SỨ ĐIỆP NGÀY THẾ GIỚI NGƯỜI NGHÈO

SỨ ĐIỆP NGÀY THẾ GIỚI NGƯỜI NGHÈO

 

WCT: Chúng tôi xin giới thiệu 2 bản dịch tiếng Việt và 1 bản tiếng Anh để quý vị tham khảo.

 

 

SỨ ĐIỆP NGÀY THẾ GIỚI NGƯỜI NGHÈO LẦN THỨ NHẤT. PAGEREF _Toc494272452 \h 1

SỨ ĐIỆP CỦA ĐTC  PHANXICO CHO NGÀY THẾ GIỚI NGƯỜI NGHÈO LẦN THỨ NHẤT  PAGEREF _Toc494272453 \h 7

MESSAGE OF HIS HOLINESS POPE FRANCIS. PAGEREF _Toc494272454 \h 13

FOR THE FIRST WORLD DAY OF THE POOR. PAGEREF _Toc494272455 \h 13

 

 

SỨ ĐIỆP NGÀY THẾ GIỚI NGƯỜI NGHÈO LẦN THỨ NHẤT  

 

Sứ điệp của Đức Thánh Cha nhân Ngày Thế Giới Người Nghèo lần đầu tiên sẽ được cử hành vào ngày 19/11/2017 – Chúa Nhật 33 Thường Niên

 

‘Chúng ta hãy yêu thương, không phải bằng lời nói nhưng bằng việc làm’

 

 

1. “Hỡi các con, chúng ta đừng yêu bằng lời nói và miệng lưỡi, nhưng bằng việc làm và trong sự thật” (1 Ga 3,18). Những lời này thánh Gioan tông đồ diễn tả bằng một mệnh lệnh mà không một người ki-tô hữu nào có thể tránh né. Cách trân trọng mà người môn đệ được yêu thương” thông truyền cho đến ngày nay điều răn của đức Giê-su càng được nhấn mạnh hơn qua sự trái ngược giữa những lời trống rỗng thường qua môi miệng chúng ta và những hành động cụ thể mà chúng ta được kêu gọi kiểm điểm bản thân. Tình yêu không chấp nhận cớ thoái thác. Ai muốn yêu như Chúa Giê-su đã yêu thương thì phải noi gương Chúa nhất là khi ta được kêu gọi yêu thương những người nghèo. Vả lại, cách thức yêu thương của Con Thiên Chúa là điều ai cũng biết rõ và thánh Gio-an nhắc nhớ điều đó bằng những lời thật rõ rệt. Nó dựa trên hai cột trụ chính: Thiên chúa yêu thương trước (x. 1Ga 4,10.19) và Ngài đã cho đi hết mình kể cả mạng sống của Ngài (x. 1Ga 3,16).

 

Một tình yêu như thế không thể không được đáp trả tuy hiến thân một cách đơn phương không cần gì đổi lại, nhưng tình yêu ấy đốt cháy tâm hồn đến độ bất cứ ai cũng cảm thấy cần đáp trả mặc dù mình là người có những giới hạn tội lỗi và điều này có thể thực hiện được nếu ta đón nhận bao nhiêu có thể ơn thánh của Thiên Chúa, lòng bác ái thương xót của Ngài trong tâm hồn chúng ta đến độ đánh động ý chí và tình cảm của chúng ta để yêu mến Thiên Chúa và tha nhân. Như thế, lòng Thương xót của Chúa có thể nói là trào ra từ trái tim của Chúa Ba Ngôi để chuyển động cuộc sống chúng ta và làm nảy sinh lòng cảm thương và những côn việc từ bi bác ái đối với anh chị em ở trong tình cảnh túng thiếu.

 

2. “Người nghèo kêu lên và Chúa lắng nghe họ” (Tv 34,6). Giáo Hội vẫn luôn hiểu tầm quan trọng của tiếng kêu ấy. Chúng ta có một chứng tá lớn ngay từ những trang đầu tiên của Sách Tông Đồ Công Vụ. Trong đó, Thánh Phê-rô yêu cầu chọn bảy người “đầy Thánh Thần và Khôn ngoan” (Cv 6,3) để họ đảm nhận việc phục vụ và giúp đỡ người nghèo. Chắc chắn đó là một trong những dấu hiệu qua đó cộng đoàn Ki-tô tự giới thiệu trên diễn trường thế giới, đó là phục vụ người nghèo nhất. Sở dĩ tất cả những điều ấy có thể diễn ra là vì cộng đoàn hiểu rằng cuộc sống của các môn đệ Chúa Giê-su phải được biểu lộ trong tình huynh đệ và liên đới như thế, tương ứng với giáo huấn chủ yếu của Thầy mình. Người đã tuyên bố Phúc cho những người nghèo vì họ được thừa hưởng Nước Trời (x. Mt 5,3).

 

“Họ bán tài sản và những gì họ có để chia sẻ với mọi người tùy theo nhu cầu của mỗi người” (Cv 2,45). Kiểu nói này chứng tỏ rõ ràng mối tương quan sinh động của các tín hữu Ki-tô. Thánh Sử Lu-ca, tác giả sách Thánh hơn bất kỳ ai khác đã dành chỗ cho lòng thương xót. Thánh nhân không dùng kiểu nói hùng biện nào khi mô tả thói quen chia sẻ của cộng đoàn tiên khởi. Trái lại khi kể như thế, Người muốn nói với các Ki-tô hữu thuộc mọi thế hệ và qua đó người cũng nói với cả chúng ta để nâng đỡ chúng ta trong công tác làm chứng tá và khích lệ chúng ta hoạt động giúp đỡ người túng thiếu hơn. Thánh Gia-cô-bê Tông đồng cũng trình bày cùng giáo huấn ấy với niềm xác tín. Trong thư, thánh nhân dùng kiểu nói mạnh mẽ và quyết liệt: “Anh em thân mến, xin hãy lắng nghe, phải chăng Thiên Chúa đã chọn những người nghèo dưới mắt thế giới thành những người giàu dưới con mắt đức tin, và là những người thừa kế Nước Trời được hứa cho những người yêu mến Ngài sao? Trái lại, anh em đã sỉ nhục người nghèo. Chẳng phải là những người giàu đã đàn áp và lôi anh em ra trước tòa án đấy sao? Hỡi anh em, nếu một người nói là mình có đức tin mà lại không có việc làm thì có ích gì. Đức tin ấy có thể cứu vớt được họ sao? Nếu một người anh em hay chị em không có y phục hay thiếu lương thực hằng ngày và một người trong anh em lại nói với họ “hãy ra đi bình an, hãy mặc ấm và ăn uống no đầy” nhưng lại không cho họ những gì cần thiết cho thân xác thì như vậy có ích gì? Đức tin cũng vậy, nếu không có việc làm thì đó chỉ là đức tin chết” (Gc 2,5-6.14-17).

