm của con người được thể hiện trong sự hiện hữu của mình, và được nhận biết ngay chính những quan sát của ta nơi môi trường bên ngoài và trong nội tâm. Biết bao nhiêu áng văn thơ, các bài viết nói về con người. Biết bao nhiêu nghiên cứu về con người. Biết bao nhiêu khám phá khoa học về con người. Nhưng chẳng bao giờ người ta thấy đủ cả. Vẫn luôn còn đó những điều liên quan đến con người mà chẳng bao giờ nhân loại này có thể biết được hết.

 

Ai cũng phải thừa nhận sự cao cả và khác biệt của con người so với mọi loài trong trời đất. Chỉ xét về mặt sinh học thôi, con người đã được cấu tạo theo một cách thức “vi diệu hết mức” rồi. Từ cấu thành của bộ não đến các bộ phận khác trên cơ thể, chẳng ai quan sát tường tận mà lại không thốt lên lời trầm trồ thán phục. Những loài động vật bậc cao với hệ thần kinh phát triển phức tạp nhưng linh trưởng, vượn, khỉ… dù có giỏi đến mức nào vẫn còn thua xa con người nhiều lắm. Chẳng có loài nào có thể giải những bài toán khó. Chẳng có loài nào có thể vẽ những bức tranh đẹp. Chẳng có loài nào có thể hát opera. Chẳng có loài nào có thể chơi đàn làm thơ. Chẳng có loài nào có thể làm ra những phát minh vĩ đại…

 

Nhưng con người trở nên đặc biệt không phải chỉ vì trổi vượt hơn những loài khác về sự phát triển đến mức cao của hệ thần kinh và sự phức tạp của cấu trúc xã hội. Quả vậy, con người không chỉ là loài xếp ở vị trí cao hơn hết trong cùng một giống nhưng là loài tách biệt ra khỏi mọi giống còn lại. Tự bản thân, chúng ta thấy mình không cùng một loại với các loài khác. Con chó khác với con mèo, nhưng ít ai phân biệt phẩm giá giữa con chó với con mèo. Chúng đều là động vật, thế thôi! Vậy mà, chẳng ai trong chúng ta thích khi bị xếp ngang hàng với cầm thú, dù là bất cứ loài nào. Cứ như thể, tất cả mọi loài thuộc về một phía; phía còn lại, ở vị trí cao hơn, là con người.

 

Quả vậy, dường như có một “bước nhảy” nào đó từ “loài thú” lên “loài người”. Về mặt sinh học, dĩ nhiên là con người trổi vượt hơn hết. Nhưng con người không chỉ là sinh học. Còn có cả một thế giới nội tâm khiến cho con người trở thành một “sự linh thánh”: con người là hiện thân của thần linh; xúc phạm con người là xúc phạm đến thần linh. Các nhà triết học nói rằng: con người là loài duy nhất có thể tự ý thức về mình. Con người là loài duy nhất có thể phác hoạ hình ảnh của chính mình. Con người là loài duy nhất không chỉ biết ăn, mà còn có thể biết là mình biết ăn. Tự ý thức là khả năng tự bước ra khỏi chính mình, nhìn ngược về mình để biết mình là ai, như thế nào. Con người không chỉ tồn tại, nhưng còn biết sống. Trên cõi đời này, chỉ có con người là băn khoăn về chính bản thân mình, về nguồn cội và về cùng đích hiện hữu của mình, về quá khứ, hiện tại, tương lai. Ngoài ra, cũng chỉ con người có đời sống tôn giáo, biết cầu nguyện. Nói cách khác, trong khi các loài khác chỉ có thể hướng đến cái hữu hình, con người lại có khả năng đưa mình lên với cái vô hình. Ngoài việc hướng ra, con người còn có thể hướng vào. Ngoài việc hướng xuống, con người còn có thể hướng thượng.

 

Tác giả sách Sáng Thế đã diễn tả sự cao quý của con người bằng những mô tả hết sức tỉ mỉ và đặc nét trong trình thuật sáng tạo. Để chuẩn bị cho sự hiện hữu của con người, Thiên Chúa đã trang hoàng mọi thứ cho đẹp mắt: từ trên trời xuống dưới đất, từ đất liền ra biển cả. Tất cả như “trải thảm” để đón chờ một giống loài đặc biệt nhất sắp sửa được tạo thành vào ngày cuối cùng của công trình tạo dựng. Con người cũng được dựng nên theo một cách thức rất khác biệt so với các loài kia. Thay vì chỉ phán một lời, Thiên Chúa đã cặm cụi lấy đất nắn thành con người. Ngài còn thổi hơi vào nó để nó được thừa hưởng sự sống. Sự linh thiêng của con người chính là nhờ có được sự ưu ái của Tạo Hoá: con người là giống loài duy nhất “theo hình ảnh Thiên Chúa và giống Thiên Chúa”. Là loài thụ tạo, nhưng con người lại có thể phản ánh dung nhan của Đấng Tối Cao theo một cách thức trọn vẹn nhất. Con người cũng lãnh nhận được sứ mạng của Ngài là làm chủ muôn loài trong trời đất, đặt tên cho nó và sử dụng nó để phục vụ cho cuộc sống của mình. Sau con người, Thiên Chúa không còn dựng nên loài gì nữa vì chẳng còn cần thiết. Con người đã là đỉnh cao của tất cả, là kiệt tác của thượng trí vô song rồi.

 

Sự hiện hữu của con người trong trời đất này quả thật là một hồng phúc. Dù chỉ là một loài thấp bé, chẳng đáng gì so với cái to lớn của vũ trụ, nhưng con người vẫn luôn thấy mình ở trên cao hết. Thiên Chúa đã xác chuẩn cho sự quý giá của con người bằng cách sai Con của mình giáng thế, trở thành một con người như mọi người. Thiên Chúa vô hình đã trở nên hữu hình trong thân xác một con người. Ngài không mượn thân xác của ai đó rồi “nhập” vào. Ngài không làm ra một thân xác tạm bợ để sử dụng xong rồi vứt. Ngài “chính là” thân xác ấy. Đụng chạm đến thân xác ấy là đụng chạm đến Ngài. Thân xác ấy là hiện thân hữu hình của Ngài từ lúc nhập thể cho đến mãi muôn đời, cả khi chết, sống lại và thăng thiên. Chính nhờ sự “hạ cố” nhập thể của Thiên Chúa mà ta càng cảm thấy giống loài con người của mình mới quý giá đến dường nào, bởi vốn dĩ đã đặc biệt, từ nay, con người càng trở nên đặc biệt hơn khi trở thành một “nơi” cho Đấng Tối Cao cư ngụ. Sự thánh thiêng đã lan toả khắp mọi nơi, thấm vào con người và làm cho con người trở nên dấu chỉ cụ thể và rõ ràng hơn cho hình ảnh Thiên Chúa mà mình đã nhận lãnh từ lúc được tạo thành.

 

Bởi thế, người ta mới nói đến con người như là một huyền nhiệm!

 

2.  THÂN XÁC CON NGƯỜI

 

Chúng ta tự nhận biết mình là “con người”, khác với những loài khác. Chúng ta cũng biết rằng mình là một huyền nhiệm, một thực thể có tính linh thiêng duy nhất trong trời đất. Tuy nhiên, ít bao giờ chúng ta tự đặt câu hỏi: khi tôi nói mình là “con người”, tôi đang có ý gì vậy? Rõ ràng, hai chữ “con người” vẫn còn để lại trong chúng ta nhiều uẩn khúc chưa có lời giải đáp. Nhưng ít ra chúng ta nhận biết được một “con người” nhờ thân xác của họ, cái hữu hình đang hiện diện trước mắt chúng ta. Quả vậy, chẳng có con người nào lại không có thân xác. Cũng chẳng ai có thể hiện hữu bên ngoài thân xác. Không thể có chuyện thân xác ở một nơi, nhưng “người đó” lại ở chỗ khác. Con người hiện hữu trong chính thân xác của mình.

 

Do ảnh hưởng của nhiều phong trào triết học thời xưa, nhiều người vẫn còn tin rằng thân xác là cái cầm tù con người. Họ mường tượng ra hình ảnh linh hồn ở trên trời tìm kiếm một thân xác nào đó rồi “nhập vào” hoặc bị “đày” vào, khiến cho nó cử động. Bởi thế, chính cái thân xác hữu hình này đã kiềm kẹp, không cho linh hồn được giải thoát để đi về miền tiêu diêu cực lạc, vui hưởng trạng thái hạnh phúc thiên thu. Vì thân xác vốn giới hạn, nên nó cũng chịu sự chi phối của không gian và thời gian. Nó sẽ trở nên tiều tuỵ, già yếu, mang lấy những tật bệnh. Nó mang vào trong con người những phiền sầu khổ ải. Nó làm cho con người mệt mỏi bởi những hành vi nó làm. Nó bắt con người phải chịu số phận hư nát của nó… Bởi quan niệm như vậy, người ta hạ thấp thân xác, khinh thường nó, xem nó như là kẻ thù. Họ hành xác, làm cho mình bị thương như một hình thức tu luyện. Có nhiều người còn tự kết liễu cuộc đời mình để giải thoát cho linh hồn, giúp linh hồn không còn chịu sự kiềm kẹp của thể xác…

 

Rõ ràng, đây là một quan niệm hết sức sai lầm. “Thân xác” không tách khỏi “con người”. Đúng ra mà nói, thân xác chính “là” con người. Khi cánh tay tôi đau, là tôi đau. Khi cái chân tôi đau, là tôi đau. Chẳng có một sự phân biệt nào giữa thân xác tôi với tôi cả. Con người tôi được phô bày ra trong thế giới này qua thân xác mà Trời ban cho qua bố mẹ. Khi thân xác này chết, chính là tôi chết. Giáo Hội vẫn dạy rằng con người có xác và hồn. Nhưng không nên hiểu lời dạy này theo nghĩa đây là hai phần riêng biệt và chẳng dính dáng gì với nhau như kiểu xác là chiếc bình, còn hồn là nước nằm trong chiếc bình ấy. Con người là sự kết hợp tinh tuý giữa “cái mà ta thấy” (tức là thân xác) với “cái mà ta không thấy” (linh hồn). Con người vừa mang giá trị hữu hình vừa vô hình, vừa vật chất vừa tinh thần, vừa thể chất vừa thiêng liêng. Như thế, ngay chính nơi thân xác con người đã mang một giá trị cao quý đến nỗi nếu không có thân xác, con người chẳng còn là con người nữa.

 

Chẳng cần gì ai dạy bảo, tự bản thân chúng ta đều nhận thấy phải biết yêu lấy mình. Chẳng ai trong chúng ta nỡ làm mình đau. Phản xạ tự nhiên của chúng ta là cố gắng mưu cầu sự thoải mái cho thân xác mình. Ai cũng mong mình có một thân xác đẹp và hoàn hảo. Ai cũng thích được khen là có cơ thể đẹp, khuôn mặt xinh xắn dễ thương. Tạo Hoá đã đặt để trong chúng ta một bản năng sinh tồn, để khi đói, ta biết kiếm gì đó ăn, khi khát, ta biết kiếm gì đó uống, khi bệnh tật, biết uống thuốc, giữ ấm… Chăm sóc tốt cho bản thân là một thiên hướng căn cốt đã được khắc sâu vào trong mỗi người. Kinh Thánh còn cho chúng ta biết giá trị cao quý của thân xác khi nói rằng thân xác chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa. Người ta sẽ nhìn thấy hình ảnh Thiên Chúa qua thân xác con người. Thân xác con người là báu vật của Tạo Hoá. Chính Thiên Chúa đã khẳng định lại giá trị của thân xác con người khi mặc lấy nó để trở thành một con người thật sự: biết no đủ, biết đói khát, biết khoẻ, biết mệt, biết đau và có thể chết. Thân xác của con người là chính con người ấy. Đó là lý do vì sao chúng ta luôn tôn trọng thân xác của người đã qua đời. Tự nơi đó, ta thấy toát lên một nét linh thiêng khiến chúng ta phải tôn trọng và, phần nào đó, phải khiếp sợ.

 

Chính nơi thân xác mà ta được trải nghiệm tất cả mọi chuyện nhân tình thế thái ở thế giới hữu hình này. Đặc biệt, nhờ có thân xác, ta thấy mình có tương quan với người khác. Thân xác của con người không chỉ là cấu thành của những yếu tố sinh học, nhưng còn là nơi để con người phô bày ra những gì bên trong. Chúng ta không thể có tương quan với “một cái gì đó” trừu tượng, mông lung. Và trong bất kỳ một tương quan nào, chúng ta cũng cần những cái đụng chạm, gặp gỡ, nghe tiếng… Những giác quan trên thân xác này là những kênh truyền để con người mình – vốn là một huyền nhiệm – bắt nhịp với những con người khác – cũng là huyền nhiệm. Khi tương quan trở nên gần gũi và khăng khít hơn thì nó cũng đòi hỏi một sự gần gũi về mặt thân xác. Ban đầu là những cái bắt tay, sau đó là những cái ôm, hôn… và đỉnh cao để thể hiện một tương quan sâu sắc nhất – tình yêu nam nữ – là sự dâng hiến cả thân xác cho nhau. Khi yêu, dĩ nhiên là người ta dành cho nhau tất cả, và không chỉ yêu “trên tinh thần”, yêu bằng linh hồn. Một cách tự nhiên, khi yêu ai thật lòng, ta không ngại ngùng trao dâng cho họ thân xác.

 

Chúng ta thể hiện tình yêu của mình cho người khác qua những cử chỉ của thân xác. Những cái vuốt ve chính là cái thể hiện việc mình đang hưởng nếm nét đẹp của thân xác của người đó. Những cái ôm là dấu chỉ của việc mở ra, đón người đó vào lòng và giữ chặt họ gần trái tim mình. Những cái hôn là để trao gửi trọn vẹn yêu thương chất chứa trong tim. Và khi quan hệ tình dục, người ta thể hiện ước muốn thuộc trọn về nhau. Bởi thế, tính dục của con người khác với những loài động vật khác. Trong khi những loài kia chỉ nhắm đến việc thoả mãn hay sinh sản, thì con người còn gửi gắm vào đó một yếu tố tuyệt vời khác: tình yêu. Con người không thể quan hệ tình dục bừa bãi, vì việc quan hệ tình dục hàm chứa một ý nghĩa rất sâu xa, thậm chí là rất linh thánh.

 

Làm hại thân xác, xúc phạm thân xác, làm nhục thân xác mình chính là làm điều có lỗi với Tạo Hoá. Thân xác con người được dựng nên là để chuyển tải tình yêu và chỉ được dùng để hướng đến tình yêu. Phải biết trân quý thân xác mình, nhận thức rằng thân xác ấy là nơi Thiên Chúa ngự trị, và được thánh hoá bằng ân sủng của Thánh Thần, thì con người mới có thể sống giới tính của mình một cách trưởng thành và đúng đắn.

 

 

3. CON NGƯỜI – LOÀI CÓ TƯƠNG QUAN

 

Người ta sẽ hiểu hơn ý nghĩa của tương quan khi trải nghiệm cảm giác cô đơn. Đó là khi bỗng dưng người ta thích nghe một bản nhạc buồn, xách xe dạo qua những con phố, cứ chạy tới chạy lui mà chẳng biết đi đâu. Thấy người ta cười nói mà chạnh lòng. Thấy đôi tình nhân ôm nhau mà mình thì cô đơn. Cố tìm một nơi thanh tịnh, chỉ có gió với mây để mong xua đi những nỗi trống vắng trong lòng. Tự nhủ rằng thôi thì mình tự tìm niềm vui cho mình, nhưng thật lòng họ chẳng biết tìm ở đâu, phải làm gì để được vui. Cảm thấy mình lạc lõng, không tìm thấy ai đồng điệu để chia sẻ buồn vui. Ngày hai mươi bốn tiếng trôi qua chỉ với những công việc phải làm. Thế giới đông người thế, nhưng tất cả đều xa lạ với mình. Cuộc đời tươi đẹp thế mà dường như dành cho ai khác, chứ không phải họ.

 

Sự cô đơn giúp ta hiểu được tính cá vị của bản thân và ý nghĩa tương quan trong cuộc sống. Khi cô đơn, ta chợt nhận ra rằng trên đời này chỉ có mình ta là ta. Không ai có thể “là” ta được cả. Nếu có một ai đó giống ta hoàn toàn, thì người đó cũng chỉ “giống” ta thôi, chứ không phải “là” ta. Cả những người có máu huyết với ta cũng không thể “là” ta. Chẳng ai khác có thể thay thế được ta. Chẳng có một bản sao nào của ta tồn tại. Dù ta tốt xấu, giỏi dở hay thế nào đi chăng nữa, ta vẫn là một cá thể độc lập và duy nhất từ xưa đến nay cũng như mãi về sau này. Ta chết đi, thế giới này sẽ mất đi một cái gì đó. Nhưng sự cô đơn giúp ta phân biệt mình với người khác ở bên ngoài kia, độc lập với ta, đập vào trong tư duy của ta một ý thức rằng giữa ta và họ có một sự phân biệt nào đó. Ta nhận ra mình không giống họ. Họ ở bên ngoài ta, là kẻ xa lạ với ta, giữa ta và họ có một khoảng cách, mỗi bên có ranh giới riêng của mình. Ta sẽ chẳng bao giờ có thể trở thành họ và họ cũng như vậy đối với ta. Ta sẽ chẳng biết mình là ai, nếu không có một người khác đứng đối diện với ta. Ta cũng sẽ không có ý thức gì về mình nếu giữa thế giới này chỉ có một mình ta trơ trọi.Tạo Hóa đã ban cho mỗi con người một đặc tính “bất khả thay thế”, nhưng Ngài cũng đặt giữa con người một sợi dây tình thân để nối kết họ lại. Bất cứ khi nào sợi dây tình thân ấy được chúng ta vun đắp, dựng xây để có được sự hài hòa, con người sẽ mỗi ngày triển nở hơn và hưởng nếm hạnh phúc.

 

Hiện diện giữa dòng đời này, ta được Tạo Hóa đặt vào một mớ chằng chịt những mối liên hệ với người khác. Chẳng ai có thể đếm được số lượng tương quan ta có với người khác, bởi vì chúng là vô cùng vô hạn. Trong số những “người khác” ấy, Trời chọn cho ta một hay một vài con người để ta đặt để ở một vị trí cao hơn, ưu tiên hơn trong con tim. Ta xếp họ ở gần mình hơn, chẳng hiểu vì sao, nhưng họ là người mang đến cho ta nhiều ấm áp hơn, họ chiếm giữ con người ta nhiều hơn và ta không muốn đánh mất họ chút nào. Ta muốn họ và ta càng ngày càng xích lại gần hơn nữa, bởi chỉ cần một chút xa cách thôi là bao nỗi lo lắng đã ập đến. Ta sợ mất họ, ta sợ sẽ không gặp lại họ, và cuộc đời ta, con người ta cũng từ đó mà mất đi niềm vui. Biết rằng chẳng có gì là mãi mãi, thời gian có thể sẽ làm thay đổi mọi thứ, nhưng ở bên nhau được ngày nào, vui được với nhau phút giây nào, ta cố gắng hết sức để tận hưởng.

 

Có tương quan là một nhu cầu căn bản của con người. Đó là vì sao ta luôn muốn có người thân bên cạnh, có bạn bè, có người hiểu ta để ta và người đó có thể dành cho nhau sự quan tâm và chăm sóc. Ai trong chúng ta cần một bàn tay, thèm một bờ vai, một cái ôm, một cái hôn, một câu nói nhỏ vào tai. Cần một cái gì đó để đổ vào lòng cho ấm áp. Cần một ai đó ở kề bên để không cảm thấy lạnh lẽo giữa cuộc đời. Cần chút hương vị của đụng chạm để biết là mình có thịt có xương, chứ không phải là những hồn ma vô cảm. Cần có ai đó nghe tôi bằng đôi tai hiền dịu, ai đó nhìn tôi bằng ánh mắt ngọt ngào. Cần một đôi tay vuốt nhẹ làn tóc. Cần người đó đủ sức đưa ta ra khỏi khu rừng u tối cô liêu, giúp ta tìm lại được ánh sáng của ngày mới, nghe tiếng chim ca, tận hưởng làn gió mát, thoả sức ngắm những cánh hoa đẹp. Để mỗi cuối tuần không còn nghe những bản nhạc buồn. Để những ngày lễ không còn chạy chiếc xe trống. Để có thể mỉm cười cùng mọi người và thấy mình là một phần của thế giới xinh tươi.

 

“Tương quan” không chỉ là sự cận kề về mặt thể lý, nhưng là một sự đồng điệu của hai tâm hồn. Bởi vậy, khi nói đến “tương quan”, ta nói đến một mối liên hệ mật thiết giữa con người với nhau, vì chỉ có con người mới có “tâm hồn”. Con người có thể nuôi một con chó hay con mèo để vui cửa vui nhà. Giữa con người và con vật có thể có chút gắn bó. Nhưng đó không phải là “tương quan” theo đúng nghĩa của nó, bởi lẽ, con vật kia không ngang hàng về mặt phẩm giá với con người, và không thể khoả lấp khoảng trống trong tâm hồn của con người. Vì con người là chóp đỉnh của loài thụ tạo nên chỉ có con người mới có thể đồng vai vế với nhau, và chỉ có con người mới có thể tạo lập với nhau một “tương quan” thật sự, trong ý nghĩa tròn đầy nhất của nó.

 

Hai chữ “tương quan” cũng nói đến bản chất “mở ra” của con người. Trong khi các loài vật chỉ biết đến sự sinh tồn, thì con người còn biết đến những giá trị cao quý khác. Con người là loài không bao giờ đóng kín trong chính bản thân, nhưng luôn mở ra với người khác, tạo cho người khác một chỗ đứng trong lòng mình. Càng mở ra với nhiều người, con người càng thấy ấm áp, vui vẻ. Càng có tương quan tốt với nhiều người, con người càng thấy mình được đong đầy bởi tình yêu và sức sống như thể đang tiến dần đến sự hoàn hảo. Ngược lại, ai khép mình, không tiếp xúc với người khác, thì chẳng khác nào cây khô, trơ trọi giữa đồng vắng, sống mà như đã chết từ lâu. Tương quan sẽ bổ khuyết vào những chỗ chưa trọn vẹn trong con người. Tương quan là một nhu cầu nhưng cũng là bản chất của con người.

 

4. CON NGƯỜI CÓ NAM VÀ CÓ NỮ

 

 

Văn hoá Á Đông thường nói đến hai thái cực âm và dương. Nguyên lý âm dương là một nguyên lý tổng thể bao trùm cả trời đất. Ở nơi đâu, ta cũng thấy có hai yếu tố này. Có ngày thì có đêm. Có trên thì có dưới. Có nóng thì có lạnh… Hai yếu tố này luân phiên chuyển vần, bổ túc cho nhau, làm nên sự tuần hoàn của trời đất, khiến cho muôn loài được sinh ra, nảy nở và phát triển. Quan sát trong tự nhiên, ta cũng thấy hai yếu tố này hiện diện nơi các loài thực vật, động vật. Loài nào cũng có đực và cái. Ngay cả khi là lưỡng tính, nó cũng mang hai yếu tố đó trong mình.

 

Con người cũng vậy. Chẳng có con người nào tồn tại mà không có giới tính. Con người xuất hiện trước mắt người khác trong hình thái của giới tính. Giới tính không phải là cái gì đó ở ngoài con người nhưng là cái làm nên bản chất của con người. Người ta có thể phẫu thuật để thay đổi giới tính, nhưng đó là “thay đổi” chứ không phải “huỷ bỏ”. Giới tính đi theo con người từ lúc thành hình cho đến suốt cuộc đời và nó sẽ chi phối lối sống, cách hành xử và mọi sự nơi con người ấy. Quả vậy, ngay khi được thụ tinh trong lòng mẹ, một sự sống đã được ươm mầm và từ từ hình thành một con người với các bộ phận. Từ nhiễm sắc thể trong tinh trùng của bố và trứng của mẹ mà bào thai sẽ phát triển thành “nam” hay “nữ”. Bởi thế, chẳng có con người cách chung chung, nhưng là “người nam” hay “người nữ”. Cả hai cùng là con người, nhưng lại có nhiều điểm khác biệt nhau đáng kể.

 

Xét ở góc độ sinh học, sự khác nhau được thể hiện rõ ràng nhất nơi cấu trúc của hệ sinh dục. Xét ở góc độ tâm lý, nam và nữ cũng khác nhau về cảm nhận tâm linh, cách hiểu và giải quyết vấn đề, tính tình…

 

Con người được dựng nên có nam và nữ không phải để chia ra làm hai phe phái đối nghịch, nhưng là để bổ túc cho nhau. Những gì còn thiếu nơi người nam sẽ được tìm thấy nơi người nữ; những gì chưa đủ nơi người nữ được tìm thấy nơi người nam. Đó là lý do vì sao, khi đến tuổi trưởng thành, người ta thường thấy có sức thu hút từ giới kia. Từ chỗ thích tụ tập với đám bạn để quậy phá, bạn trai bỗng dưng muốn tiếp cận bạn gái để chuyện trò, hỏi han. Từ chỗ chỉ thích cười đùa với nhóm bạn thân, bạn gái tự dưng thấy bị cuốn hút lạ kỳ bởi bạn trai. Thế giới này có cả tỷ người nam và người nữ, nhưng chẳng hiểu sao anh lại phải lòng đúng “người ấy” và ngược lại. Anh ta chỉ thích cô này, chứ không phải cô khác, dù cô đó, khách quan mà nói, có đẹp, giỏi giang và quyến rũ đến cỡ nào. Đây chính là sức hút của tình yêu, một loại tình vô cùng đặc biệt đã làm tốn biết bao giấy mực của nhân loại.

 

Sách Sáng Thế cũng nói đến thứ tình yêu này khi mô tả về Adam và Eva. Từng ngày trôi qua trong quá trình sáng tạo trời đất, Thiên Chúa đều thấy mọi sự tốt đẹp. Từ những điều vĩ mô đến những sinh vật nhỏ bé lúc nhúc trên mặt đất, đâu đâu cũng biểu hiện nét tinh khôi và tuyệt mỹ đến lạ lùng. Khi dựng nên Ađam, trao cho ông sự sống và quyền bá chủ muôn loài, Thiên Chúa mong muốn ông sẽ có một cuộc sống hạnh phúc và an vui với chim trời gió núi, với mưa sa nắng ngàn. Vậy mà tận sâu trong cõi lòng, ông thấy có cái gì đó chưa trọn vẹn.

 

Thấu hiểu được nỗi lòng của ông, Thiên Chúa tiếp tục biểu dương uy quyền của mình qua một lối sáng tạo hoàn toàn khác với trước kia. Ngài không phán một lời như đối với các sinh vật khác. Ngài cũng không làm nên một con người nữa giống hệt Adam, hay một cá thể nào đó hoàn toàn tách biệt và chẳng có liên hệ gì với ông. Ngài dựng nên một người phụ nữ từ chiếc xương sườn của Adam, vừa giống nhưng cũng vừa khác với ông. Giống để biểu thị sự ngang hàng, nhưng khác là để bổ túc cho khoảng trống của cả hai. Sau một giấc ngủ say – giấc ngủ của sự chán chường và mệt mỏi, của cô đơn và khô héo trong lòng, Adam tỉnh giấc và thấy xuất hiện trước mắt mình một người khác. Không một loài nào mà ông đã từng thấy trong trời đất có thể sánh ví cùng nàng. Một cô nàng nhỏ bé thế thôi, mà đủ sức làm tim ông gục ngã, đủ sức thay thế cho toàn bộ thế giới ngoài kia. Thiên Chúa hiểu cảm giác mà ông đang trải qua. Thiên Chúa biết rằng ông đã yêu, và Thiên Chúa chúc phúc cho tình yêu lứa đôi ấy.

 

Khi được nối kết bằng tình yêu, người nam và người nữ tuy là hai nhưng đã trở nên “một xương một thịt”. Họ sẽ bỏ tất cả để đến với nhau, cùng giúp nhau hướng đến hạnh phúc.

 

5. GIỚI TÍNH CỦA CON NGƯỜI

 

Chúng ta đã biết rằng con người là một huyền nhiệm. Huyền nhiệm ấy được thể hiện nơi chính thân xác của mình. Nhờ thân xác, chúng ta hiện hữu trong thế giới hữu hình và có tương quan với các loài khác. Loài người xuất hiện trên thế giới này đông vô số kể. Chẳng ai có thể đếm nỗi là đã từng có bao nhiêu con người tồn tại từ thuở khai thiên lập địa đến nay và từ nay đến khi thế mạt. Nhưng dù có đông thế nào, con người cũng chỉ có hai phái: nam hoặc nữ. Phái tính nam hay nữ này được thể hiện cách rõ ràng trên thân xác của mỗi người. Người nam và người nữ có cấu trúc sinh học khác nhau, dẫn đến những sự khác biệt khác về tâm lý, cảm thức thiêng liêng… Chẳng ai sinh ra mà lại không là nam hay nữ, ít ra là về mặt sinh học. Có chăng cũng chỉ là những rối loạn tạm thời; và càng sớm càng tốt, người đó phải điều chỉnh lại để đưa giới tính của mình về một trong hai phái mà Tạo Hoá đã định. Giới tính của con người làm phát sinh trong người đó những xu hướng tính dục. Xu hướng này phải trải qua một giai đoạn phát triển lâu dài.

 

Về mặt sinh học, sự phát triển tính dục cũng song song với sự phát triển của toàn bộ cơ thể. Ở mỗi giai đoạn, sự phát triển này có những đặc trưng khác nhau. Giai đoạn từ nhỏ đến vị thành niên có thể được coi là giai đoạn “thinh lặng” của giới tính, và chưa có một biểu hiện rõ ràng và mạnh mẽ nào liên quan đến tính dục. Đến giai đoạn vị thành niên, đây là giai đoạn có những thay đổi lớn xuất hiện. Ở tuổi dậy thì, đứa bé giống như thực hiện một cuộc “thay da đổi thịt”. Cơ quan sinh dục của trẻ bắt đầu giai đoạn chín muồi và có khả năng sinh sản. Song song với nó, đứa trẻ cũng bắt đầu cảm thấy được thu hút bởi người đồng trang lứa thuộc giới khác.