 

3. Tuy nhiên có những lúc, các Ki-tô hữu đã không nghe tiếng kêu gọi ấy cho đến cùng và để cho mình thấm nhiễm não trạng trần tục. Nhưng Chúa Thánh Thần không quên nhắc nhở họ hãy chú tâm đến điều thiết yếu. Thực vậy, Chúa làm nảy sinh những người nam nữ qua nhiều cách thức hiến mạng sống mình để phục vụ người nghèo. Bao nhiêu trang sử qua hai ngàn năm đã được các Ki-tô hữu ấy viết lên với tất cả sự đơn sơ và khiêm tốn với sáng kiến bác ái quảng đại, họ đã phục vụ những anh chị em nghèo nhất!

 

Trong tất cả các vị ấy, nổi bật là thánh Phanxico Assisi, người đã được nhiều vị thánh nam nữ khác noi theo qua dòng lịch sử. Thánh nhân không những hài lòng với việc ôm lấy và làm phúc cho những người phong cùi, nhưng còn chọn đến với Gubbio để ở với những người cùi ấy. Chính thánh nhân nhìn thấy trong cuộc gặp gỡ đó khúc quanh hoán cải của ngài: “khi tôi còn ở trong tội lỗi, tôi thấy dường như thật là cay đắng khi thấy những người cùi và chính Chúa đã dẫn tôi đến với họ và dủ lòng thương với họ. Và khi tôi rời xa họ, điều tôi thấy là cay đắng trước đây đã biến thành sự ngọt ngào trong tâm hồn và thân xác” (Text 1-3: FF110). Chứng từ này biểu lộ sức mạnh của lòng bác ái biến đổi và lối sống của các Ki-tô hữu.

 

Chúng ta đừng chỉ nghĩ đến những người nghèo như những người đón nhận một công việc thiện nguyện tốt cần phải làm mỗi tuần một lần, hoặc là đối tượng của những cử chỉ thiện chí nhất thời cần làm để lương tâm được thanh bình. Những kinh nghiệm ấy, tuy có giá trị và hữu ích để gây ý thức về những nhu cầu của bao nhiêu anh chị em và những bất công thường là nguyên nhân gây ra chúng, phải dẫn đến một cuộc gặp gỡ đích thực với người nghèo và đưa tới một sự chia sẻ trở thành lối sống. Thực vậy kinh nghiệm hành trình môn đệ và sự hoán cải được kiểm chứng xem có chân chính theo tinh thần Tin Mừng hay không qua việc thực thi đức bác ái chia sẻ. Từ cách thức sống như thế, nảy sinh niềm vui và sự thanh thản trong tâm hồn vì ta đụng chạm cụ thể đến thân mình Chúa Ki-tô. Nếu chúng ta muốn gặp gỡ thực sự Chúa Ki-tô, thì cần động chạm đến thân mình Ngài trong thân thể tàn tạ của những người nghèo đầy những vết thương như sự lãnh nhận mình Thánh Chúa trong bí tích Thánh Thể. Mình Chúa Ki-tô được bẻ ra trong thánh lễ ta tìm được trong đức bác ái chia sẻ nơi những khuôn mặt và nơi những anh chị em yếu thế nhất. Những lời của Thánh giám mục Gioan Kim Khẩu vẫn luôn vang dội thời sự: “Nếu anh chị em tôn kính mình Chúa Ki-tô thì đừng coi rẻ Ngài khi ngài trần trụi. Đừng tôn kính Chúa Ki-tô với phẩm phục bằng tơ lụa trong khi bên ngoài đền thờ anh chị em lơ là với Chúa Ki-tô khác đang chịu sầu khổ vì lạnh lẽo và trần trụi” (Hom. in Matthaeum, 50.3: PG 58).

Vì thế, chúng ta được kêu gọi giơ tay cho người nghèo, gặp gỡ họ, nhìn họ tận mắt, ôm lấy họ để làm cho họ cảm thấy hơi ấm của tình thương phá vỡ cái vòng cô đơn. Bàn tay họ giơ ra cho chúng ta cũng là một lời mời gọi ra khỏi tình trạng yên hàn thoải mái của chúng ta và nhìn nhận giá trị mà sự thanh bần tạo nên nơi chính mình.

 

4. Chúng ta đừng quên rằng, đối với các môn đệ của Đức Ki-tô, thanh bần trước tiên là một ơn gọi theo Đức Giê-su nghèo. Đó là việc bước theo ngài và cùng với ngài, một hành trình dẫn đến hạnh phúc Nước Trời (x. Mt 5,3; Lc 6,20). Thanh bần có nghĩa là một con tim khiêm tốn biết đón nhận thân phận thụ tạo, giới hạn và tội lỗi của mình, để vượt thắng cám dỗ, một thứ cám dỗ cho rằng mình toàn năng và bất tử. Thanh bần là thái độ của tâm hồn ngăn cản ta nghĩ đến tiền bạc, con đường công danh sự nghiệp sang trọng như mục đích cuộc sống và là điều kiện để đạt được hạnh phúc. Đúng hơn chính thanh bần tạo ra những điều kiện để tự do, lãnh nhận trách nhiệm bản thân và xã hội, mặc dù mình có những giới hạn, tín thác vào sự gần gũi của Thiên Chúa và được ơn thánh của Chúa nâng đỡ. Hiểu theo nghĩa đó, thanh bần là thước đo giúp đánh giá và sử dụng đúng đắn những của cải vật chất và sống các liên hệ và tình cảm mà không ích kỷ và chiếm hữu (x. GLCG, các số 25-45).

 

Vì thế, chúng ta hãy noi gương thánh Phanxico chứng nhân về sự thanh bần chân thực. Chính nhờ ngắm nhìn Đức Ki-tô, Thánh nhân biết nhận ra và phụng sự Chúa nơi người nghèo. Do đó, nếu chúng ta muốn đóng góp để thay đổi lịch sử, tạo nên sự phát triển đích thực thì cần phải lắng nghe tiếng kêu của người nghèo và dấn thân nâng họ khỏi tình trạng bị gạt ra ngoài lề. Đồng thời tôi nhắc nhở những người nghèo đang sống trong các thành thị và cộng đoàn của chúng ta, đừng đánh mất ý nghĩa sự thanh bần theo tinh thần tin mừng, mà họ mang dấu tích trong cuộc đời họ.

 

5. Chúng ta biết khó khăn lớn nảy sinh trên thế giới ngày nay trong việc xác định rõ ràng sự thanh bần. Nhưng nó đang gọi hỏi chúng ta mỗi ngày với hàng ngàn khuôn mặt mang dấu vết đau khổ bị gạt ra ngoài lề, bị áp bức, bạo lực, tra tấn, tù đày, chiến tranh, thiếu tự do và phẩm giá, dốt nát và mù chữ, thiếu săn sóc y tế và công ăn việc làm, nạn buôn người va nô lệ, lưu vong và lầm than, bị cưỡng bách di cư. Nghèo đói có khuôn mặt của những người nam nữ và trẻ em bị bóc lột bởi những lợi lộc hèn hạ chạ đạp với những mưu đồ quyền lực và tiền bạc. Chúng ta phải thiết lập danh sách đau thương chẳng bao giờ đầy đủ ấy đứng trước nghèo đói là kết quả của bất công xã hội sự ham hố của một thiểu số và dửng dưng của đại đa số!