 

Xét về mặt sinh học, tính dục của con người đã đến mức trưởng thành, nhưng ở phương diện tâm lý và thiêng liêng, nó còn phải trải qua những giai đoạn khác nữa. Ở độ tuổi mới lớn, đứa bé thường trở nên cứng đầu, không thích bị sai bảo, không thích ở gần bố mẹ, nhưng chỉ thích tụ tập với bạn bè. Đứa bé cứ ngỡ mình là anh hùng, là người lớn, thích thể hiện mình, muốn bắt chước các thần tượng. Đứa bé tỏ ra bất cần đời và cho rằng mình chẳng sợ ai. Tệ hại hơn, đứa bé dễ bị xúi giục bởi người khác để làm những chuyện điên rồ. Hoặc không kiềm chế được những thúc đẩy bản năng của tính dục mà làm nên những chuyện đồi bại. Có thể nói, cái còn thiếu nơi đứa bé lúc này chính là một sự ý thức về trách nhiệm dành cho bản thân, gia đình và xã hội. Sự phát triển của tính dục sẽ đi đến đỉnh cao khi nó có thể hội nhất được toàn bộ các phương diện trong đời sống cá nhân, ý thức được giá trị của tính dục như một công cụ để thông truyền chính mình cho người khác, chứ không phải chỉ là để thoả mãn dục vọng. Nói cách khác, khi đạt đến sự trưởng thành về tính dục, người ta không dừng lại ở sự hoàn thiện bản thân, nhưng còn mở ra với người khác, giúp người ta có những hành xử đúng đắn, tôn trọng những giá trị nhân văn cao quý, trong đó, cái cao quý nhất là tình yêu.

 

Tính dục của con người tuy có sự phân biệt căn bản về mặt sinh học, nhưng còn có những ảnh hưởng đến các chiều kích khác nữa. Ta vẫn thấy có nhiều khác biệt trong cách hành xử của nam và nữ, đến nỗi người ta có thể xem đó là đặc trưng của mỗi phái. Ví dụ, người nam thường lý trí hơn, còn người nữ thì tình cảm hơn; người nam mà uỷ mị sẽ bị coi là “đàn bà”, còn người nữ là cơ bắp quá sẽ bị nói là “đàn ông”… Như thế, tính dục của một người sẽ đi theo người đó suốt cả cuộc đời và làm nên phong cách, lối hành xử, cá tính của người đó. Trong khi con vật chỉ sống tính dục của mình bằng những chi phối của hoc-mon thì con người lại vận dụng bộ não để điều chỉnh tính dục của mình. Như thế, con người không sống tính dục của mình ở một mức độ nông cạn là thoả mãn dục tính, nhưng còn hướng đến chiều sâu của nó là sự tự do và trách nhiệm, giúp mình mở ra với người khác, hướng đến tình yêu, tạo thành những tương quan liên vị. Những cử chỉ thân thiết mà đỉnh cao là việc quan hệ tình dục chỉ trở nên ý nghĩa khi nó được thực hiện trong phạm vi của tình yêu, của sự trao hiến cho nhau để giúp cho tình yêu đó được đơm hoa kết trái.

 

Ngoài ra, do sống trong một tổ chức xã hội, nên tính dục con người cũng chịu sự chi phối của nó. Con người có những ràng buộc về lễ giáo, văn hoá mà họ phải tuân theo. Tình yêu vốn dĩ không có lỗi. Chẳng ai cấm cản hay cho phép mình yêu hay ghét một người nào đó. Nhưng không phải cứ cảm thấy yêu là mặc sức “dâng hiến cho nhau”. Tình yêu cần được xã hội chuẩn nhận, cần phải phù hợp với thuần phong mỹ tục, phải tuân theo ý định của Tạo Hoá thì mới có thể trở nên đẹp và mở ra cho cả hai một tương lai tươi sáng. Người ta càng không được phép lợi dụng chữ “tình yêu” chỉ để thoả mãn cho nhu cầu riêng tư của mình. Cái gì cũng có khuôn khổ của nó. Tính dục và tình yêu là chuyện xuất phát từ nhu cầu của mỗi người, nhưng cũng cần những quy định của xã hội và tôn giáo để giúp nó đi đúng hướng. Đó là lý do vì sao con người, đặc biệt là người trẻ, cần được huấn luyện, đào tạo, dạy dỗ để có được ý thức đúng đắn và những kiến thức hữu ích liên quan đến tình yêu và tính dục của mình.

 

 6. NHỮNG TỆ NAN NGÀY NAY LIÊN QUAN ĐẾN TÍNH DỤC

 

Tính dục là những món quà mà Tạo Hoá dành cho con người. Nó gắn liền với con người và đi theo con người trên suốt hành trình dương thế. Khi tính dục của con người đã phát triển đến một mức độ trưởng thành, nó không còn đóng kín trong chính mình nhưng mời gọi con người mở ra với các cá thể khác, thông chuyển chính mình cho họ. Giữa những cá thể đó, có người mà mình cảm thấy gắn bó hơn hết, tất cả tình yêu, năng động tính dục và trọn vẹn con người mình đều dành cho người đó. Nếu tính dục được định hướng và đi đúng con đường, thì nó sẽ thực thi đúng chức năng mà Tạo Hoá đã đặt định cho nó và từ đó nó sẽ mang đến cho con người hạnh phúc.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn thấy nhan nhản trên các diễn đàn, các phương tiện truyền thông, các mặt báo nói về những vấn nạn liên quan đến tính dục. Ai cũng phải thừa nhận rằng tính dục có một sức tác động rất lớn đối với con người, đặc biệt là những người trẻ, những người chưa đủ hiểu biết về nó cũng như những người chưa biết uốn nắn nó đúng cách. Những lệch lạc trong việc sử dụng tính dục đã kéo theo biết bao tệ nạn: nữ sinh có thai, nạo phá thai, sinh con ra rồi bỏ rơi, ngoại tình, lừa dối, ấu dâm,… Chúng ta không thể không đối diện với một thực tại đáng buồn là ngày nay, dựa vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật cũng như những luồng tư tưởng quá cởi mở, người ta đã đánh mất đi ý nghĩa của tính dục, để rồi dẫn đến những điều tệ hại không ai muốn.

Trước hết, phải nói đến tình trạng sử dụng tình dục chỉ để thoả mãn cho bản thân. Khi đến tuổi trưởng thành, cơ thể sẽ có nhiều thay đổi, một trong số đó là cơ quan sinh dục. Khi người phụ nữ có kinh nguyệt lần đầu tiên, và người nam xuất hiện mộng tinh, đó là dấu chỉ cho thấy cơ quan sinh dục đã có thể thực hiện chức năng sinh sản của mình. Song song đó, cơ thể cũng tiết ra những hoocmon làm cho con người nghĩ về tính dục. Người trẻ tò mò về cơ thể của mình, thấy có những biến đổi thì vừa mừng lại vừa lo. Mừng vì biết là mình đã trở thành người lớn. Còn lo vì không biết “chuyện gì xảy ra vậy”. Tính dục cũng mang đến cho con người một khoái cảm khác lạ, làm người ta như được cất lên chín tầng trời. Từ đó, những xung động này của tính dục cứ thúc bách chủ thể đi tìm khoái lạc cho bản thân qua nhiều cách thức khác nhau. Những xung động này có đôi khi mạnh đến nỗi vượt quá khả năng kiểm soát của lý trí. Dù có khi rất mặc cảm, nhưng họ vẫn không thể cưỡng lại được.

Để tìm thoả mãn cho bản thân, người trẻ thường sẽ tìm đến với những sách báo hay phim ảnh khiêu dâm. Những bài học ở trường lớp nhiều khi vẫn chưa đủ. Thanh thiếu niên, do bị thúc đẩy bởi sự tò mò, nên tự mình hoặc cùng vài đứa bạn thân tìm kiếm những gì liên quan đến tính dục để biết. Những hình ảnh “thiếu vải” hay nóng bỏng thường gây sự chú ý với họ hơn. Họ không những tò mò về cơ thể của bản thân, nhưng còn cơ thể của phái kia. Từ thúc đẩy muốn hiểu biết thêm, họ đã dần dần bị lôi đi xa hơn, chệch hướng, tìm kiếm những âm thanh hình ảnh để thoả mãn cho giác quan của mình. Những thước phim khiêu dâm dường như đã tràn ngập trên thị trường và không quá khó để các bạn trẻ tìm đến. Từ những gì nhìn thấy và nghe thấy, họ càng cảm thấy bị kích động và muốn “bắt chước” y như vậy, hoặc tự mình qua hình thức thủ dâm, hoặc kiếm một ai đó.

Ngày trước, chuyện liên quan đến tính dục là chuyện riêng tư, kín kẽ, chẳng ai dám đề cập tới. Phạm một lỗi liên quan đến tính dục thì cũng giống như phạm một tội nặng trời không dung đất không tha. Nhưng não trạng của con người đã trở nên khác trong thời đại này. Đã đành, không nên nhìn về tính dục như một cái gì đó xấu xa, nhưng nhìn về nó với một thái độ quá thoáng cũng là điều không tốt. Bởi thế, còn có một tệ nạn khác liên quan đến tính dục là người ta đã có một cái nhìn quá tự do về nó. Người ta có thể nói về nó bằng những lời lẽ thô tục cách công khai mà chẳng ngại ngùng gì. Người ta xem nó chỉ đơn thuần là một nhu cầu, hệt như khi đói thì ăn, khi khát thì uống. Nhưng người ta quên mất rằng đòi hỏi tính dục không giống như chuyện ăn và uống. Ăn và uống là những nhu cầu gắn liền với sự sống còn, tự bản thân nó không mang giá trị luân lý. Còn tính dục thì gắn liền với trách nhiệm và tự do. Ngoài ra, con người cũng không giống các loài động vật khác. Các loài khác thoả mãn nhu cầu tính dục của mình khi “đến mùa giao phối”. Con người còn bị chi phối lương tâm và lý trí, chứ không hoạt động “theo mùa” hay chỉ theo bản năng. Cái gì cũng cần được đặt trong khuôn khổ của nó. Cơ quan sinh dục không giống như cái tay hay cái chân. Nó có một ý nghĩa sâu xa và quý giá hơn rất nhiều.

Từ lối nhìn quá tự do trong những vấn đề liên quan đến tính dục, người ta bắt đầu xem nó như một món hàng, kẻ bán người mua, có cung có cầu, đáp ứng đòi hỏi của nhau. Nhiều mảnh đời của biết thiếu nữ đã bị vùi dập bởi tư tưởng này. Ngày nay, cả đàn ông cũng hành nghề buôn bán thân xác mình để kiếm sống. Khi xem tính dục như món hàng, người ta đã đánh mất đi ý nghĩa đích thực của nó cũng như của việc quan hệ tình dục. Chung quy lại, tư tưởng này cũng xuất phát từ thái độ ích kỷ “chỉ tìm thoả mãn cho bản thân”. Tính dục đúng nghĩa là một sự trao hiến, cho đi và nhận lại của cả con người. Khi hai người quan hệ tình dục với nhau, họ dành cho nhau tình yêu, thể hiện khao khát muốn trở nên một, và từ sự kết hợp này, họ hướng đến những mầm sống mới, là hoa trái của tình yêu tươi đẹp này. Tính dục không phải là món hàng, nó là ân ban của Tạo Hoá.

Từ những lối suy nghĩ trên, giới trẻ ngày nay cũng “phát kiến” ra một điều mới lạ khác, mới nghe xem ra có vẻ hợp lý nhưng chính nó cũng là ngọn nguồn của mọi rắc rối và đau khổ: sống thử. Chưa là vợ chồng, nhưng họ đã sống như vợ chồng, từ việc chia sẻ cơm ăn nước uống, đến chuyện chăn gối phòng the. Họ cho rằng cần phải “thử” trước, để biết có hợp hay không rồi mới sống “thật”. Hình thức sống thử này cũng giúp giải quyết những vấn đề liên quan đến pháp luật: họ không phải mất tiền đăng ký kết hôn, tổ chức lễ cưới và nếu chia tay thì cũng không mất nhiều thời gian. Cách nào đó, họ đã mang tính dục ra khỏi khuôn khổ của hôn nhân, ra khỏi sự thừa nhận của gia đình, truyền thống lễ giáo và pháp luật. Họ tưởng rằng như thế thì mình sẽ tự do hơn, nhưng thật ra họ đang tự đặt mình vào thế bấp bênh hơn, vì chẳng có gì đảm bảo cho hạnh phúc và sự lâu bền trong tương quan giữa hai người cả. Nhiều cô gái đã bị lừa gạt. Phần lớn trong số các cặp sống thử cũng không tồn tại lâu dài. Có thai ngoài ý muốn, phá thai, bị bỏ rơi… cũng từ lối sống này mà ra.

Hơn bao giờ hết, người trẻ cần ý thức rõ về tính dục của bản thân mình. Hiểu rõ rồi, họ mới có thể sử dụng nó cách đúng đắn và hướng nó vào khuôn khổ để giúp mình được triển nở. Tính dục chỉ có thể thực hiện đúng chức năng của mình khi được đặt trong tình yêu.

 

7. VÀO ĐỜI VÀ TRẢI NGHIỆM TÌNH YÊU

 

 Vào đời? Vào đời là vào đâu? Chẳng phải ngay lúc này đây, ta đã sống trong cuộc đời rồi sao? Có nhiều khi ta nghe nói đến chữ “vào đời”, nhưng ta cứ mãi bâng quơ nghĩ ngợi, vì khái niệm ấy thật trừu tượng và mơ hồ. Quả vậy, có một thế giới hữu hình chung cho tất cả mọi người. Nhưng dường như không phải cứ có mặt trong sự hiện hữu là ta đã đi vào trọn vẹn trong cuộc sống. Giai đoạn lúc ta thụ thai trong lòng mẹ, khác với lúc ta chào đời. Khoảng thời gian ta còn nằm ngọ ngậy bú sữa mẹ, khác với lúc ta chập chững bước đi. Lúc ta có thể chạy nhảy tung tăng, khác với lúc ta có thể tự mình tạo lập sự nghiệp cho mình. Dòng thời gian trôi qua có tác dụng như một lực đẩy, đẩy ta đi vào từng ngưỡng cửa mới. Nơi từng chặng đường, trí óc ta mở ra thêm, nhãn quan ta thấy được nhiều thứ hơn. Rồi đến một lúc nào đó, ta được dẫn vào cánh cửa cuối cùng. Đàng sau cánh cửa ấy là cái mà ta gọi là “đời”, nơi mà ta sẽ phải tự đứng trên đôi chân của mình, phải chịu trách nhiệm về tất cả những gì mình làm, phải bắt đầu dựng xây cho mình một thế giới riêng. Vào đời, chính là vào nơi ấy.

Chúng ta thường có những cung bậc cảm xúc khác nhau mỗi khi bước vào giai đoạn chuyển tiếp nào đấy. Có thể vui, có thể tiếc, có thể sợ. Vui vì ta háo hức đón nhận những điều mới đang chào đón; vui hệt như một em bé chờ mẹ đi chợ về để nhận cái bánh hay cái kẹo mẹ mua cho. Nhưng đâu đó, lòng ta vẫn gợi lên một chút nuối tiếc. Bởi lẽ, từ nay, ta phải bỏ lại đàng sau tất cả những kỷ niệm đẹp. Ta không còn được hưởng nếm mọi thứ một cách “hiển nhiên” nữa. Ngày xưa, cứ mỗi khi đói, ta chỉ cần khóc là mẹ sẽ cho ăn; cứ mỗi lần cần tiền đóng học phí, ta chỉ cần ngửa tay xin bố là được. Giờ đây, mọi đặc ân ấy không còn nữa. Ta phải tự chăm lo cho mình. Nhớ lại thời còn bé, ta có thể vô tư cùng bạn bè đi chơi, tụ tập ăn uống, “buôn dưa lê”… Giờ đây, bạn bè mỗi đứa một hướng, ai cũng phải bận tâm lo cho tương lai của mình, cả ta cũng chẳng còn thì giờ và hứng thú cho những chuyện ấy. Và có đôi khi ta cảm thấy sợ, vì ta không biết mình có đủ sức đối đầu với những gì sắp xảy đến không, mình phải tập đảm nhận cuộc đời của mình ra sao, chuyện gì xảy ra nếu như mình không thích nghi được.