 

Đáng tiếc thời nay ngày càng xuất hiện thứ giàu sang trắng trợn tập trung trong tay một thiểu số người ưu tiên và thường có kèm theo tình trạng bất hợp pháp, sự bóc lột thẳng tay phẩm giá con người gây ra gương mù là sự nghèo đói lan rộng ra trong nhiều lãnh vực xã hội trên thế giới. Đứng trước cảnh tượng ấy, ta không thể giữ thái độ bất động cam chịu. Trước cảnh nghèo cản trở tinh thần sáng kiến của bao nhiêu người trẻ, cản ngăn họ trong việc tìm kiếm một công ăn việc làm. Cảnh nghèo làm tê liệt ý thức trách nhiệm khiến người ta thích ủy việc cho người khác và tìm kiếm những ân huệ. Cảnh nghèo làm ô nhiễm sự tham gia và thu hẹp không gian của sự chuyên nghiệp và hạ giá công trạng của người làm việc và sản xuất. Đứng trước tất cả những tình trạng đó cần có một quan niệm mới về cuộc sống và xã hội.

 

Chân Phước Phao-lô VI Giáo Hoàng thường nói: tất cả những người nghèo ấy thuộc về Giáo Hội do “quyền của Tin Mừng” (Address at the Opening of the Second Session of the Second Vatican Ecumenical Council, 29 September 1963), và đòi hỏi phải dành ưu tiên cho họ. Vì thế, phúc cho những bàn tay mở ra để đón nhận những người nghèo và cứu giúp họ: Đó là những bàn tay mang lại hy vọng. Phúc cho những bàn tay vượt lên trên mọi hàng rào văn hóa, tôn giáo, quốc tịch đổ dầu an ủi cho những vết thương của nhân loại. Phúc cho những bàn tay mở ra và không đòi được những điều gì bù lại, không đặt điều kiện và do dự (no “ifs” or “buts” or “maybes”): Đó là những bàn tay làm cho phúc lành của Thiên Chúa đổ trên anh chị em.

 

6. Vào cuối năm thánh lòng Thương Xót, tôi muốn cống hiến cho Giáo Hội Ngày Thế Giới Người Nghèo để trên toàn thế giới các cộng đoàn Ki-tô ngày càng trở nên dấu chỉ cụ thể và rõ ràng về tình yêu thương của Chúa Ki-tô đối với những người rốt cùng và túng thiếu nhất. Thêm vào những ngày Quốc Tế khác do các vị tiền nhiệm của tôi thiết định và nay đã trở thành truyền thống trong các cộng đoàn của chúng ta, tôi muốn lập ngày thế giới người nghèo này để cùng với các ngày thế giới khác mang lại một yếu tốt bổ túc với sắc thái tin mừng tuyệt hảo, đó là sự yêu thương ưu tiên của Đức Giê-su dành cho những người nghèo.

 

Vì thế, tôi mời gọi toàn thể giáo hội, những người nam nữ thiện chí trong ngày này hãy nhìn vào những người đang giơ tay kêu cứu và xin tình liên đới của chúng ta. Họ là những người anh chị em được Chúa Cha duy nhất trên trời tạo dựng và yêu thương. Ngày này trước tiên nhắm đến khích lệ các tín hữu để họ chống lại nền văn hóa gạt bỏ và phung phí, để đón nhận nền văn hóa gặp gỡ. Đồng thời, tôi mời gọi tất cả mọi người không phân biệt tôn giáo, hãy cởi mở chia sẻ với người nghèo trong mọi hình thức liên đới như dấu chỉ tình huynh đệ. Thiên Chúa đã tạo dựng trời và đất cho tất cả mọi người; nhưng đáng tiếc lại có những người đã dựng nên các biên giới, các tường thành và hào lũy, phản bội món quà nguyên thủy dành cho nhân loại không loại trừ ai.

 

7. Tôi cầu mong rằng trong tuần lễ trước ngày Thế Giới Người Nghèo, năm nay sẽ là ngày 19 tháng 11, Chúa Nhật 33 Thường Niên, các cộng đoàn Ki-tô dấn thân kiến tạo những cuộc gặp gỡ thân hữu liên đới trợ giúp cụ thể. Có thể mời những người nghèo và những người thiện nguyện cùng tham dự thánh lễ Chúa Nhật Ngày Thế Giới Người Nghèo năm nay là Chúa Nhật 33 Thường Niên, để việc cử hành Lễ Chúa Nhật sau đó, Lễ Chúa Ki-tô Vua càng có tính chất chân thực hơn. Thực vậy, Vương quyền của Chúa Ki-tô biểu lộ trọn ý nghĩa trên đồi Gôn-gô-tha,  khi Đấng Vô Tội bị đóng đanh vào thập giá, trần trụi và thiếu thốn mọi sự, trở thành hiện thân và tỏ lộ tình yêu sung mãn của Thiên Chúa. Sự phó thác hoàn toàn của Đức Giê-su cho Chúa Cha trong khi biểu lộ sự nghèo khó hoàn toàn làm nổi bật quyền năng của Tình Yêu ấy làm cho người sống lại cho đời sống mới trong ngày Phục Sinh.

 

Trong Chúa Nhật này, nếu trong khu xóm chúng ta có những người nghèo tìm kiếm sự bảo vệ và trợ giúp, chúng ta hãy đến gần họ: Đó sẽ là lúc thích hợp để gặp gỡ Thiên Chúa mà chúng ta tìm kiếm. Theo giáo huấn của Kinh Thánh (x. St 18,3-5; Hr 13,2), chúng ta hãy đón nhận họ như những người khách ưu tiên tại bàn ăn của chúng ta; họ có thể là những thày dạy giúp chúng ta sống đức tin một cách phù hợp hơn. Với lòng tín thác và sẵn sàng chấp nhận trợ giúp, họ chứng tỏ cho chúng ta một cách đơn giản nhưng thật vui tươi rằng, sống giản dị và phó thác cho sự quan phòng của Thiên Chúa là điều cốt yếu.

 

8. Nơi nền tảng của bao nhiêu sáng kiến cụ thể có thể thực hiện trong ngày này luôn luôn có việc cầu nguyện. Chúng ta đừng quên rằng Kinh Lạy Cha là kinh nguyện của người nghèo. Thực vậy lời cầu nguyện xin cơm bánh biểu lộ sự phó thác cho Thiên Chúa những nhu cầu sơ đẳng của đời sống chúng ta. Khi Đức Giê-su dạy chúng ta qua kinh nguyện này, biểu lộ và đón nhận tiếng kêu của người đau khổ vì cuộc sống bấp bênh và vì thiếu những điều cần thiết. Khi các môn đệ xin ngài dạy họ cầu nguyện, Đức Giê-su đã rtowr lời họ bằng những lời của người nghèo hướng về Chúa Cha duy nhất, trong đó tất cả đều nhận ra nhau là anh chị em. Kinh Lạy Cha là một kinh nguyện được diễn tả ở số nhiều: bánh chúng ta xin là “của chúng ta” và điều này bao hàm sự chia sẻ và tham gia vào trách nhiệm chung. Trong kinh nguyện này, tất cả chúng ta nhìn nhận nhu cầu phải vượt thắng sự ích kỷ để tiến đến niềm vui đón nhận nhau.

 

9. Tôi xin các anh em Giám Mục, linh mục và phó tế do ơn gọi, họ có ơn gọi nâng đỡ người nghèo, xin những người sống đời thánh hiến, các hội đoàn và các phong trào cũng như đông đảo những người thiện nguyện, hãy dấn thân để với Ngày Thế Giới Người Nghèo một truyền thống được thiết lập như một đóng góp cụ thể cho việc loan báo Tin Mừng trong thế giới ngày nay.

 

Vì thế, ngày Quốc Tế mới này trở thành lời kêu gọi mạnh mẽ đối với lương tâm tín hữu chúng ta, để càng ngày chúng ta càng xác tín rằng, chia sẻ với người nghèo giúp chúng ta hiểu Tin Mừng trong chân lý sâu thẳm nhất. Người nghèo không phải là một vấn đề: họ là là một nguồn tài nguyên cần kín múc để đón nhận và sống sự thiết yếu của Tin Mừng.

 

Vatican ngày 13 tháng 06 năm 2017

 

Lễ Nhớ thánh An-tôn Pa-đô-va

 

Tiểu Bôi biên tập và chuyển ngữ

Nguồn tin: zenit.org;

 

****

 

 

 

 

Dưới đây là bản dịch từ tiếng Anh :

 

SỨ ĐIỆP CỦA ĐTC  PHANXICO CHO NGÀY THẾ GIỚI NGƯỜI NGHÈO LẦN THỨ NHẤT

 

Chúa Nhật Ba Mươi Ba Mùa Thường Niên

 

19 tháng Mười Một 2017

 

Chúng ta hãy yêu thương, không bằng lời nói nhưng bằng hành động

 

1. “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (1 Ga 3:18).  Những lời này của Thánh Gio-an Tông đồ vang lên một mệnh lệnh không một Ki-tô hữu nào có thể xem nhẹ. Tính quan trọng mà “người môn đệ được yêu” chuyển lại mệnh lệnh của Chúa Giê-su cho thời đại của chúng ta thậm chí trở nên rõ ràng hơn bởi sự tương phản giữa những lời nói trống rỗng quá thường xuyên trên môi của chúng ta và những công việc cụ thể mà qua đó chúng ta được kêu gọi để tự soi chiếu bản thân. Yêu thương không có cớ để thoái thác. Bất cứ khi nào chúng ta bắt đầu yêu thương như Chúa Giê-su đã yêu, chúng ta phải lấy Chúa như là mẫu gương của chúng ta; đặc biệt khi nó là sự yêu thương người nghèo. Con đường yêu thương của Con Thiên Chúa rất rõ ràng, và Thánh Gio-an kể ra một cách rạch ròi. Tình yêu đó đứng trên hai rường cột: Thiên Chúa yêu thương chúng ta trước (x. 1 Ga 4:10.19), và Người đã yêu thương chúng ta bằng cách cho đi trọn vẹn thân mình, đến nỗi hy sinh mạng sống của Người (x. 1 Ga 3:16).

 

Tình yêu như vậy không thể cho đi mà không có đáp lời. Dù là được cho đi vô điều kiện, không đòi hỏi một sự đáp trả, nhưng nó làm bừng cháy lên trong tim của tất cả những người trải nghiệm nó và được dẫn đưa để yêu thương trở lại, bất chấp những giới hạn và tội lỗi của họ. Tuy nhiên điều này chỉ có thể xảy ra nếu chúng ta đón chào ơn sủng của Thiên Chúa, lòng từ bi hay thương xót của Người, đổ tràn đầy trong tâm hồn chúng ta, để chí hướng và thậm chí những cảm xúc của chúng ta cũng được hướng đến lòng mến yêu Thiên Chúa và yêu anh em. Bằng cách này, lòng thương xót tuôn đổ ra từ thánh tâm của Chúa Ba Ngôi có thể định hình cho cuộc sống của chúng ta và trổ sinh lòng trắc ẩn và công cuộc của lòng thương xót vì lợi ích cho anh chị em túng thiếu.

 

2. “Kẻ nghèo này kêu lên và Chúa đã nhận lời, cứu cho khỏi mọi cơn nguy khốn” (Tv 34:6). Giáo Hội luôn hiểu tầm quan trọng của tiếng kêu này. Chúng ta có một chứng ngôn nổi bật cho điều này ngay trong những trang đầu tiên của Sách Công vụ Tông đồ, trong đó Thánh Phê-rô yêu cầu bảy người, “đầy tràn Thần Khí và khôn ngoan” (6:3), được chọn ra cho sứ vụ chăm sóc người nghèo. Việc này thực sự là một trong những dấu chỉ đầu tiên của con đường đi vào thế giới của cộng đoàn Ki-tô hữu: phục vụ người nghèo. Cộng đoàn tiên khởi nhận ra việc trở thành một môn đệ của Chúa Giê-su có nghĩa là thể hiện tình huynh đệ và tình liên đới, tuân theo lời tuyên bố của Thầy rằng người nghèo được chúc phúc và là người thừa tự trong Vương quốc nước trời (x. Mt 5:3).

 

“Họ đem bán đất đai của cải, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu” (Cv 2:45). Trong câu này, chúng ta được miêu tả rất rõ sự quan tâm rất sống động của những Ki-tô hữu tiên khởi. Tác giả Tin mừng Lu-ca, người nói nhiều về lòng thương xót hơn ai hết, không ngoa ngôn khi ngài mô tả về việc thực hành chia sẻ trong cộng đoàn tiên khởi. Về mặt khác, lời của ngài gửi đến cho các tín hữu thuộc mọi thế hệ, và vì thế cho cả chúng ta, để duy trì chứng tá riêng của chúng ta và để khuyến khích chúng ta biết chăm sóc cho những người thiếu thốn nhất. Thánh Gia-cô-bê Tông đồ cũng chuyển tải một thông điệp tương tự đầy thuyết phục. Trong thư, ngài không nói thừa một lời nào: “Anh em thân mến của tôi, anh em hãy nghe đây: nào Thiên Chúa đã chẳng chọn những kẻ nghèo khó trước mặt người đời, để họ trở nên người giàu đức tin và thừa hưởng vương quốc Người đã hứa cho những ai yêu mến Người hay sao? Thế mà anh em, anh em lại khinh dể người nghèo! Chẳng phải những người giàu áp bức anh em đó sao? Chẳng phải họ lôi anh em ra toà đó sao? … Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì? Đức tin có thể cứu người ấy được chăng? Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: “Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no”, nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì? Cũng vậy, đức tin không có hành động thì quả là đức tin chết. (2:5-6.14-17).