“Cuộc đời” đúng thật là chốn phức tạp với muôn vẻ muôn màu. Nó là “đời” chứ không phải là “thiên đàng”. Nơi đó có rất nhiều điều thú vị, nhưng cũng không thiếu những khó khăn. Một thoáng nào đấy, ta cảm thấy tự hào về mình vì giờ đây, mình không còn là một “đứa con nít” nữa, mình đã lớn rồi, không ai được quyền khinh thường mình nữa. Nhưng cuộc đời chẳng quan tâm đến điều ấy. Nó sẽ cho ta thấy là mình đã thật sự trưởng thành chưa khi vác lấy biết bao trách nhiệm và thách đố. Ta phải kiếm việc làm và phải làm việc đàng hoàng để có tiền chu cấp cho bản thân. Ta phải kiếm chỗ ở, phải tự đi chợ nấu nướng, phải tự lo cho sức khỏe… Sẽ chẳng có ai quản lý ta nữa, ta phải tự chủ trong giờ giấc, trong các mối tương quan, trong cách hành xử với người khác. Xã hội sẽ chẳng tha cho ta nếu như ta làm điều gì đó sai trái. Người khác cũng chẳng nể vị ta nếu ta không sống công tâm và chính trực. Bươn chải giữa dòng đời, ta phải sử dụng tất cả mọi nguồn sinh lực ta có. Điều đó khiến ta mệt mỏi, vì đầu óc lúc nào cũng phải lo nghĩ, tính toán, cân đo. Khi đã chính thức vào đời, tìm được một giây phút thảnh thơi chẳng phải là điều dễ.

Bước vào đời cũng hệt như bước vào một cuộc chiến, một cuộc chạy đua. Vận may có thể là một trợ giúp to lớn, nhưng nó không nằm trong tầm kiểm soát của ta. Cứ sự thường, ai có tài có sức dẻo dai thì sẽ là người chiến thắng. Ai sống có đức thì sẽ được mến yêu. Nhưng cái tài cái đức không tự nhiên mà có. Nó cần được bồi đắp và trui rèn tại thao trường. Bởi thế, người nào chịu đổ nhiều mồ hôi để chuẩn bị cho mình một hành trang tốt thì sẽ khảng khái và tự tin thực hiện lộ trình vào đời hơn. Người ấy sẽ có đủ sức đối đấu với tất cả những phong sương vì đã có trong tay những “bửu bối” cần thiết. Ta được đưa vào cuộc đời, không phải là chuyện tình cờ và duyên số vô định nhưng là ta được trao ban cho một sứ mạng, đưa tay ra để cùng chung xây thế giới. Ta là một phần của thế giới và sự hiện hữu của ta giữa cuộc đời góp phần làm nên thế giới ấy.

Khi đã lớn khôn và bước vào cuộc đời, ta sẽ trải nghiệm được một thứ tình cảm rất lạ và rất khác. Nó được gọi là tình yêu. Vốn dĩ người ta chẳng thể nào hiểu được tình yêu. Tình yêu là gì, nó từ đâu đến, làm sao để có được nó, làm sao để xoá bỏ nó ra khỏi tâm trí mình… Đó là những câu hỏi mà muôn đời sẽ chẳng bao giờ ta tìm được một câu trả lời thoả đáng. Cũng từ một chữ “yêu” này mà mọi cái trong đời sống của ta bỗng dưng thay đổi cách chóng mặt. Cuộc sống thời thơ bé của ta thật bình yên giản dị. Năm tháng trôi qua nhẹ nhàng với những kỷ niệm ngọt ngào có phần thơ ngây. Tâm trí ta trong sáng, chẳng mảy may bị vẩn đục bởi điều chi; cõi lòng ta thanh thản, chẳng bị vây bám bởi bất cứ một nỗi niềm hay dòng cảm xúc nhuốm buồn nào. Mọi cái đến và đi cách mau chóng và ta có cảm tưởng như từng biến cố trong cuộc sống trôi qua đời ta như một con nước bập bềnh lui dần về nơi mất hút. Cái êm đềm nó của tuổi thơ, đến một lúc nào đó, bỗng nhiên bị chặn đứng lại. Mọi cái trong ta bắt đầu rối tung lên, có khi làm ta thăng tiến, có lúc làm đảo lộn mọi thứ. Ấy là lúc lòng ta biết cảm thấy trống vắng và bất chợt đâu đó, hình dáng của chữ “yêu” thấp thoáng hiện đến trong những lúc ngồi ngẩn ngơ.

Khoảng thời gian đắm chìm trong tình yêu là lúc mà người ta thấy mình trở nên mạnh mẽ vô cùng. Quảng đường xa, gập ghềnh mưa gió, sóng to biển cả… tất cả những trở ngại của không gian và thời gian đều trở nên vô nghĩa. Tình yêu trao ban cho người ta sức mạnh để trèo lên non cao, vượt qua vực thẳm. Nắm tay nhau bước đi trong cơn mưa, đối với người khác là một sự điên khùng, còn đối với người đang yêu lại là một điều kỳ diệu. Khi đã chìm trong tình yêu, mọi cái chung quanh đều trở nên đẹp đẽ, cho dù thực tế, chúng chẳng có gì đáng để lưu tâm. Đã yêu nhau rồi, người ta chẳng sợ điều gì, chẳng ngại điều chi, vì trước mắt họ luôn là một màu hồng thắm tươi. Có rất nhiều bờ vai trên cõi đời này, nhưng chỉ có một bờ vai có thể làm ta cảm thấy thanh thản. Có cả tỷ tỷ đôi bàn tay trên thế giới này, nhưng chỉ có một bàn tay khi chạm vào ta là chạm vào tận thâm sâu cõi lòng, khơi lên nơi đó ngọn lửa sưởi ấm thật diệu kỳ.

Nhưng cũng chính khi yêu là lúc người ta cảm thấy mình yếu đuối nhất. Ta thấy mình không cưỡng lại được sức lôi kéo của đối phương, không thể gạt đi được nỗi nhớ, không thể cho phép mình không nghĩ đến người ta. Ta bắt đầu biết nhỏ những giọt nước mắt buồn tủi. Ta cảm thấy sợ khi nghĩ đến một ngày ta và người ấy trở thành hai kẻ xa lạ. Bấy lâu nay, ta vẫn rất ngang tàng ương bướng, nhưng trước mặt người kia, ta hiền từ, nhẹ nhàng và thân thiện đến lạ kỳ. Ta có thể không sợ mình đau, nhưng ta chẳng thể chịu nỗi khi người mình yêu gặp một điều gì đó bất trắc. Ta thà là mình chịu khổ, còn hơn thấy người kia không vui. Đối với ta, người kia là tất cả. Ta trao cho người đó quyền làm chủ trên ta, quyền làm ta vui, quyền làm ta đau nhói. Phải, yêu là biến mình trở nên nhỏ bé, là tự đặt mình vào vị thế khiêm nhường, là bắt đầu biết cảm thấy mình cần đến người ta, là mở lòng mình ra để đưa người kia vào trong tim, nơi ta ấm ủ những mộng ước, những giấc mơ, những khao khát.

Bước vào đời và bắt gặp được một tình yêu đẹp dành cho mình là hồng phúc lớn lao mà Tạo Hoá dành cho mình.

 

8. TÌNH YÊU VÀ NHỮNG HIỂU LẦM

 

Khi đạt đến một độ tuổi nhất định, con người bắt đầu có cảm giác yêu. Đó là một sự cuốn hút, lôi kéo toàn bộ tâm trí và con người của ta hướng về một đối tượng khác. Có nhiều loại tình yêu tồn tại trên đời này, nhưng tình yêu nam nữ là mạnh mẽ nhất, đến độ “người ta phải lìa bỏ tất cả để gắn bó với người mình yêu.” Tình yêu làm cho người ta trở nên trọn vẹn, bổ khuyết cho những nỗi “trống vắng hiện sinh” trong mình. Có được tình yêu này, cũng giống như tìm thấy “một nửa” của cuộc đời. Tình yêu này vốn dĩ rất tuyệt đẹp. Nó đã đi vào trong các áng văn thơ, âm nhạc, cũng như tất cả các loại hình nghệ thuật. Khi tình yêu xuất hiện, các hình thức nghệ thuật trở nên thu hút hơn, lôi cuốn hơn và đẹp hơn.

Yêu và được yêu là một nhu cầu căn bản của con người. Không ai có thể cấm người khác yêu. Bản thân mình cũng không thể làm chủ cảm xúc của mình, muốn mình yêu người này hay yêu người kia, ghét người này hay thương người nọ. Và khi được người yêu mình trao gửi trở lại một tình yêu, ta như trở thành người hạnh phúc nhất trên hành tinh này. Thế nhưng, con người – đặc biệt là giới trẻ ngày nay – đôi khi có chút hiểu lầm liên quan đến nó. Khi hiểu sai về tình yêu, người ta trở thành kẻ mù quáng, có những hành vi sai trái và dần dần đánh mất đi chính mình. Hoặc có khi, do có cách hiểu sai về tình yêu, người ta không biết cách làm cho nó triển nở để làm thăng hoa cuộc sống của cả mình và người khác.

Người ta thường lẫn lộn tình yêu với cảm xúc. Cảm xúc là một phần của tình yêu, nhưng nó không phải là tình yêu. Khi yêu, người ta có những cảm giác nhớ, thương, giận, mong, tủi, ghen… Nhưng tất cả những điều này chỉ là cảm xúc phát ra từ con người mình chứ chưa hẳn là tình yêu. Các bạn trẻ thường hay thần tượng một ai đó, có thể là ca sĩ, diễn viên, một người có những tài năng hay đức hạnh mà mình cảm thấy ngưỡng mộ. Ở độ tuổi mới lớn, bạn trẻ cũng có thể thấy “thích thích” một người khác phái ở lớp học hay ở chung khu phố, xóm làng… Những cảm xúc khi thần tượng hay thích thích này cũng có nét gần gần như khi yêu. Tuy nhiên, phải hết sức cẩn thận, đừng lầm lẫn tình yêu với cảm xúc. Thật không dễ để phân biệt hai phạm trù này. Có thế nói: cảm xúc là cái toả ra bên ngoài với những nét đẹp và quyến rũ cuốn hút ta, còn tình yêu là cái cốt lõi bên trong. Tình yêu không chỉ là nhớ là thương, nó còn bao gồm cả trách nhiệm và một thái độ muốn trao ban tất cả để cùng người kia đắp xây một tổ ấm. Nó sẽ được lộ rõ hoặc được tôi luyện khi trải qua những khó khăn, phong ba, thử thách của cuộc sống và thời gian. Vượt qua trăm ngàn bể dâu, khi không còn cảm thấy lâng lâng của cảm xúc vây cuốn, mà người ta vẫn thấy không thể sống mà thiếu nhau, đó gọi là tình yêu!

Giới trẻ ngày nay du nhập một thái độ gọi là yêu chơi. Xét về bản chất, nếu đã yêu thật lòng thì chẳng thể nào gọi là chơi. Còn nếu chỉ là chơi, thì đó không phải là yêu, theo đúng nghĩa của nó. Do hiểu lầm tình yêu chỉ là cảm xúc, và mình có thể gán ghép tình yêu vào mình và vào người khác, nên các bạn trẻ cứ nghiễm nhiên “tìm người ghép cặp” với nhau và gọi đó là tình yêu. Ở độ tuổi mới lớn, ai cũng muốn mình có người yêu. Khi có người yêu, người ta cảm thấy có chút hãnh diện về bản thân mình. Có người yêu để ngày lễ tết đi chơi, nhắn tin hẹn hò, đi ăn uống như người khác. Có bạn còn tự hào về bản thân khi “thay người yêu như thay áo”. Càng có nhiều người yêu, họ nghĩ rằng mình càng có giá. Rồi do bị ảnh hưởng bởi những thước phim lãnh mạn, họ cũng có giây phút chia tay, nhớ nhung, đau khổ… Dĩ nhiên, cũng có những tình yêu thật sự nảy sinh ở giai đoạn này, và nếu hai bạn trẻ biết cách trân quý và gìn giữ nó thì rất tuyệt. Nhưng phần lớn các bạn khác chỉ hùa theo trào lưu của xã hội. “Bắt cặp” yêu đương hết người này đến người khác chỉ vì không muốn mất mặt với bạn bè, hay chỉ để tập sống như người lớn. Tệ hơn nữa, họ không nghĩ đến trách nhiệm với bản thân mình và với gia đình, xã hội, nên đã buông mình theo những cám dỗ của tính dục.

Đến đây, ta lại thấy có một sai lầm khác đang rất thịnh hành trong giới trẻ, chính là: lầm lẫn tình dục với tình yêu. Cả tình dục lẫn tình yêu đều là những tặng phẩm quý báu Tạo Hoá ban cho con người. Cũng giống như trong tương quan với cảm xúc, tình yêu cũng có yếu tố tính dục, nhưng chúng không phải là một. Khi yêu, người ta có xu hướng trao ban chính mình cho người khác mà hình thức cao nhất liên quan đến thể lý chính là việc quan hệ tình dục. Nhưng cả điều này cũng phải được đặt trong khuôn khổ của nó, chứ không phải muốn làm gì thì làm. Nhiều bạn trẻ nghĩ rằng phải quan hệ tình dục với nhau để chứng tỏ tình yêu và niềm tin dành cho nhau. Đây là một lối nghĩ hết sức sai lầm. Các bạn nữ thường cả tin, dễ nghe theo những lời ngon ngọt, rốt cuộc phải gánh lấy hậu quả không tốt cho bản thân, cũng chỉ vì sự lầm lẫn tai hại này. Khi xã hội chuẩn nhận tình yêu giữa hai người, họ cũng chuẩn nhận luôn tình dục giữa họ vì nó là yếu tố tất yếu đi kèm theo tình yêu. Vì thế, điều cần lưu ý là đừng bao giờ đồng hoá tình dục với tình yêu, và đừng bao giờ dùng tình dục như một yếu tố để kiểm chứng tình yêu.

Khi yêu, người ta thường có xu hướng muốn chiếm giữ người mình yêu cho riêng mình. Tình yêu luôn có sự ích kỷ trong đó. Nó không thích bị san sẻ, chia đôi. Cảm giác ghen mà ta có khi yêu chính là một biểu hiện của “sự ích kỷ” này của tình yêu. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mình chiếm giữ tình yêu, vây hãm người yêu và cố gắng nắm giữ tình yêu trong bàn tay mình bằng mọi giá. Tình yêu là một không gian mở. Nó giúp hai người cùng thăng tiến, chứ không biến ai thành nô lệ của ai. Tình yêu có được bằng sự chân thành, chứ không bằng thủ đoạn. Tình yêu muốn có sự tự nguyện chứ không thích bị gượng ép. Chính vì thế, đừng bao giờ quyết tâm giành lấy tình yêu bằng những tính toán. Còn khi đã có được nó rồi thì đừng bóp nghẹt nó bằng sự ích kỷ của mình. Người yêu là người thuộc về mình, nhưng người đó còn sống trong xã hội nữa. Đừng bắt người đó phải cắt đứt mọi tương quan, đừng kiểm soát người đó như thể tù nhân của mình. Càng cố chiếm giữ tình yêu, tình yêu sẽ càng trở nên ngột ngạt và chết đi.

Cuối cùng, cũng nên biết rằng tình yêu không phải là cái đã có thì còn mãi. Bản chất của tình yêu là bất diệt, nhưng nó cần được vun trồng, xây đắp, nâng niu. Một chút lôi cuốn ban đầu có thể là mầm mống của tình yêu, nhưng để tình yêu đó thật sự đâm rễ, lớn lên thành cây và sinh hoa trái, cả hai cần phải chăm bón cho nó. Đó có thể là sự quan tâm, hỏi han, hâm nóng kỷ niệm, hy sinh cho nhau, tạo niềm vui cho nhau… Có ai đó đã ví von rằng con đường lâu ngày không đi sẽ có cỏ dại mọc lên, hai người lâu ngày không trò chuyện sẽ trở nên xa lạ lúc nào không biết. Sự tiếp xúc, gặp gỡ, đụng chạm… tuy đơn sơ, giản dị nhưng là yếu tố không thể thiếu để vun đắp tình yêu. Đừng bao giờ ỷ lại vào khả năng chinh phục của mình, cho rằng người kia sẽ không thể sống thiếu mình, để rồi tỏ ra lạnh lùng, kiêu căng. Mọi sự sẽ qua đi, theo thời gian, tất cả đều có thể thay đổi. Tình yêu là cái tuy hiện tại có đó, nhưng chưa chắc còn vào ngày mai.

 

9.  MỘT TÌNH YÊU ĐÚNG NGHĨA

 

 

 

Một tình yêu đúng nghĩa là một tình yêu xuất phát từ con tim, chứ không phải của những phân tích toán học. Yêu ai là cảm thấy con tim mình bị lôi cuốn về phía người đó, một cách huyền nhiệm đến nỗi không thể diễn tả được bằng bất cứ ngôn từ nào. Chứ chẳng ai ngồi đó lấy các chỉ số, rồi cân đo đong đếm bằng các công thức rồi xác định yêu hay là không. Yêu là tiếng nói của con tim. Nó không cần lý do để yêu, cũng không cần đúng thời đúng buổi để yêu. Yêu là yêu, thế thôi. Chỉ đơn giản là muốn gần nhau, muốn chuyện trò với nhau, muốn được quan tâm, muốn được hỏi han, muốn người ta biết là mình đang quan tâm đến họ, hay đang giận họ… Hơn hết, đó là cảm giác thấy cần nhau đến độ không thể sống mà thiếu nhau. Nó mạnh mẽ hơn tất cả các loại tình khác. Mất đi người đó rồi, cũng hệt như mình mất đi cả sức sống vậy. Bởi vậy, nếu thật sự không thấy có một chút lôi cuốn gì, không hề cảm thấy nhớ nhung, người đó có như thế nào cũng chẳng ảnh hưởng gì đến mình… thì cần phải coi lại. Có vẻ như ta đang nhầm tưởng là mình đang yêu!

 

Một tình yêu đích thực thì không có chỗ cho những tính toán. Không có chuyện phải đáp ứng điều kiện rồi mới yêu. Càng không có chuyện yêu mà trao đổi như kiểu mua bán. Tình yêu là vô giá, không gì có thể đo lường được tình yêu. Đừng lấy nhà cửa đất đai, iphone, vàng vòng để chiếm đoạt tình yêu, vì chẳng những không thể có được nó, mà còn làm mất đi vẻ tinh tuyền vốn có của nó nữa. Tình yêu phải xuất phát từ tính vô vị lợi. Yêu ai đó thì chỉ vì chính người đó mà thôi, chứ chẳng phải vì người đó đẹp, giàu, sang, bảnh bao, phong độ, giỏi nấu nướng. Những điều này có thể là yếu tố phụ thêm, nhưng không phải là cái quyết định cho một tình yêu thuần khiết. Chỉ cần có một chút tính toán thôi, tình yêu sẽ trở nên vẩn đục, và bắt đầu nhạt phai. Khi thời gian qua đi, mọi cái bên ngoài cũng qua đi, nên nếu tình yêu đặt nền trên những điều đó thì nó cũng qua đi. Vậy nên, hãy nhớ rằng tình yêu không phải là toán học, nó không được hình thành bằng những con số hay suy lý; sự chân thành của con tim mới là liều thuốc quý của tình yêu.

 

Trong tình yêu, dù biết là cả hai thuộc về nhau, nhưng cũng cần phải dành cho nhau một sự tôn trọng. Người ta yêu để đong đầy cho nhau, khoả lấp chỗ trống cho nhau, chứ không phải biến nhau thành nô lệ. Dù là của nhau, nhưng mỗi người đều cần có một khoảng trời của riêng mình, với những tương quan gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, sở thích… Đừng vì sự ích kỷ của tình yêu mà kiềm kẹp người yêu như thế đó là sở hữu của riêng mình và không ai được phép động đến. Cũng đừng kiểm soát người kia như một em bé. Sự tôn trọng dành cho nhau cũng bao hàm một sự tin tưởng. Ta tin rằng nếu người kia yêu ta thật lòng thì tự khắc người đó sẽ về với mình, chẳng cần mình phải dùng biện pháp này, thủ đoạn nọ. Ta tin rằng người đó đủ lớn để biết trân trọng những gì đang có và biết cách hành xử sao cho tốt đẹp. Niềm tin đó xuất phát từ một sự hiểu biết rõ ràng và đúng đắn về nhau. Hai người yêu nhau thì hiểu nhau đến tận đường tơ kẽ tóc, biết rõ từng ý nguyện và khao khát của nhau. Bởi thế, họ luôn biết cách hành xử sao cho đối phương được cảm thấy hài lòng và mãn nguyện. Tình yêu của họ ngày thêm ấm nồng chính nhờ điều ấy.

 

Khi đã biết và hiểu nhau sâu đậm đến vậy, tình yêu thúc bách họ luôn biết hy sinh cho nhau, dành phần hơn cho người mình yêu mến. Trong tình yêu, không có chuyện đòi quyền lợi. Yêu là hy sinh, hy sinh hết mình mà không chờ người ta ghi nhận hay đền đáp. Không có sự sòng phẳng trong một tình yêu đúng nghĩa, rằng tôi làm cho anh thế này, anh phải trả lại tôi thế kia. Hy sinh cũng hệt như việc ta đưa củi vào lò bếp để ngọn lửa được cháy lên. Khúc củi ấy – là ta – phải chịu tiêu hao đi, chịu đau đớn, chịu thiệt thòi, nhưng ta vui lòng chấp nhận vì lợi ích chung của cả hai. Hy sinh là mất mát, nhưng lại là điều cần phải có để duy trì và thăng tiến một tình yêu. Khi người ta không biết nhường nhịn nhau nhưng luôn cố gắng giành quyền lợi cho mình, đó gọi là mua bán, chứ không phải tình yêu. Thật ra, chỉ cần ta yêu thật lòng, ta tự thấy mình phải hy sinh cho người kia mà chẳng cần ai dạy dỗ hay chỉ bảo. Đó là một lực đẩy rất tự nhiên. Đôi khi, ta lại thấy rất vui vì được hy sinh cho người đó. Cái mâu thuẫn của tình yêu là vậy. Bởi thế, nếu ta không cảm thấy mình cần phải hy sinh cho ai đó, chắc có lẽ ta chưa yêu thật lòng.

 

Một tình yêu khi đến độ trưởng thành thì cũng bao hàm trong đó một sự ý thức và trách nhiệm. Người ta không còn yêu theo kiểu lãng mạn của tuổi học trò, dù rằng những yếu tố ấy vẫn còn để làm tình yêu thêm hương vị. Tình yêu thời áo trắng phượng hồng phần lớn nghiêng về cảm xúc, có chút ngây thơ, hồn nhiên, với những trang giấy ghi vội dòng tỏ tình. Nhưng khi đi vào chiều sâu hơn, người ta cần phải biết mình đang làm gì, và mình phải có trách nhiệm thế nào với tình yêu. Hay nói cách khác, người ta biết nhìn đến tương lai, biết kiềm chế những xung đột và thúc bách nhục dục để vươn tới một viễn cảnh xa hơn. Tình yêu thời cắp sách tuy đẹp nhưng mong manh, thích thì yêu, không thì chia tay. Còn tình yêu ở tuổi trưởng thành phải là một quyết định chung cuộc, chứ không phải là chuyện của sở thích. Đã xác định yêu, thì phải cố gắng vun đắp cho tình yêu, xây dựng nó, tô vẽ cho nó mỗi ngày thêm mặn nồng thắm thiết. Tình yêu đó phải được định hướng để tiến tới một sự kết hiệp hoàn hảo và trọn vẹn trong hôn nhân nếu không có gì ngăn trở.

 

Cuối cùng, theo như ý định của Tạo Hoá, một tình yêu đúng đắn là một tình yêu giúp nhau thăng tiến. Chẳng ai yêu để rồi trở nên tệ hơn, xấu xa hơn. Một dấu chỉ cho biết ta có đang yêu hay tình yêu của ta có đúng hay không chính là: khi yêu, ta có thấy mình triển nở hơn không, thấy con người ta thanh thoát hơn không, thấy mình yêu đời hơn, phấn chấn hơn, mạnh mẽ hơn, thấy toàn bộ tiềm năng trong con người ta được bộc phát hết không. Nếu không đạt được những điều này, chắc là có một chút trục trặc nào đó mà ta cần phải xem xét hay điều chỉnh lại. Thiên Chúa dựng nên Eva chính là để giúp Adam được triển nở hơn trong sự hiện hữu của mình và ngược lại. Tình yêu thúc đẩy người ta đến với nhau, bổ túc cho nhau những gì còn khiếm khuyết, để nhờ đó mà cùng nhau lớn lên, hướng về cùng đích tuyệt đối là Thiên Chúa. Như thế, ai sống trong tình yêu cách đúng đắn thì cũng giống như cá ở trong nước, chim trên bầu trời, tha hồ vùng vẫy và thưởng ngoạn cuộc sống. Tình yêu – hôn nhân là môi trường để những ai được mời gọi sống trong đó trở nên những vị thánh giữa nhân gian.

 

10.  XÂY DỰNG TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC

 

 Tình yêu là một món quà. Nó đích thực là một món quà vì nó là cái ta nhận lãnh, chứ không phải làm ra. Sự thực là chẳng có ai có thể bằng khả năng của mình mà “làm ra” tình yêu cho riêng mình. Họ chỉ có thể cất công lên đường tìm kiếm, rồi bất chợt một lúc nào đó bắt gặp được mà thôi. Có người đã ví tình yêu như một tên trộm, lẻn vào trong mình lúc nào mình chẳng biết; cho đến khi mình giật mình tỉnh giấc thì phát hiện đã bị đánh mất trái tim. Không một lý trí nào có thể trả lời được câu hỏi là tại sao mình yêu người này mà không phải yêu người khác, tại sao mình lại nhớ và mong chờ người này chứ không phải người nọ, tại sao xuất hiện trong tâm trí mình là người này chứ không phải người kia. Tình yêu là thế. Nó hành động lén lút và tấn công bất ngờ. Khi trái tim đã bị đánh cắp rồi, thì ta chỉ có thể mỉm cười và thừa nhận mình yếu đuối. Nhưng chẳng khi nào ta lại vui khi mình bị mất mát như vậy cả, vì “đánh cắp trái tim” có nghĩa là đổ đầy vào đó thần dược của Thiên Đàng. Nhưng tình yêu không phải là cái một khi đã có là tồn tại mãi. Nó cần được dựng xây bởi cả hai qua từng giây từng phút của cuộc đời. Một tình yêu, dù có đậm sâu mấy, nhưng không được để ý tới, sẽ dần trở nên lạnh nhạt, tan biến, “vỗ cánh bay đi”.

Cần phải biết nâng niu tình yêu, vì như đã nói, nó không phải là cái lãnh nhận một lần cho tất cả. Tình yêu không phải là cái trơ trơ năm này qua tháng khác. Tình yêu hệt như một em bé dễ thương, nằm ngọ ngậy, khóc oe oe, đòi mẹ chăm sóc. Tình yêu hệt như cây non cần được chăm bón, tưới nước, cắt tỉa. Tình yêu cũng như chiếc bình ngọc thạch quý giá, cần được người khác nâng niu, chìu chuộng và thưởng thức nhẹ nhàng. Không chăm sóc cho tình yêu, không nâng niu tình yêu, nó sẽ lụi tàn đi, héo úa đi, chết đi ngay lập tức. Vậy nên, khi đã yêu, ta hãy chăm lo cho tình yêu bằng những lời nói dịu ngọt, bằng sự nâng đỡ chân thành, bằng những quan tâm sâu sắc. Những bữa ăn thân mật, những cánh hoa bất ngờ, những nụ cười nhẹ, cái nắm tay, một nụ hôn truyền sức sống… tất cả đều là những “lương thực” rất tốt để nuôi dưỡng tình yêu.

Trong tình yêu, rất cần sự chung thuỷ và một sự trong sáng dành cho nhau. Một trong những nét tuyệt vời của tình yêu chính là “sự ích kỷ” của nó. Nó không thích bị chia sẻ. Nó muốn một sự trọn vẹn. Chỉ yêu một nửa thì không phải là yêu. Trái tim sẽ không thể chịu đựng nỗi khi bị chia cắt làm hai, làm ba hay làm nhiều phần. Chỉ khi nào người ta trao dâng cho nhau một trái tim nguyên vẹn, trái tim ấy mới giúp cả hai thăng tiến và hưởng nếm hương vị ngọt ngào của tình yêu. Khi đã yêu, ta muốn mình trở thành “nhất” trong mắt người yêu và người yêu của mình cũng có một ước muốn như vậy. Một con tim không thể cùng một lúc trao cho nhiều người được. Khi trao con tim mình cho ai, ta trao cho người ấy trọn vẹn con người mình, không để sót lại điều gì cả. Thế nhưng, có một nghịch lý thường tồn tại trong ta là ta đòi hỏi người yêu mình phải chung thủy với mình, còn mình thì lại buông thả, yêu vô tội vạ. Ta cảm thấy đau khi bị người mình yêu phản bội, nhưng ta chẳng hề nghĩ đến cảm xúc của người khác thì mình phản bội người ta. Ta cao ngạo, cho rằng mình quá tuyệt vời đến độ không thể chỉ dành cho một người, nhưng khi người kia cũng có thái độ như vậy thì ta không chấp nhận được. Ta lồng lộn lên với bao cảm giác tức tối. Để tình yêu được triển nở, ta không được phép chia đôi con tim, không được phép thả lỏng mình chiều theo những cảm xúc thấp hèn. Đó là quy luật mà ta không thể phá bỏ được. Nó đòi hỏi ta phải hy sinh rất nhiều.

Để tình yêu tồn tại, cũng cần một sự tôn trọng lẫn nhau. Dù tình yêu đòi sự độc nhất, nhưng nó cũng không chấp nhận một sự bó buộc hay kiềm kẹp nào. Một tình yêu sẽ chết khi người ta bóp nghẽn nó trong lòng bàn tay, chứ không để cho nó tự do tung tăng bay nhảy. Một tình yêu đích thực thì không làm cho người ta mất tự do, bị tù túng, nhưng làm cho người ta thấy mình được triển nở và thành toàn một cách thật sung mãn. Hãy cố gắng vun đắp và gìn giữ tình yêu, nhưng hãy làm điều đó bằng sự chân thành, bằng con tim nồng ấm, chứ đừng bằng những thủ đoạn và những toan tính đầy ích kỷ và muốn chiếm hữu của ta. Khi một tình yêu được trao ban, nó sẽ tự tìm đường để bắt gặp một tình yêu đồng điệu khác. Ta không cần phải vẽ đường cho nó, không cần lèo lái nó theo ý muốn chủ quan của ta. Lý do là vì lý trí không thể bắt trái tim yêu hay không yêu ai được. Yêu một người, hiển nhiên là mong muốn người ấy thuộc về mình, nhưng không phải là buộc người ấy phải cắt đứt tất cả mọi tương quan và sở thích của người ấy. Yêu một người thì cũng yêu luôn tất cả những thế mạnh và điểm yếu của người ấy. Yêu một người là cùng xây đắp với nhau con đường chung để hai người cùng bước. Yêu một người tuyệt nhiên không phải là đưa người ấy vào trong vòng kiểm soát của mình. Làm như thế, tình yêu sẽ mất đi khoảng không để vùng vẫy. Khi ấy, hoặc là nó sẽ tuột khỏi bàn tay ta, hoặc là nó sẽ vỡ vụn.