 

3. Tuy nhiên có những lúc người Ki-tô hữu không toàn tâm chú ý đến lời kêu gọi này, và mang lấy một lối suy nghĩ trần tục. Nhưng Thánh Thần không ngừng kêu gọi họ luôn giữ vững đôi mắt hướng nhìn về điều quan trọng. Người đã nâng dậy những con người hiến dâng cuộc sống của họ cho việc phục vụ người nghèo theo nhiều cách khác nhau. Trong suốt hơn hai ngàn năm qua, đã có không biết bao nhiêu trang sử được viết bởi những Ki-tô hữu phục vụ cho những anh chị em nghèo khó nhất của mình bằng sự đơn sơ và lòng khiêm nhường tuyệt đối của mình, và bằng đức ái quảng đại và sáng tạo!

 

Mẫu gương nổi bật nhất là của Thánh Phanxico Assisi, tiếp theo là của rất nhiều con người thánh thiện khác qua các thế kỷ. Ngài không hài lòng với việc ôm lấy người phong hủi và trao cho họ của bố thí, nhưng ngài đã chọn cách đi đến Gubbio để cùng ở với họ. Ngài xem sự gặp gỡ này như là bước ngoặt cho sự hối cải của ngài: “Khi tôi còn ở trong tội lỗi, nhìn đến những người phong hủi dường như là điều quá cay đắng, và chính Thiên Chúa đã dẫn dắt tôi đi vào giữa họ để thể hiện lòng thương xót cho họ. Và khi tôi rời họ, những gì có vẻ là cay đắng đối với tôi bây giờ chuyển thành sự ngọt ngào trong tâm hồn và thể xác” (Văn bản 1-3: FF 110). Chứng ngôn này cho thấy sức mạnh biến đổi của đức ái và lối sống của người Ki-tô hữu.

 

Chúng ta có thể chỉ nghĩ đến người nghèo như là những người thụ hưởng của công việc thiện nguyện thỉnh thoảng của chúng ta, hay của những hành động bất chợt của lòng rộng rãi vỗ về lương tâm của chúng ta. Tuy nhiên những hành động tốt lành và hữu ích như vậy có thể làm cho chúng ta biết trở nên nhạy cảm trước nhu cầu của tha nhân và những bất công mà họ thường phải gánh chịu, những hành động đó phải dẫn đến một sự gặp gỡ thực sự với người nghèo và sự chia sẻ trở thành một cách sống. Việc cầu nguyện và hành trình làm môn đệ và hoán cải của chúng ta sẽ tìm được tính vững chắc của việc rao giảng phúc âm đích thực qua lòng bác ái và sự chia sẻ như vậy. Lối sống này sẽ tạo nên niềm vui và sự bình an của tâm hồn, vì chúng ta được đụng chạm đến chính da thịt của Đức Ki-tô bằng chính bàn tay của chúng ta. Nếu chúng ta thực sự muốn gặp gỡ Đức Ki-tô, chúng ta phải đụng chạm đến thân thể của Người trong những thân thể đau khổ của người nghèo, như một cách đáp lời cho sự hiệp nhất bí tích được ban tặng trong Phép Thánh Thể. Chúng ta có thể nhìn thấy Thân Thể của Đức Ki-tô, bị tan vỡ trong phụng vụ thánh, qua lòng bác ái và sự chia sẻ, trong khuôn mặt của những người thấp hèn nhất của anh chị em của chúng ta. Lời quở trách của Thánh John Chrysostom vẫn còn vang vọng mãi: “Nếu các người muốn tôn vinh thân thể Đức Ki-tô, hãy đừng khinh rẻ khi thân thể đó trần truồng; đừng tôn vinh Đức Ki-tô Thánh Thể bằng những áo choàng lụa là, nhưng rồi ra khỏi nhà thờ, bỏ mặc sự đau khổ của Đức Ki-tô nơi những người đang chịu giá rét và không có quần áo mặc” (Bài giảng ở Matthaeum, 50.3: PG 58).

 

Vì vậy chúng ta được kêu gọi đến gần với người nghèo, gặp gỡ họ, đón lấy ánh mắt của họ, ôm lấy họ và để cho họ cảm nhận được hơi ấm của tình yêu phá vỡ sự cô đơn của họ. Bàn tay giơ cao van xin của họ cũng là một lời mời gọi chúng ta bước ra khỏi môi trường an toàn và tiện nghi của mình, và thừa nhận giá trị của chính sự nghèo khó.

 

4. Chúng ta đừng bao giờ quên rằng, với các môn đệ của Đức Ki-tô, sự nghèo khó trên hết là một lời kêu gọi đi theo Chúa Giê-su trong chính sự nghèo khó của Ngài. Nó có nghĩa là bước đi theo Ngài và bên Ngài, trên hành trình dẫn đến vẻ tuyệt mỹ của Vương quốc nước trời (x. Mt 5:3; Lc 6:20). Sự nghèo khó có nghĩa là có một tâm hồn khiêm nhường chấp nhận những giới hạn và tội lỗi của loài thụ tạo của chúng ta, và từ đó giúp chúng ta vượt qua được cám dỗ cảm thấy mình có quyền hạn tuyệt đối và bất tử. Nghèo khó là một thái độ nội tâm tránh không xem tiền bạc, sự nghiệp và những thứ xa hoa như là mục đích của cuộc sống và là điều kiện cho hạnh phúc của chúng ta. Nhưng nghèo khó tạo ra những điều kiện để chúng ta tự do gánh lấy những trách nhiệm cá nhân và xã hội, bất kể những giới hạn của chúng ta, với lòng tín thác vào sự gần gũi của Thiên Chúa và sự trợ giúp quan phòng của Người. Hiểu theo cách này, nghèo khó là một thước đo cho phép chúng ta đánh giá những cách tốt nhất để sử dụng của cải vật chất và để xây dựng những mối quan hệ không ích kỷ và cũng không chiếm hữu (x. Giáo lý Giáo hội Công giáo, số. 25-45).

 

Vậy chúng ta hãy lấy gương của Thánh Phanxico và chứng tá của ngài về tinh thần nghèo khó đích thực. Chính vì ngài gắn chặt đôi mắt hướng về Đức Ki-tô, Thánh Phanxico đã có thể nhìn thấy và phục vụ Ngài trong những người nghèo. Nếu chúng ta muốn góp phần thay đổi lịch sử và  thúc đẩy sự phát triển thực sự, chúng ta cần phải nghe thấy tiếng kêu của người nghèo và cam kết bản thân chấm dứt tình trạng bị gạt ra bên lề của họ. Đồng thời, tôi kêu gọi người nghèo trong các thành phố và cộng đoàn của chúng ta không đánh mất ý nghĩa của tinh thần nghèo khó phúc âm là một phần của cuộc sống hàng ngày của họ.

 

5. Chúng ta thấy vô cùng khó khăn cho thế giới ngày nay nhìn thấy sự nghèo khó rõ ràng dưới những hình thức của nó. Tuy nhiên sự nghèo khó thách đố chúng ta bằng hàng ngàn cách khác nhau mỗi ngày, trong những khuôn mặt hằn lên những dấu vết đau khổ, bị gạt ra bên lề, đàn áp, bạo lực, tra tấn và tù tội, chiến tranh, bị tước mất tự do và nhân phẩm, dốt nát và mù chữ, bệnh nan y và thiếu việc làm, buôn người và nô lệ, di tản, nghèo khổ và di cư cưỡng bức. Sự nghèo khó mang khuôn mặt của những phụ nữ, đàn ông và trẻ em bị bóc lột vì lợi tức, bị nghiền nát bởi những âm mưu của quyền lực và tiền bạc. Một danh sách vô cùng cay đắng và dài vô tận mà chúng ta phải thống kê để thêm vào cho sự nghèo khó được sinh ra từ bất công xã hội, sự suy đồi về đạo đức, lòng tham của một nhóm ít người được chọn, và sự thờ ơ chung!