Để được như thế, bản thân mỗi bên phải thay đổi chính mình. Phải bỏ đi cái tôi kiêu hãnh. Phải biết hạ mình khiêm tốn. Phải dành cho nhau những hy sinh. Phải biết nghĩ đến người mình yêu mà phấn đấu cải thiện bản thân, biến mình trở nên tốt hơn, tuyệt vời hơn để xứng đáng với tình yêu ấy. Yêu là một lời mời gọi bản thân bước vào một thế giới mới, nơi đó, con người cũ xấu xí và bất xứng của mình phải bị bỏ lại đàng sau. Dĩ nhiên, ta không khoác lên mình một bộ mặt tốt đẹp giả tạo. Ta cũng không thể biến thành một con người hoàn toàn khác. Ta cũng chẳng thể bỏ được những thói hư tật xấu của mình trong một thoáng chốc. Nhưng để tình yêu của mình được lớn lên và đơn hoa kết trái, ta phải biết sửa chữa những gì “chưa được” nơi bản thân, để có thể cùng người mình yêu tiến đến một sự hoà hợp hoàn hảo trong cuộc sống chung của hai người.

 

11. NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI LẦM LIÊN QUAN ĐẾN HÔN NHÂN

 

Vì hôn nhân rất quan trọng nên ngoài dân luật và giáo luật, hầu như trong tất cả các nền văn hoá ở mỗi thời đại, đều có những tập tục hướng dẫn và chi phối nó. Có những quan niệm trong dân gian, nhờ đúc kết từ kinh nghiệm của các bậc cao nhân, rất giúp ích cho việc chọn lựa người bạn đời, được thể hiện qua các câu tục ngữ, ca dao. Nhưng cũng có những suy nghĩ hơi lạc hậu, nếu không muốn nói là trái ngược với giáo huấn của Giáo Hội. Dĩ nhiên, những suy nghĩ ấy chịu sự chi phối của nền tư tưởng thời đó. Nó có thể được chấp nhận vào thời điểm đó. Nhưng dưới cái nhìn của đức tin, ta cần phải điều chỉnh lại để có một quan điểm đúng đắn hơn liên quan đến hôn nhân và gia đình. Sau đây là một vài ví dụ điển hình.

1.   Lựa chọn bằng những tiêu chí bên ngoài

Người ta thường lựa chọn người bạn đời dựa trên sắc đẹp, tiền tài, danh vọng… Có một người yêu sắc nước hương trời, một người chồng nhà cao cửa rộng… rõ ràng là một niềm kiêu hãnh. Người ta cũng khuyên là hãy lấy một người chồng giàu để có đời sống sung túc, lấy một người vợ đảm đang, biết nấu nướng để cô ta chăm lo cho gia đình… Những điều này là cần thiết, nhưng không phải là yếu tố cốt yếu để làm nên một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Nếu chỉ yêu vì sắc đẹp hay vì tiền tài thì chuyện gì sẽ xảy ra khi người đó già đi hay khi họ gặp phải những thất bại? Lấy người nào có thể đảm bảo được cho mình có chỗ ăn ngủ và tiêu xài vẫn thiết thực hơn một người chẳng có gì trong tay. Suy nghĩ này dường như quá ích kỷ và nặng về vật chất.

Vì hôn nhân được đặt nền trên tình yêu, mà tình yêu lại xuất phát từ con tim, nên để có một cuộc hôn nhân bền vững, cần phải lưu tâm trước hết đến việc mình có yêu người đó không. Dĩ nhiên, chỉ yêu không thôi thì chưa đủ. Cái thời “một túp lều tranh hai trái tim vàng” đã qua đi rồi. “Có thực mới vực được đạo”. Tình yêu phải thúc đẩy hai người đến chỗ đồng cam cộng khổ, cố gắng làm việc để đảm bảo nhu cầu vật chất và tinh thần cho cả hai. Như thế, cũng hệt như xây một căn nhà, người ta phải bắt đầu từ nền móng vững chắc trước rồi sau đó mới đến những phần phía trên. Nền móng vững chắc mà hôn nhân cần phải có chính là tình yêu. Không có nó thì dù người ta có sống trong cung vàng điện ngọc, sơn son thiếp vàng thì cũng thấy trống rỗng và cô đơn đến tột cùng.

2. Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó

Người ta quan niệm như vậy xuất phát từ ba lý do chính: thứ nhất, con cái là sở hữu của cha mẹ nên phải nghe theo sự sắp đặt của cha mẹ, nếu không sẽ bị coi là người bất hiếu; thứ hai, cha mẹ là người có nhiều kinh nghiệm hơn nên sự sắp đặt của cha mẹ sẽ được cho là chuẩn xác hơn và khôn ngoan hơn; thứ ba, việc sắp xếp hôn nhân cho con là trách nhiệm của cha mẹ. Quan niệm này thể hiện một sự vâng lời tuyệt đối của con cái đối với cha mẹ liên quan đến đời sống hôn nhân.

Dù rằng cha mẹ là người từng trải, có nhiều kinh nghiệm trong chuyện tình yêu và hôn nhân hơn con cái, nhưng chuyện bắt con cái phải nghe theo sự sắp đặt của mình là điều không nên. Nó mâu thuẫn với yếu tố “tự do ưng thuận”, một trong những điều cốt yếu làm nên hôn nhân Kitô giáo, được giáo luật nói đến ở điều 1103. Sẽ không có gì bàn cãi nếu như người con cũng có cùng một ước nguyện giống cha mẹ. Nhưng nếu hai bên có ý muốn khác nhau, thì cha mẹ có thể là người tư vấn cho con, khuyên can con, dành cho con những chỉ bảo, nhưng tuyệt đối không thể là người quyết định hôn nhân thay cho con.

Cha mẹ là người sinh ra con cái, có bổn phận giáo dục và dạy dỗ con cái, nhưng con cái không phải là một sở hữu của cha mẹ, để rồi phải nghe theo mọi sự sắp đặt chủ quan của cha mẹ. Khi con cái đã đến tuổi trưởng thành, chúng có quyền đưa ra suy nghĩ, chính kiến của mình, có quyền quyết định cho tương lai của mình. Thiết nghĩ, các bậc làm cha mẹ không nên giành quyền quyết định của con trong vấn đề liên quan đến hôn nhân của chúng. Đừng áp đặt tiêu chuẩn của mình lên tiêu chuẩn của con. Hôn nhân là chuyện cả đời của con cái, ngoài việc khuyên can và góp ý, hãy để chúng tự quyết định hạnh phúc của riêng mình miễn là hôn nhân đó không trái với luân thường đạo lý, thuần phong mỹ tục và các quy định của luật pháp.

3. Môn đăng hộ đối

Lại một vấn đề nữa liên quan đến chuyện “sắp xếp” của cha mẹ. Cha mẹ thường muốn con cái mình kết hôn với người có địa vị ít là phải ngang tầm với mình để được “môn đăng hộ đối”, nở mày nở mặt với hàng xóng láng giềng. Ước nguyện “môn đăng hộ đối” này đôi khi là một loại biến tướng của kiểu hôn nhân vì vật chất, vì cái mã bên ngoài. Nhiều người, đặc biệt là các bậc cha mẹ, không muốn con cái mình kết hôn với người nghèo hơn, vì sợ mất mặt, sợ bị người ta chê cười, sợ bị hạ thấp danh dự. Rốt cuộc, hôn nhân vô tình trở thành một kiểu trang hoàng cho thế giá của gia tộc.

Mục đích của hôn nhân Kitô giáo là hướng đến hạnh phúc của đôi lứa, chứ không phải vì danh dự của bất cứ ai. Không nên vì những chuyện bên ngoài mà đánh mất đi hạnh phúc của đôi bạn trẻ yêu nhau thật lòng. Bất cứ người cha người mẹ nào cũng muốn con cái mình hạnh phúc, có gia đình đầm ấm, yêu thương nhau. Vậy thì đừng lấy tiêu chí phải chọn người “môn đăng hộ đối” mới cho cưới, mới ưng thuận chuyện làm dâu làm rễ. Là con cái mình dựng vợ lấy chồng chứ không phải mình, nên không được phép lấy hạnh phúc cả đời của con làm bình phong cho danh dự của mình.

4. Phải có con trai

Tiếc là ngày nay, nhiều người, đặc biệt là bố mẹ chồng, vẫn thường đòi hỏi con dâu phải sinh cho được con trai để nối dõi tông đường. Họ thường trách con dâu là “không biết đẻ”, khi chỉ sinh ra một “bầy con gái”. Lối suy nghĩ này vừa cổ hũ vừa nói lên sự thiếu hiểu biết.

Con cái là của Trời cho, là do Chúa ban. Nhiều người mong ước có con nhưng lại không được. Vậy nên, cũng đừng kén cá chọn canh, đừng nhất quyết là “phải sinh con trai mới được”. Con trai hay con gái đều là con, là thành quả của một tình yêu và sự kết hợp giữa hai con người. Bởi thế, chúng đáng quý như nhau và có phẩm giá như nhau. Phải biết rằng điều quan trọng không phải là con gái hay con trai, nhưng là làm sao giáo dục chúng trở thành đứa con có hiếu, ngoan ngoãn, lớn lên trở thành một người có ích cho xã hội.

5. Con dâu là mua về

Xuất phát từ tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, mà nhiều người vẫn cho rằng “con dâu là mua về”. Cùng bước vào đời sống hôn nhân, nhưng lại có một sự khác biệt rất lớn giữa “con rể” và “con dâu”.

Dưới cái nhìn đức tin, ta phải chân nhận rằng hôn nhân không phải là chuyện mua bán. Người đàn ông và đàn bà đều có cùng một phẩm giá như nhau. Cả hai đều phải có trách nhiệm chăm lo cho gia đình mình và gia đình của hai bên. Con dâu là một thành viên mới của gia đình, chứ không phải là cái gì đó được mua về để mình có quyền sai khiến. Trong hôn nhân, người nam và người nữ bình đẳng với nhau, cùng ưng thuận với nhau để tạo lập một gia đình mới. Đó là kết quả của một sự tự nguyện trao hiến và nhận lãnh. Gia đình nào mà con dâu được đối xử tử tế như con cái trong nhà, quả thật là một phúc lành lớn lao.

 

 

12. NGƯỜI NỮ

 

Ngày nay, người nữ đã chiếm được một vị thế xứng đáng cho mình, nhưng ít ai biết rằng, để có được sự thừa nhận ấy của xã hội, họ đã phải trải qua rất nhiều thăng trầm, với biết bao mồ hôi, nước mắt và có khi là giá máu nữa. Được mệnh danh là phái yếu, phụ nữ là hiện thân của cái đẹp. Họ mảnh mai, yếu mềm và thường hành xử rất cảm tính. Đây là những đặc điểm làm nên vẻ đẹp của họ, nhưng cũng vì nó mà người nữ thường gặp nhiều thua thiệt trong cuộc sống. Đọc lại dòng lịch sử, đặc biệt từ thời phong kiến, ta thấy người nữ thường phải giữ nhiều kỷ cương luật lệ, các chuẩn mực đạo đức. Người ta thường không để người nữ đảm đương những việc lớn vì sợ sự cảm tính của họ đã làm hỏng chuyện. Có những xã hội và văn hoá còn xếp người nữ ở cấp độ rất thấp, thậm chí không đáng là “con người”. Trong khi đàn ông từ xưa đến nay vẫn luôn được coi trọng, số phận của người nữ phải trải qua nhiều sóng gió truân chuyên.

 

Thật ra, từ những vết tích do các nhà khảo cổ học tìm thấy, được cho là có niên đại khoảng 50.000 TCN, người ta nghĩ đến một giai đoạn nữ quyền. Người phụ nữ được xem là nguồn cội của sự sống, vì chính họ đã sinh ra những con người mới. Tất cả những gì gắn liền với sự phong nhiêu được gán cho người phụ nữ. Ngôn ngữ tiếng Việt cũng gán cho giống cái một ý nghĩa lớn lao liên quan đến sự sinh sản: sông cái, ngón cái, đũa cái… Tất cả những gì vĩ đại, cũng được dành cho người phụ nữ, vì người ta cho rằng nếu không có người nữ thì cũng không có sự sống. Có lẽ từ đây mới nảy sinh tục thờ Nữ Thần. Ta cũng hay gọi trái đất là Mẹ Đất (chứ không phải cha), vì trái đất (mặt đất) đã sinh ra những giống loài thảo mộc, những mầm sống tươi tốt. Như thế, vào thời kỳ đồ đá cũ, xã hội được đặc trưng bởi chế độ mẫu hệ, trong đó, vai trò của người phụ nữ được đề cao.

 

Sang đến thời đồ đá mới (khoảng năm 9750 TCN), con người bắt đầu canh tác đất đai và săn bắt thú để kiếm sống. Lúc này, người ta lại quan tâm nhiều hơn đến người đàn ông vì họ có sức khoẻ thể lý để lao động. Hơn nữa, con người dần dần phát hiện ra rằng chỉ khi nào có con đực thì con cái mới có thể sinh con. Con đực lại có khả năng giao phối với tất cả các con cái khác, chứ không nhất thiết lệ thuộc vào một con cái nào. Trong khi một con cái phải cần thời gian để sinh sản thì con đực lại có thể giao phối với con cái khác. Người ta bắt đầu đánh giá cao đàn ông vì cho rằng họ không những có khả năng góp phần vào việc sinh sản mà còn có tiềm năng đóng góp cho việc sinh sản ấy cao hơn người phụ nữ. Từ đó, dù không chối bỏ khả năng trực tiếp “tạo ra” sự sống của người nữ, nhưng người nam lại giành được vị thế quan trọng hơn. Người nữ chỉ đảm nhận một vài bổn phận là ở nhà sinh con, chăm sóc con cái, làm việc nhà, hái lượm… Những việc trọng đại khác như săn bắt, chiến đấu, lãnh đạo được giao cho đàn ông.

 

Từ đây, số phận của người phụ nữ bắt đầu gặp sóng gió. Do chân yếu tay mềm, hành xử cảm tính, người phụ nữ bị xem như là một món hàng. Họ bị mua bán, làm trò tiêu khiển, cũng như thể thoả mãn nhục dục cho những đàn ông giàu có. Trong những nền văn hoá đa thê, họ phải chung chia chồng mình với những người đàn bà khác. Nhiều phụ nữ bị bán vào hoàng cung, làm phi tần, phục vụ vua, tuy có chút danh phận nhưng cả đời chẳng bao giờ được chồng đoái hoài đến. Ở nơi khác, chuyện cưới xin của họ cũng do người lớn sắp đặt, cưới một người phụ nữ cũng giống như mua một nô lệ, phải trả một món tiền. Ở Hy Lạp, người đàn bà hoàn toàn không có quyền hành gì trên chính bản thân mình. Họ lệ thuộc vào gia đình hoặc vào chồng. Họ không được ăn học và phải sống ở những nơi thấp hèn dành riêng cho mình. Với sự ảnh hưởng của nền triết học quá coi trọng lý trí, người phụ nữ, do thường hành xử theo cảm tính, bị cho là không có lý trí và vì thế, không phải là con người đúng nghĩa… Với cách hành xử như thế, ta thấy ngay một thái độ trọng nam khinh nữ. Sinh một đứa con trai là có được phú quý. Sinh một người còn gái là mang một của nợ vào thân.

 

Liên quan đến vấn đề tính dục, thời trước, người ta cho rằng sự sống hệ ở người đàn ông, người đàn bà chỉ “lưu giữ” sự sống trong cơ thể mình, rồi đến lúc thuận tiện thì sinh con ra mà thôi. Nhưng vào khoảng thế kỷ 17 trở đi, khi các ngành khoa học phát triển, đặc biệt là sinh học, người ta mới biết rằng để có thể thụ tinh tạo nên một mầm sống mới, phải có sự kết hợp giữa tinh trùng của người nam và trứng của người nữ. Phát hiện này cho thấy người nữ không hề giữ vai trò thụ động trong việc sinh sản. Cơ thể người nữ không phải là “lò ấp em bé” do đàn ông đưa vào, nhưng thật sự là một yếu tố đóng góp vào sự hình thành và phát triển của một mầm sống. Từ những năm 1900, vai trò của người nữ, nhờ những phát kiến khoa học giúp đỡ, đã được cải thiện khá nhiều. Họ bắt đầu đấu tranh để có được sự bình đẳng giới, để khẳng định vị trí và vai trò của mình trong xã hội, để giành cho mình quyền và nghĩa vụ của một con người. Cho đến nay, người nữ đã bắt đầu giữ những vị trí cốt yếu trong bộ máy lãnh đạo. Họ không còn bị coi thường và cũng không còn sự phân biệt đối xử nào với họ.

 

Khác với những định kiến mà xã hội dành cho phụ nữ, Giáo Hội Công Giáo, ngay từ buổi sơ khai, đã luôn dành cho phụ nữ một chỗ đứng quan trọng. Trong Giáo Hội, không có sự phân biệt giữa người nam và người nữ về phẩm giá, chỉ có sự khác biệt liên quan đến chức năng. Dưới ánh sáng của Tin Mừng, tất cả mọi người, không phân biệt giới tính, đều là con cái Thiên Chúa. Chính Con Thiên Chúa đã chấp nhận làm người, được sinh hạ bởi một người phụ nữ và đã nâng người phụ nữ ấy lên làm mẫu mực cho tất cả những ai có lòng tin. Ơn cứu độ mà Đức Giêsu mang đến được tặng ban cho tất cả mọi người, không loại trừ một ai. Trong Giáo Hội cũng đã có rất nhiều các vị thánh nữ được tuyên phong, nêu gương sáng đời sống đức tin cho mọi người.

 

Liên quan đến đời sống hôn nhân và gia đình, ta đã thấy sự ưu ái của Thiên Chúa dành cho người nữ trong trình thuật sách Sáng Thế. Hình ảnh “được dựng nên từ xương sườn của Adam” muốn nói đến vị trí quan trọng và không thể thiếu của người nữ đối với người đàn ông. Chỉ khi có người đàn bà xuất hiện, công trình tạo dựng của Thiên Chúa mới đi đến chỗ hoàn tất. Người nam và người nữ nhận lãnh sứ mạng “kết hợp với nhau” để sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất và thống trị mọi loài. Không có chuyện người này thống trị người kia, cũng không có ai dưới quyền của ai. Tất cả đều bình đẳng, bổ trợ cho nhau, giúp nhau hoàn thành sứ mạng của mình. Người nam và người nữ có những nét khác biệt, nhưng không đối nghịch nhau. Họ được dựng nên là để cho nhau, kiện toàn cho nhau.

 

Bởi thế, là người Công Giáo, chúng ta cần phải có một cái nhìn đúng đắn liên quan đến người nữ. Cần phải dành cho người nữ một vị trí xứng hợp để họ có thể đóng góp khả năng và trí lực của mình. Hơn hết, cần phải nhìn về họ với một phẩm giá cao quý như Thiên Chúa đã đặt định khi tạo dựng nên họ.

 

 

 

13. ĐẶC TÍNH HÔN NHÂN KITÔ GIÁO

 

Hôn nhân là một vấn đề quan trọng, không chỉ đối với bản thân hai người kết hôn, nhưng còn đối với gia đình, xã hội và Giáo Hội. Bởi thế, trước khi tiến đến hôn nhân, đôi bạn trẻ được mời gọi phải tìm hiểu nhau thật kỹ, phải có một thái độ trưởng thành về tình yêu, phải có một hiểu biết cặn kẽ và chắc chắn về hôn nhân để thực hiện một quyết định chung cuộc cho cuộc đời mình. Vì hôn nhân rất quan trọng và còn dính líu đến gia đình hai bên và con cái, nên không thể xem nó như trò đùa, thích thì cưới, không thích thì chia tay. Hôn nhân là nền tảng để làm nên gia đình, gia đình lại là nền tảng của xã hội; nên gia đình càng vững bền, hạnh phúc, xã hội càng phồn thịnh phát triển. Cũng tương tự như vậy trong tương quan giữa hôn nhân, gia đình và Giáo Hội. Xuất phát từ ý muốn của Thiên Chúa được mặc khải trong Kinh Thánh và qua tự nhiên, điều 1056 của bộ Giáo Luật 1983 có nói đến hai đặc tính của Hôn Nhân Kitô giáo là độc nhất và bất khả phân ly.

 

Khi nói đến tính độc nhất, ta hiểu đó là kiểu hôn nhân một vợ một chồng. Trong lịch sử nhân loại cũng như trong nhiều nền văn hoá và tôn giáo, thậm chí thời nay, vẫn còn tồn tại kiểu hôn nhân đa thê, hoặc đa phu: một người có thể cùng một lúc có nhiều vợ hoặc nhiều chồng. Họ chấp nhận chung chia người bạn đời của mình với người khác. Có nhiều lý do khác nhau để giải thích hiện tượng này. Đó có là thể di tích còn sót lại của một tập tục cổ xưa, hoặc có khi là do tình trạng thiếu người nam hoặc thiếu người nữ, hoặc vẫn còn lối nghĩ trọng nam khinh nữ, trọng nữ khinh nam… Nhiều nơi vẫn chấp nhận kiểu hôn nhân này miễn là người chồng hoặc người trụ cột trong gia đình có thể chu cấp đầy đủ về vật chất cho người bạn đời và cho con cái.

 

Giáo Hội Công Giáo không chấp nhận kiểu hôn nhân này. Tự bản chất, khi yêu ai, ta muốn mình chỉ thuộc trọn về người đó và người đó thuộc trọn về mình. Tình yêu là một sự trao hiến hoàn toàn, chứ không phải một phần. Nó loại trừ tất cả mọi sự san sẻ. Hôn nhân, vì đặt nền trên tình yêu trao hiến hoàn toàn ấy, nên chỉ có thể trở nên trọn vẹn khi không có người thứ ba nào can thiệp vào. Chính từ sự kết hợp hoàn hảo và trọn vẹn giữa hai người này mà làm nảy sinh một mầm sống mới, như hoa quả của nhành cây ân ái. Ngoài ra, hôn nhân là kết quả của tình yêu. Người ta kết hôn để mưu cầu hạnh phúc chứ không chỉ đơn thuần là sống chung hay để có cuộc sống sung túc về vật chất. Hơn nữa, xét về phẩm giá, người nam và người nữ tuy khác nhau nhưng ngang bằng nhau, tất cả đều là vô giá và hạnh phúc của mỗi người đều phải được trân quý như nhau. Một người nam tương xứng với một người nữ, làm nên một cuộc hôn nhân, rồi sinh ra con cái, đó là một tổ ấm hạnh phúc nhất. Có người từng nói, hôn nhân khác với bạn bè ở chỗ: bạn bè thì càng đông càng vui, còn hôn nhân thì ngược lại.

 

Cứ sự thường, khi kết lập giao ước hôn phối, ai cũng mong muốn nó được kéo dài mãi, hai bên luôn mặn nồng chung thuỷ với nhau đến khi nắm tay xuống suối vàng. Tuy nhiên, cuộc sống luôn có những điều không hay xảy đến. Hôn nhân vốn dĩ được đặt nền trên tình yêu, nhưng tình yêu không phải lúc nào cũng màu hồng. Có thể xảy ra những xung đột, có khi tình yêu không còn, có khi hai bên không thể tiếp tục chung chia cuộc sống. Dân luật giải quyết trường hợp này bằng cách cho phép hai người ly dị, cắt đứt sợi dây hôn phối, hai bên không còn quyền và nghĩa vụ gì với nhau, họ được phép kết giao một hôn nhân với người khác.

 

Khác với luật đời, luật Giáo Hội, chiếu theo mệnh lệnh của Thiên Chúa, không cho phép hai người đã kết hôn thành sự và hoàn hợp ly dị. Nghĩa là, khi hai người trưởng thành, không có ngăn trở gì, tự do và ý thức xin Giáo Hội chuẩn nhận cho tình yêu của mình, sau đó, họ đã có hành vi vợ chồng với nhau (gọi là hoàn hợp) thì hôn nhân đó là bất khả phân ly. Khi xảy ra trường hợp tệ nhất, họ cũng chỉ có thể ly thân, nghĩa là tạm thời không sống chung một mái nhà, chứ không thể làm cho hôn nhân này mất hiệu lực, để rồi kết hôn với người khác. Khi đưa ra quy định này, Giáo Hội không có ý “làm khó” giáo dân, cũng không tự biến mình thành “kẻ độc đoán”, nhưng Giáo Hội chỉ tuân theo lệnh truyền của Thiên Chúa từ thuở tạo thiên lập địa và được Đức Giêsu khẳng định: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10,6-9).

 

Thật ra, không chỉ đối với hôn nhân Kitô giáo, nghĩa là hôn nhân mang tính bí tích, ngay cả những hôn nhân tự nhiên của những người chưa được rửa tội, Giáo Hội cũng xác nhận tính “bất khả phân ly” của nó. Như thế, tính bất khả phân ly của hôn nhân không phải là một áp đặt của Giáo Hội, nhưng là cái xuất phát từ tự nhiên mà Giáo Hội công nhận. Khi người ta cam kết để tạo lập hôn nhân, đó là một cam kết vĩnh viễn và trọn đời, chứ không phải một phần hay tạm thời. Chỉ có cái chết mới có thể xoá đi được cam kết này. Vì thế, Giáo Hội cũng không cho phép con cái mình kết hôn với người đang bị ràng buộc bởi dây hôn phối với người khác, dù hôn phối ấy không mang tính bí tích.

 

Đôi khi ta vẫn thấy có một số trường hợp hai người đã kết hôn, nhưng sau đó lại chia tay và kết lập giao ước mới. Đó không phải là vì Giáo Hội cho phép ly hôn, nhưng vì hôn nhân đó bị mắc những ngăn trở nào đó, khiến nó đã không thể thành sự ngay từ lúc đầu. Hoặc đôi khi, vì lợi ích đức tin của tín hữu, Giáo Hội chuẩn chước cho một số trường hợp ngoại lệ theo những điều kiện quy định để hưởng đặc ân Phaolô hoặc đặc ân Phêrô. Tuy nhiên, để cứu xét những trường hợp này, Giáo Hội phải rất cẩn trọng, để không đi ngược lại với giáo huấn của Đức Giêsu, mà vẫn có thể giúp cho các bên sống đức tin của mình cách tốt đẹp nhất.

 

Trước khi đi đến hôn nhân, các bạn trẻ phải được dạy cho biết về hai đặc tính này, để khi đã tự nguyện cam kết rồi thì cố gắng vun đắp cho hôn nhân của mình, chứ không tìm cách thoái lui, tìm cách giải thoát để sống theo tự do của mình.

 

14. Ý NGHĨA HÔN NHÂN KITÔ GIÁO

 

Tất cả mọi cuộc hôn nhân đúng nghĩa đều phải xuất phát từ tình yêu dành cho nhau. Khi một người nam và một người nữ yêu thương nhau, họ tự thấy có một lực đẩy nào đó, muốn họ tiến lại gần nhau hơn, kết lập với nhau một giao ước, làm nên một gia đình riêng để chung hưởng hạnh phúc với nhau. Đây là một huyền nhiệm mà Tạo Hoá chỉ dành cho con người. Từ hai người xa lạ hoàn toàn, họ bỗng trở nên thấy không thể sống thiếu nhau. Họ sẵn sàng hy sinh và từ bỏ tất cả để kết hiệp với nhau. Chuyện kết hôn trở nên thường hằng đến nỗi, nếu không vì một lý tưởng cao đẹp hay vì một lý do bất khả kháng nào đó, người nào không biết yêu, không kết hôn với ai dường như bị xem là “có vấn đề”. Thậm chí, các bậc cha mẹ cũng thấy “sốt ruột” khi con mình đã lớn mà không có người yêu, không hẹn họ với ai, không nghĩ đến chuyện lập gia đình.

 

Đã đành tình yêu là nền tảng cho hôn nhân, nhưng những người Kitô hữu được mời gọi để tìm hiểu thêm về nguồn gốc của tình yêu mà họ đã nhận lãnh. Hẳn nhiên, đó không phải là một cảm xúc nảy sinh từ chính bản thân họ như thể chính họ tự mình làm phát sinh tình yêu dành cho ai đó. Con người không phải là nguồn cội của tình yêu. Tình yêu trong hôn nhân nói chung và hôn nhân Kitô giáo nói riêng có nguồn gốc từ chính Đấng là Tình Yêu. Chính Tình Yêu ấy đã thổi bùng lên những tình yêu khác trên dương gian, trong đó có tình yêu giữa nam và nữ. Như thế, tình yêu giữa hai người muốn kết lập mối dây hôn phối là phản ánh tình yêu của Thiên Chúa, một tình yêu luôn tự hiến cho đi cách hoàn toàn, vì lợi ích của người mình yêu.

 

Triết học Hy Lạp có phân chia thành ba loại tình yêu. Tình yêu ở cấp thấp nhất được gọi là eros, có ý nói đến tình yêu theo kiểu tính dục, khi người này muốn sở hữu người kia như là cái của riêng mình. Tình yêu ở cấp cao hơn là filia, một kiểu tình yêu đặt nền trên tương quan tự do, ngang hàng, hoà nhã chứ không có ý chiếm hữu. Tình yêu ở cấp độ cao nhất gọi là agape, một tình yêu trao hiến hoàn toàn chính mình cho người khác. Ba loại tình yêu này dường như cũng muốn nói đến ba cấp độ hoàn thiện của tình yêu. Cả ba đều tồn tại, chứ không loại trừ nhau, nhưng lý tưởng là đạt đến cấp agape, là kiểu mẫu tình yêu trong Ba Ngôi Thiên Chúa và tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại.

 

Như thế, kiểu mẫu cho bất cứ tình yêu nào trên trái đất này, cách cụ thể là cho tình yêu hôn nhân, là chính Thiên Chúa. Ba Ngôi Thiên Chúa luôn tự trao hiến cho nhau cách trọn vẹn. Chính Ngôi Hai – Đức Giêsu Kitô đã cho chúng ta thấy điều đó nơi cuộc tế lễ trên Đồi Golgotha năm xưa. Cái chết của Đức Giêsu mang ý nghĩa cứu độ, nghĩa là nhờ cái chết đó mà muôn loài thụ tạo được cứu thoát khỏi sự chết. Nhưng trước hết, ta phải nhìn thấy nơi đó một sự tự hiến của Đức Giêsu dành cho Chúa Cha. Ngài đã không từ chối Cha điều gì, đã trao dâng tất cả cho Cha, trọn vẹn thân xác và linh hồn. Tự bản thân cái chết thì chẳng có ý nghĩa gì, nhưng cái chết của Ngôi Hai Thiên Chúa trong hình hài Giêsu, được đón nhận một cách tự nguyện và được cử hành như một hy lễ thì có sức làm lan toả ơn sủng từ Trời cho muôn loài.