 

Thật đáng buồn, trong thời đại của chúng ta, ngay cả những gia sản phô trương tích lũy trong tay của số ít người đặc quyền, thường có liên quan đến những hoạt động phi pháp và sự bóc lột kinh hoàng về nhân phẩm, có một sự phát triển chóng mặt về nghèo túng trong nhiều khu vực xã hội rộng lớn trên khắp thế giới. Đứng trước viễn cảnh này, chúng ta không thể giữ thụ động, càng không thể đầu hàng. Có một cái nghèo dập tắt tinh thần sáng kiến của nhiều người trẻ bằng cách không cho họ có cơ hội tìm được việc làm. Có một cái nghèo làm lu mờ ý thức về trách nhiệm cá nhân và bắt người khác phải làm việc trong khi chúng ta đi tìm đặc quyền. Có một cái nghèo đầu độc những sức mạnh của sự chung sức và để rất ít chỗ trống cho những tài năng; bằng cách này nó hạ thấp công lao của những người lao động và sản xuất. Với tất cả những hình thức nghèo đó chúng ta phải trả lời bằng một tầm nhìn mới về cuộc sống và xã hội.

 

Tất cả những người nghèo – như Chân phước Phao-lô VI thích sử dụng – thuộc về Giáo hội theo “quyền phúc âm” (Diễn từ khai mạc Phiên họp thứ hai của Công đồng Vatican Hai, 29 tháng Chín, 1963), và đòi hỏi chúng ta một sự lựa chọn căn bản thay cho họ. Vì vậy, phúc cho những bàn tay rộng mở ôm lấy người nghèo và giúp đỡ họ: đó là những bàn tay đem lại hy vọng. Phúc cho những bàn tay vượt qua được rào cản về văn hóa, tôn giáo và quốc tịch, và rót đổ dầu thơm của sự ủi an trên những vết thương của nhân loại. Phúc cho những bàn tay không đòi hỏi sự hoàn trả, những bàn tay không bao giờ nói “nếu” hoặc “nhưng” hoặc “có lẽ”: đó là những bàn tay chuyển phúc lành của Thiên Chúa xuống trên những anh chị em của họ.

 

6. Kết thúc Năm Thánh Lòng Thương xót, tôi muốn đưa ra cho Giáo hội một Ngày Người Nghèo Thế Giới, để các cộng đoàn Ki-tô hữu trên khắp thế giới có thể trở thành một dấu chỉ mạnh mẽ hơn cho tình thương của Đức Ki-tô cho những người hèn mọn nhất và thiếu thốn nhất. Cùng với những Ngày Thế Giới được khởi xướng bởi các vị Tiền nhiệm của tôi, đã trở thành một truyền thống trong đời sống của các cộng đoàn của chúng ta, tôi mong rằng khi thêm ngày này sẽ làm rõ nét cho tính trọn vẹn của phúc âm, tức là tình yêu thương đặc biệt dành cho người nghèo.

 

Tôi mời gọi toàn thể Giáo hội, và tất cả mọi người thiện chí ở khắp nơi, hướng về ngày này để nhìn đến tất cả những người giơ tay lên cao để cầu xin sự giúp đỡ và tình liên đới của chúng ta. Họ là anh chị em của chúng ta, được tạo dựng và được yêu thương bởi một Cha Trên Trời. Trên hết, Ngày này ngụ ý khuyến khích tất cả các tín hữu hãy chống lại văn hóa loại trừ và lãng phí, và giữ lấy văn hóa gặp gỡ. Đồng thời, tất cả mọi người, không phụ thuộc vào nền tảng tôn giáo, được mời gọi hãy mở rộng vòng tay và chia sẻ với người nghèo qua những dấu chỉ cụ thể của tình liên đới và tình huynh đệ. Thiên Chúa tạo dựng thiên đàng và trái đất cho tất cả mọi người; nhưng thật đáng buồn một số người lại dựng nên những rào chắn, những bức tường và hàng rào, phản bội lại quà tặng nguyên thủy được ban cho toàn thể nhân loại, không ai bị loại trừ.

 

7. Mong ước của tôi là, trong tuần lễ trước Ngày Người Nghèo Thế giới, năm nay rơi vào ngày 19 tháng Mười Một, Chúa nhật Ba mươi ba của Mùa Thường Niên, các cộng đoàn Ki-tô hữu sẽ dùng mọi cố gắng để tạo ra những cuộc gặp gỡ và tình bạn, sự hỗ trợ cụ thể và trong tình liên đới. Họ có thể mời người nghèo và những người thiện nguyện cùng tham dự Thánh Lễ trong Chúa nhật này, theo cách để nó trở thành một lễ mừng đích thực hơn nữa trong Ngày Lễ trọng Chúa Giê-su Ki-tô Vua Vũ trụ, vào Chúa nhật sau đó. Vương quyền của Đức Ki-tô trở nên rõ nét nhất trên đồi Gôn-gô-tha, khi mà Đấng Vô Tội, bị đóng đinh trên thập giá, nghèo hèn, trần truồng và bị tước hết tất cả mọi thứ, nhập thế và mặc khải tính toàn vẹn của tình yêu của Thiên Chúa. Sự vâng phục tuyệt đối của Chúa Giê-su với Chúa Cha thể hiện sự hoàn toàn nghèo khó của Ngài và tỏ lộ sức mạnh của Tình yêu đã đưa Ngài đến sự sống mới trong ngày Phục sinh.

 

Trong ngày Chúa nhật này, nếu ở nơi chúng ta sống có người nghèo đi tìm sự bảo vệ và hỗ trợ, chúng ta hãy đến gần họ: nó sẽ là một giây phút rất hữu ích để gặp gỡ Thiên Chúa mà chúng ta tìm kiếm. Đi theo giáo huấn của Tin mừng (x. St 18:3-5; Heb 13:2), chúng ta hãy chào đón họ như là những người khách được trọng vọng tại bàn của chúng ta; họ có thể trở thành những người thầy giúp chúng ta sống đức tin một cách vững vàng hơn. Bằng sự tin tưởng và sẵn sàng đón nhận giúp đỡ, trong cách thầm lặng và mừng vui, họ cho chúng ta thấy cách sống đơn sơ và trút bỏ hoàn toàn bản thân trước sự quan phòng của Thiên Chúa là vô cùng quan trọng.