 

Chính Chúa Cha cũng đã trao ban chính mình cho Chúa Con. Cũng như Chúa Con là Đấng “tuy là Thiên Chúa nhưng không nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa” (x. Pl 2,6), Chúa Cha cũng đã không dành riêng vinh quanh Thiên Chúa cho mình. Từ của lễ mà Con dâng lên, là sự hy sinh vì tình yêu của mình, Chúa Cha đã “siêu tôn Người và tặng ban cho Người một danh hiệu, trỗi vượt trên muôn ngàn danh hiệu, để từ nay, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ. Và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng Đức Giêsu Kito là Chúa” (x. Pl 2,8-11). Có thể nói, giữa Cha và Con luôn có một sự trao hiến trọn vẹn chính mình và Thánh Thần chính là nhiệm xuất từ sự trao hiến ấy.

 

Không chỉ trong nội tại Ba Ngôi, Thiên Chúa còn tỏ lộ tình yêu của mình dành cho con người. Ta thấy rất nhiều dẫn chứng trong Kinh Thánh nói về việc Thiên Chúa luôn ngỏ lời với con người và mời gọi con người đi vào trong sự hiệp thông với mình. Tình yêu bắt đầu từ sự gặp gỡ, sau đó thiết lập với nhau một tương quan, mặc khải chính mình cho nhau, thiết lập với nhau giao ước. Giao ước ấy như một chứng thực cho tình cảm mà cả hai dành cho nhau. Dù con người không biết bao nhiêu lần bội ước, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn trung thành với những gì mình cam kết từ xa xưa. Đỉnh cao của tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại được nhìn thấy nơi cái chết tự hiến của Đức Giêsu trên thập giá, khai mở một kỷ nguyên mới cho toàn thể muôn loại thụ tạo trong vũ hoàn. Thiên Chúa đã luôn đi bước trước, và mở lời mời gọi con người đi vào trong sự hiệp thông với mình. Chính từ mầu nhiệm Thương Khó và Vượt Qua này của Đức Giêsu, ta hiểu được ý nghĩa của tính dục con người và tình yêu hôn nhân: một sự cho đi để hướng đến sự sống mới.

 

Khi kết hôn với nhau, đôi phối ngẫu được mời gọi chiêm ngắm và phác hoạ lại tình yêu của Ba Ngôi dành cho nhau và cho toàn thể nhân loại. Kết hôn là bước vào một giao ước mới, nơi đó, hai người làm sống lại hình ảnh Thiên Chúa trong tương quan với nhau và với mọi người. Trước hết, đó phải là sự hiệp thông với nhau nên một, vì cả hai “chỉ là một xương một thịt”. Tiếp đến là một sự trao ban, hy sinh, thông truyền chính mình cho nhau, vì đây là cách thức duy nhất để làm cho hôn nhân được thăng tiến. Sau nữa là hướng đến một sự sống mới sẽ xuất hiện như kết quả của tình yêu tuyệt đẹp này. Tình yêu không phải là một năng động khép kín. Nó sẽ lớn lên hoặc lụi tàn. Khi được chăm sóc kỹ lưỡng, nó sẽ trưởng thành và sinh hoa trái. Người nào kết hôn mà không muốn có con thì đã đi ngược lại với ý định của Tạo Hoá và không được Giáo Hội chấp nhận. Các cặp vợ chồng và con cái được mời gọi để sống chiều kích trao hiến cho nhau, hướng đến việc nên thánh trong bậc sống của mình.

 

Gia đình – vợ chồng và con cái – lý tưởng mà nói, phải là hiện thân của gia đình Ba Ngôi Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu. Người ta gọi gia đình là tổ ấm, chính vì nơi đó có sự hiện diện của tình yêu; tình yêu làm cho bầu khí trở nên ấm cúng, gần gũi, đáng quý. Từng thành viên trong gia đình, đặc biệt là vợ chồng, phải luôn sống được chiều kích Vượt Qua của Đức Giêsu. Nghĩa là, phải luôn sống trong sự tự hiến, hy sinh cho nhau, để từ đó, cả hai vượt qua được bóng tối của sự chết mà tiến về hạnh phúc vĩnh viễn trong Thiên Chúa. Đúng ra, cuộc hôn nhân nào cũng thật sự là một cuộc tự hiến. Vợ – chồng – con cái là thánh giá của nhau. Nhưng như Đức Kitô đã cho chúng ta thấy, ta tiến về Thiên Đàng là nhờ thánh giá, chứ không phải bằng con đường nào khác. Thánh giá tuy rất nặng, nhưng khi có tình yêu, nó sẽ trở nên cánh hoa toả ngát hương thơm.

 

 

 

15. NHỮNG NGĂN TRỞ TIÊU HÔN THEO QUY ĐỊNH CỦA GIÁO HỘI

 

Yêu nhau và kết hôn là quyền của con người. Giáo Luật điều 1058 nói rằng: “Tất cả mọi người không bị luật cấm đều có quyền kết hôn”. Đấng Bản Quyền (Đức Giám Mục giáo phận) chỉ có thể cấm những người thuộc quyền mình, tức là những người thuộc giáo phận mà mình cai quản (dù đang ở trong địa hạt giáo phận hay ở ngoài) và những người đang cư trú trên địa hạt của mình không được kết hôn trong một trường hợp đặc biệt, và chỉ trong một thời gian mà thôi, khi có một lý do nghiêm trọng và bao lâu lý do đó còn kéo dài. (x. Điều 1077). Khi không có lý do nghiêm trọng hoặc khi không còn lý do nghiêm trọng ngăn cản, hoặc khi không bị ngăn trở gì, không ai được phép không cho người ta kết hôn theo ý định của Thiên Chúa.

 

Như chúng ta đã biết, một trong những đặc tính của hôn nhân Kito giáo là bất khả phân ly, nghĩa là khi bí tích được cử hành thành sự và hai người đã hoàn hợp thì hôn nhân đó tồn tại mãi cho đến khi một trong hai người qua đời. Do đó, ngoài trừ hai đặc ân Phaolô và đặc ân Phêrô là hai đặc ân được ban vì lợi ích đức tin của tín hữu, thì không gì có thể giải gỡ được hôn nhân đã thành sự giữa hai người, dù người đó có được rửa tội hay không. Trong thực tế, ta thấy có rất nhiều hôn nhân bị tiêu trừ, đó không phải vì Giáo Hội cho phép xoá bỏ hôn nhân nhưng là vì bản thân hôn nhân đó ngay từ ban đầu đã không thành sự vì mắc phải những ngăn trở hoặc không đáp ứng được những điều kiện cần và đủ để kết hôn. Ngăn trở tiêu hôn làm cho người ta không có năng cách để kết hôn thành sự (x. Điều 1073), có nghĩa là, những người nào mắc phải những trường hợp này thì không thể làm nên một hôn nhân thành sự. Đâu là những ngăn trở đó?

 

Điều 1083: người nam chưa đủ mười sáu tuổi, người nữa chư đủ mười bốn tuổi

Điều 1084: chắc chắn (chứ không phải hồ nghi) là người nam hoặc người nữ bất lực trong giao hợp, có trước khi kết hôn và mang bệnh này vĩnh viễn, dù là tương đối hay tuyệt đối. Tuy nhiên, tình trạng son sẻ, nghĩa là vẫn có thể giao hợp nhưng không thể có con, thì không ngăn cản và không tiêu huỷ hôn nhân, trừ trường hợp họ bị lừa gạt bởi người kia.

Điều 1085: người đang bị ràng buộc bởi hôn nhân trước, dù chưa hoàn hợp. Có nghĩa là người nào đã kết lập giao ước hôn nhân thành sự với người khác, dù chưa quan hệ tình dục với người đó, thì không được tiếp tục kết hôn.

Điều 1086: kết hôn giữa người đã được rửa tội trong Giáo Hội Công giáo và người không được Rửa tội mà chưa nhận được phép chuẩn của Giáo Hội.

Điều 1087 và 1088: những người có chức thánh (phó tế, linh mục, giám mục) và những người đã khấn vĩnh viễn lời khấn đức khiết tịnh.

Điều 1089: khi người nữ bị bắt cóc hoặc bị giam giữ để ép kết hôn, trừ khi người này tự ý chọn lựa hôn nhân ấy sau khi được tự do.

Điều 1090: chủ ý kết hôn với ai đó mà gây ra cái chết cho người phối ngẫu của người ấy, hoặc cộng tác với nhau để giết người phối ngẫu để được kết hôn với nhau.

Ví dụ 1: A, vì muốn kết hôn với B, nên đã tìm cách giết C là người bạn đời của B. Do đó, A kết hôn với B không thành.

 

Ví dụ 2: A và B, vì muốn kết hôn với nhau nên tìm cách giết C là người bạn đời của B (hoặc của A). Do đó, A và B kết hôn với nhau không thành.

 

Điều 1091: những người có họ máu hàng dọc, nghĩa là ông bà, cha mẹ, con, cháu… thì không thể kết hôn với nhau, dù là pháp lý (nhận nuôi) hay tự nhiên.

Ngoài ra, những người họ máu hàng ngang cho đến hết bậc thứ bốn cũng không thể kết hôn với nhau. Trong trường hợp có họ do nhận con nuôi thì không thể kết hôn ở bậc thứ hai.

 

Ví dụ 3:                                   A

 

                                    B                     C

 

                        B1            B*                          C1

 

            B2                                                                   C2

 

Theo giáo luật, B2 và B1, B, B* (con nuôi của B)và A hoặc C2, C1, C và A không thể kết hôn với nhau vì trực hệ (họ máu hàng dọc).

Từ B2 đến B1 được tính là 1 bậc, từ B1 đến B là một bậc … Như thế, B2 không thể kết hôn với C vì còn trong bậc 4 thuộc hàng ngang (B2-B1; B1-B, B-A, A-C). Tương tự như vậy, B1 với C1, hoặc B với C2 cũng không thể. Nhưng B2 có thể kết hôn với C1 hoặc B2 với C2, hoặc B1 với C2 vì đã sang bậc thứ 5 và thứ 6.

B* (con nuôi), B, A không thể kết hôn vì trực hệ. B* không thể kết hôn với B1 vì còn ở cấp thứ 2 thuộc hàng ngang.

Có thể miễn chuẩn cho những ngăn trở này không?

 

Điều 1078 quy định rằng Giám Mục Giáo Phận có thể miễn chuẩn cho người thuộc quyền mình đang ở bất cứ nơi nào và mọi người đang cư ngụ trong địa hạt của mình khỏi ngăn trở thuộc luật Giáo Hội (độ tuổi, kết hôn với người chưa rửa tội trong Giáo Hội Công Giáo). Toà Thánh có quyền miễn chuẩn ngăn trở do chức thánh, hoặc do lời khấn công vĩnh viễn giữ đức khiết tịnh trong một hội dòng thuộc luật giáo hoàng và miễn chuẩn trong trường hợp liên quan đến chuyện gây ra cái chết cho người phối ngẫu, được nói đến ở điều 1090. Giáo Luật cũng quy định rằng không bao giờ được phép miễn chuẩn những ngăn trở liên quan đến họ máu hàng dọc hay họ máu hàng ngang bậc thứ hai.

 

Trừ trường hợp cần thiết, nếu không có phép của Đấng Bản Quyền địa phương, không được phép chứng hôn (x. Điều 1071):

 

Cho người không có cư sở

Cho những hôn nhân không thể được công nhận hay không thể được cử hành theo luật dân sự.

Cho hôn nhân của người mắc những nghĩa vụ tự nhiên, phát sinh do cuộc hôn nhân trước, đối với bên kia hoặc đối với con cái.

Cho hôn nhân của người đã hiển nhiên chối bỏ đức tin Công Giáo

Cho hôn nhân của người đang bị mắc vạ

Cho hôn nhân của người vị thành niên, khi cha mẹ không hay biết hoặc đã phản đối cách hợp lý

Cho hôn nhân cử hành qua người đại diện

Ngoài ra, Giáo Luật cũng có những quy định liên quan đến sự ưng thuận của hai bên trong hôn nhân, vốn là một yếu tố quan trọng làm nên tính thành sự của bí tích.

 

Điều 1095 nói rằng, những người sau đây không có khả năng kết hôn, vì họ không thể đưa ra sự ưng thuận của mình:

 

Không sử dụng đủ trí khôn

Thiếu nghiêm trọng óc phán đoán về quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của việc trao ban và lãnh nhận nhau trong hôn nhân.

Không thể đảm nhận những nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân vì những nguyên nhân thuộc bản chất tâm lý.

Điều 1096 còn nói thêm: “Để có thể có sự ưng thuận hôn nhân, hai người kết ước ít nhất phải biết hôn nhân là một sự hiệp thông vĩnh viễn giữa một người nam và một người nữ, nhắm đến việc sinh sản con cái do một sự cộng tác nào đó thuộc phạm vi phái tính”. Và dĩ nhiên, “suy đoán là có sự hiểu biết trên đây sau tuổi dậy thì”.

 

Nếu hai người đã bày tỏ sự ưng thuận nhưng lại có sự lầm lẫn liên quan đến nhân thân thì hôn nhân đó không thành. Nhưng lầm lẫn về tính cách thì không huỷ hôn nhân (x. Điều 1097). Tuy nhiên, nếu một trong hai bên bị bên kia lừa gạt về một tư cách nào đó của người đó với chủ ý có được sự ưng thuận của bên này và tư cách ấy tự bản chất có thể làm xáo trộn nghiêm trọng sự hiệp thông vợ chồng thì hôn nhân bất thành.

 

Sự không hiểu biết hoặc nhầm lẫn về tính đơn nhất hay tính bất khả phân ly hoặc về bí tích hôn nhân không ảnh hưởng đến sự ưng thuận. Sự ưng thuận được suy đoán căn cứ vào lời nói hay những dấu chỉ được sử dụng khi cử hành bí tích hôn nhân. Quan trọng là “nếu một bên hay cả hai bên, bằng một hành vi tích cực của ý chí, loại trừ chính hôn nhân, hoặc một yếu tố chính yếu nào, hoặc một đặc tính chính yếu nào của hôn nhân thì kết hôn không thành” (Điều 1101). Có nghĩa là, hôn nhân sẽ không thành khi một hoặc cả hai bên chỉ giả vờ kết hôn, chứ thật lòng không muốn, hoặc kết hôn nhưng không có ý hướng kết hợp thân xác với bạn đời và sinh con, hoặc xem bí tích chỉ như một gameshow vô nghĩa, hoặc chối bỏ đặc tính độc nhất và bất khả phân ly. Nếu họ thể hiện điều này bằng một “hành vi tích cực của ý chí” thì hôn nhân đó không thành. Dĩ nhiên, cũng không thành khi kết hôn với điều kiện ở tương lai, hay vì bạo lực hoặc vì sợ hãi nghiêm trọng từ bên ngoài khiến người ta phải lựa chọn hôn nhân để tự giải thoát. (x. Điều 1102, 1103).

 

Vẫn còn rất nhiều quy định của Giáo Luật liên quan đến hôn nhân không được nói tới trong bài viết này, nhưng thiết nghĩ những gì được bàn luận ở trên đã đủ để các bạn trẻ có một hiểu biết cơ bản về những gì Giáo Hội mong chờ nơi mình. Đức Giám Mục giáo phận, đặc biệt là các cha xứ, các bậc cha mẹ, phải có trách nhiệm giáo dục người trẻ trong giáo phận, giáo xứ và con cái mình, giúp họ có được một nền tảng vững chắc về hôn nhân và gia đình, để họ có đủ tự tin và kiến thức xây dựng một gia đình hạnh phúc cho bản thân.