 

8. Cầu nguyện phải là trung tâm của tất cả những sáng kiến cụ thể được thực hiện trong ngày này. Chúng ta không quên rằng Kinh Lạy Cha là lời cầu nguyện của người nghèo. Lời xin lương thực hàng ngày bày tỏ lòng phó thác của chúng ta nơi Thiên Chúa xin những nhu cầu căn bản cho cuộc sống. Mọi điều Chúa Giê-su dạy chúng ta trong lời kinh này diễn tả và mang đến tiếng kêu của tất cả những người đang chịu đựng sự bấp bênh của cuộc sống và thiếu thốn những nhu cầu cần thiết cho họ. Khi các môn đệ xin Chúa Giê-su dạy các ông cầu nguyện, Người đã trả lời bằng những lời của người nghèo kêu xin lên Chúa Cha duy nhất của chúng ta, trong Ngài mọi người đều là anh chị em. Kinh Lạy Cha là lời kinh cầu với số nhiều: lương thực mà chúng ta xin là “của chúng con,” việc đó đòi hỏi sự chia sẻ, cùng tham gia và trách nhiệm chung. Trong lời kinh này, tất cả chúng ta thừa nhận những nhu cầu của chúng ta để vượt qua được mọi hình thức của tính ích kỷ, để đi vào niềm vui của sự chấp nhận lẫn nhau.

 

9. Tôi yêu cầu các huynh đệ Giám mục của tôi, và tất cả những linh mục và phó tế theo ơn gọi của mình có sứ vụ hỗ trợ người nghèo, cùng với tất cả những người tận hiến và các hội đoàn, các phong trào và những người thiện nguyện ở khắp mọi nơi, giúp làm cho Ngày Người Nghèo Thế Giới này trở thành một truyền thống góp phần thiết thực và công cuộc rao giảng phúc âm trong thế giới hôm nay.

 

Vì vậy, Ngày Thế Giới mới này, trở thành một lời thỉnh cầu mạnh mẽ đối với lương tâm người tín hữu chúng ta, cho phép chúng ta phát triển trong niềm tin vững rằng chia sẻ với người nghèo làm cho chúng ta có thể hiểu được chân lý sâu thẳm của Tin mừng. Người nghèo không phải là một vấn đề: họ là một nguồn gia tài để chúng ta có thể lấy ra trong khi phấn đấu để chấp nhận và thực hành đời sống của chúng ta theo đúng bản chất của Tin mừng.

 

Viết từ Vatican, 13 tháng Sáu, 2017

 

Kính nhớ Thánh An-tôn Padua

[Nguồn: radiovaticana]

 

[Chuyển ngữ: TRI KHOAN

 

 

MESSAGE OF HIS HOLINESS POPE FRANCIS

FOR THE FIRST WORLD DAY OF THE POOR

 

Thirty-third Sunday in Ordinary Time

19 November 2017

 

Let us love, not with words but with deeds

1.         “Little children, let us not love in word or speech, but in deed and in truth” (1 Jn 3:18).  These words of the Apostle John voice an imperative that no Christian may disregard.  The seriousness with which the “beloved disciple” hands down Jesus’ command to our own day is made even clearer by the contrast between the empty words so frequently on our lips and the concrete deeds against which we are called to measure ourselves.  Love has no alibi.  Whenever we set out to love as Jesus loved, we have to take the Lord as our example; especially when it comes to loving the poor.  The Son of God’s way of loving is well-known, and John spells it out clearly.  It stands on two pillars: God loved us first (cf. 1 Jn 4:10.19), and he loved us by giving completely of himself, even to laying down his life (cf. 1 Jn 3:16).

            Such love cannot go unanswered.  Even though offered unconditionally, asking nothing in return, it so sets hearts on fire that all who experience it are led to love back, despite their limitations and sins.  Yet this can only happen if we welcome God’s grace, his merciful charity, as fully as possible into our hearts, so that our will and even our emotions are drawn to love both God and neighbour.  In this way, the mercy that wells up – as it were – from the heart of the Trinity can shape our lives and bring forth compassion and works of mercy for the benefit of our brothers and sisters in need.

2.         “This poor man cried, and the Lord heard him” (Ps 34:6).  The Church has always understood the importance of this cry.  We possess an outstanding testimony to this in the very first pages of the Acts of the Apostles, where Peter asks that seven men, “full of the Spirit and of wisdom” (6:3), be chosen for the ministry of caring for the poor.  This is certainly one of the first signs of the entrance of the Christian community upon the world’s stage: the service of the poor.  The earliest community realized that being a disciple of Jesus meant demonstrating fraternity and solidarity, in obedience to the Master’s proclamation that the poor are blessed and heirs to the Kingdom of heaven (cf. Mt 5:3).

            “They sold their possessions and goods and distributed them to all, as any had need” (Acts 2:45).  In these words, we see clearly expressed the lively concern of the first Christians.  The evangelist Luke, who more than any other speaks of mercy, does not exaggerate when he describes the practice of sharing in the early community.  On the contrary, his words are addressed to believers in every generation, and thus also to us, in order to sustain our own witness and to encourage our care for those most in need.  The same message is conveyed with similar conviction by the Apostle James.  In his Letter, he spares no words: “Listen, my beloved brethren.  Has not God chosen those who are poor in the world to be rich in faith and heirs of the kingdom that he has promised to those who love him?  But you have dishonoured the poor man.  Is it not the rich who oppress you, and drag you into court? ... What does it profit, my brethren, if a man says he has faith but has not works?  Can his faith save him?  If a brother or sister is poorly clothed and in lack of daily food, and one of you says to them, ‘Go in peace, be warmed and filled”, without giving them the things needed for the body; what does it profit?  So faith by itself, if it has not works, is dead’ (2:5-6.14-17).

3.         Yet there have been times when Christians have not fully heeded this appeal, and have assumed a worldly way of thinking.  Yet the Holy Spirit has not failed to call them to keep their gaze fixed on what is essential.  He has raised up men and women who, in a variety of ways, have devoted their lives to the service of the poor.  Over these two thousand years, how many pages of history have been written by Christians who, in utter simplicity and humility, and with generous and creative charity, have served their poorest brothers and sisters!

            The most outstanding example is that of Francis of Assisi, followed by many other holy men and women over the centuries.  He was not satisfied to embrace lepers and give them alms, but chose to go to Gubbio to stay with them.  He saw this meeting as the turning point of his conversion: “When I was in my sins, it seemed a thing too bitter to look on lepers, and the Lord himself led me among them and I showed them mercy.  And when I left them, what had seemed bitter to me was changed into sweetness of mind and body” (Text 1-3: FF 110).  This testimony shows the transformative power of charity and the Christian way of life.

            We may think of the poor simply as the beneficiaries of our occasional volunteer work, or of impromptu acts of generosity that appease our conscience.  However good and useful such acts may be for making us sensitive to people’s needs and the injustices that are often their cause, they ought to lead to a true encounter with the poor and a sharing that becomes a way of life.  Our prayer and our journey of discipleship and conversion find the confirmation of their evangelic authenticity in precisely such charity and sharing.  This way of life gives rise to joy and peace of soul, because we touch with our own hands the flesh of Christ.  If we truly wish to encounter Christ, we have to touch his body in the suffering bodies of the poor, as a response to the sacramental communion bestowed in the Eucharist.  The Body of Christ, broken in the sacred liturgy, can be seen, through charity and sharing, in the faces and persons of the most vulnerable of our brothers and sisters.  Saint John Chrysostom’s admonition remains ever timely: “If you want to honour the body of Christ, do not scorn it when it is naked; do not honour the Eucharistic Christ with silk vestments, and then, leaving the church, neglect the other Christ suffering from cold and nakedness” (Hom. in Matthaeum, 50.3: PG 58).

            We are called, then, to draw near to the poor, to encounter them, to meet their gaze, to embrace them and to let them feel the warmth of love that breaks through their solitude.  Their outstretched hand is also an invitation to step out of our certainties and comforts, and to acknowledge the value of poverty in itself.

4.         Let us never forget that, for Christ’s disciples, poverty is above all a call to follow Jesus in his own poverty.  It means walking behind him and beside him, a journey that leads to the beatitude of the Kingdom of heaven (cf. Mt 5:3; Lk 6:20).  Poverty means having a humble heart that accepts our creaturely limitations and sinfulness and thus enables us to overcome the temptation to feel omnipotent and immortal.  Poverty is an interior attitude that avoids looking upon money, career and luxury as our goal in life and the condition for our happiness.  Poverty instead creates the conditions for freely shouldering our personal and social responsibilities, despite our limitations, with trust in God’s closeness and the support of his grace.  Poverty, understood in this way, is the yardstick that allows us to judge how best to use material goods and to build relationships that are neither selfish nor possessive (cf. Catechism of the Catholic Church, Nos. 25-45).

            Let us, then, take as our example Saint Francis and his witness of authentic poverty.  Precisely because he kept his gaze fixed on Christ, Francis was able to see and serve him in the poor.  If we want to help change history and promote real development, we need to hear the cry of the poor and commit ourselves to ending their marginalization.  At the same time, I ask the poor in our cities and our communities not to lose the sense of evangelical poverty that is part of their daily life.

5.         We know how hard it is for our contemporary world to see poverty clearly for what it is.  Yet in myriad ways poverty challenges us daily, in faces marked by suffering, marginalization, oppression, violence, torture and imprisonment, war, deprivation of freedom and dignity, ignorance and illiteracy, medical emergencies and shortage of work, trafficking and slavery, exile, extreme poverty and forced migration.  Poverty has the face of women, men and children exploited by base interests, crushed by the machinations of power and money.  What a bitter and endless list we would have to compile were we to add the poverty born of social injustice, moral degeneration, the greed of a chosen few, and generalized indifference!

            Tragically, in our own time, even as ostentatious wealth accumulates in the hands of the privileged few, often in connection with illegal activities and the appalling exploitation of human dignity, there is a scandalous growth of poverty in broad sectors of society throughout our world.  Faced with this scenario, we cannot remain passive, much less resigned.  There is a poverty that stifles the spirit of initiative of so many young people by keeping them from finding work.  There is a poverty that dulls the sense of personal responsibility and leaves others to do the work while we go looking for favours.  There is a poverty that poisons the wells of participation and allows little room for professionalism; in this way it demeans the merit of those who do work and are productive.  To all these forms of poverty we must respond with a new vision of life and society.

            All the poor – as Blessed Paul VI loved to say – belong to the Church by “evangelical right” (Address at the Opening of the Second Session of the Second Vatican Ecumenical Council, 29 September 1963), and require of us a fundamental option on their behalf.  Blessed, therefore, are the open hands that embrace the poor and help them: they are hands that bring hope.  Blessed are the hands that reach beyond every barrier of culture, religion and nationality, and pour the balm of consolation over the wounds of humanity.  Blessed are the open hands that ask nothing in exchange, with no “ifs” or “buts” or “maybes”: they are hands that call down God’s blessing upon their brothers and sisters.

6.         At the conclusion of the Jubilee of Mercy, I wanted to offer the Church a World Day of the Poor, so that throughout the world Christian communities can become an ever greater sign of Christ’s charity for the least and those most in need.  To the World Days instituted by my Predecessors, which are already a tradition in the life of our communities, I wish to add this one, which adds to them an exquisitely evangelical fullness, that is, Jesus’ preferential love for the poor.

            I invite the whole Church, and men and women of good will everywhere, to turn their gaze on this day to all those who stretch out their hands and plead for our help and solidarity.  They are our brothers and sisters, created and loved by the one Heavenly Father.  This Day is meant, above all, to encourage believers to react against a culture of discard and waste, and to embrace the culture of encounter.  At the same time, everyone, independent of religious affiliation, is invited to openness and sharing with the poor through concrete signs of solidarity and fraternity.  God created the heavens and the earth for all; yet sadly some have erected barriers, walls and fences, betraying the original gift meant for all humanity, with none excluded.

7.         It is my wish that, in the week preceding the World Day of the Poor, which falls this year on 19 November, the Thirty-third Sunday of Ordinary Time, Christian communities will make every effort to create moments of encounter and friendship, solidarity and concrete assistance.  They can invite the poor and volunteers to take part together in the Eucharist on this Sunday, in such a way that there be an even more authentic celebration of the Solemnity of Our Lord Jesus Christ, Universal King, on the following Sunday.  The kingship of Christ is most evident on Golgotha, when the Innocent One, nailed to the cross, poor, naked and stripped of everything, incarnates and reveals the fullness of God’s love.  Jesus’ complete abandonment to the Father expresses his utter poverty and reveals the power of the Love that awakens him to new life on the day of the Resurrection.

            This Sunday, if there are poor people where we live who seek protection and assistance, let us draw close to them: it will be a favourable moment to encounter the God we seek.  Following the teaching of Scripture (cf. Gen 18:3-5; Heb 13:2), let us welcome them as honoured guests at our table; they can be teachers who help us live the faith more consistently.  With their trust and readiness to receive help, they show us in a quiet and often joyful way, how essential it is to live simply and to abandon ourselves to God’s providence.

8.         At the heart of all the many concrete initiatives carried out on this day should always be prayer.  Let us not forget that the Our Father is the prayer of the poor.  Our asking for bread expresses our entrustment to God for our basic needs in life.  Everything that Jesus taught us in this prayer expresses and brings together the cry of all who suffer from life’s uncertainties and the lack of what they need.  When the disciples asked Jesus to teach them to pray, he answered in the words with which the poor speak to our one Father, in whom all acknowledge themselves as brothers and sisters.  The Our Father is a prayer said in the plural: the bread for which we ask is “ours”, and that entails sharing, participation and joint responsibility.  In this prayer, all of us recognize our need to overcome every form of selfishness, in order to enter into the joy of mutual acceptance.

9.         I ask my brother Bishops, and all priests and deacons who by their vocation have the mission of supporting the poor, together with all consecrated persons and all associations, movements and volunteers everywhere, to help make this World Day of the Poor a tradition that concretely contributes to evangelization in today’s world.

            This new World Day, therefore, should become a powerful appeal to our consciences as believers, allowing us to grow in the conviction that sharing with the poor enables us to understand the deepest truth of the Gospel.  The poor are not a problem: they are a resource from which to draw as we strive to accept and practise in our lives the essence of the Gospel.

From the Vatican, 13 June 2017

Memorial of Saint Anthony of Padua