NHƯ TRÁI MẮM: LÁ THƯ NGỎ (3) GỬI SIMON - PHÊRÔ

 

LÁ THƯ NGỎ (3) GỬI SIMON - PHÊRÔ

Simon mến!

Tớ tiếp tục đi tìm Thầy trong con người của cậu, qua những hình ảnh cuối cùng.

Hình ảnh 9. Vườn Cây Dầu đêm hôm ấy.

Sau bữa tiệc buồn hơn sự chết, Thầy trò chúng mình kéo nhau ra vườn Cây Dầu để nghỉ đêm. Thầy thì không ngủ được một tí nào. Cứ cầu nguyện, cứ thổn thức. Lúc thì quỳ gối, chắp tay và thầm thĩ. Lúc thì phủ phục, nói không thành lời. Trò thì lăn lưng ra mà ngủ một đống. Chưa bao giờ tớ thấy cậu tồi tệ đến như thế. Hai lần Thầy đến đánh thức và năn nỉ cậu cầu nguyện. Cầu nguyện để khỏi sa ngã. Cầu nguyện để chia sẻ nỗi cô đơn của Thầy. Thế mà cậu cứ vùi đầu vào hai cánh tay mà ngủ. Vô tư, vô tâm, vô tình đến chịu không nổi. Y như cái bị thịt không có linh hồn. Đáng ghét quá chừng!

Lần thứ ba Thầy lại đến để đánh thức cậu, không phải để năn nỉ cậu cầu nguyện, mà để bảo cậu mở mắt ra mà xem Thầy bị bắt, bị trói, bị lôi đi...

Tớ thấy cậu đứng bật dậy, ngơ ngác một tích tắc, rồi vung gươm chém loáng một cái. Sau đó tớ chỉ còn thấy Thầy đang ôm thằng vệ binh bị thương, âu yếm gắn lại cái vành tai vừa bị chém đứt. Còn cậu thì tớ chả thấy đâu. Biến mất dạng. Con người của cậu là như thế đó: đầu rỗng tuếch; tim lạnh ngắt; chỉ còn một cánh tay vạm vỡ và dại dột.

Thầy bị lôi đi giữa ánh đuốc bập bùng. Còn chúng mình thì chạy thục mạng vào bóng tối mịt mùng chẳng biết phương hướng là đâu. Thậm chí có đứa còn chạy tồng ngồng như con nhộng. Bây giờ nhớ lại, tớ thấy xấu hổ quá chừng và thương Thầy quá thể.

Hình ảnh 10. Dinh Thượng Tế

Chạy mà không có ai đuổi theo, tớ hết sợ. Tớ mò về nội thành, để thăm dò tin tức. Tớ thấy cậu thập thò ở cổng dinh Thượng tế. Cậu không thấy tớ, nhưng tớ thấy cậu từ đầu đến chân. Có lúc cậu bịt mặt, dựa lưng vào tường. Cậu hối hận. Cậu xấu hổ. Có lúc cậu đứng nép bên cánh cổng, nghiêng đầu ngó vào bên trong. Cậu thương Thầy quá, chả biết số phận Thầy ra sao.

Bà gác cổng bắt chéo chân, vươn vai một cái, liếc mắt nhìn cậu. Cậu không nhìn bà, cứ lom lom nhìn vào tiền sảnh. Bà nhổ nước miếng, chửi thầm trong bụng: “Đàn ông Galilê, quê ơi là quê!”.

Thấy cậu thập thò, lấp ló, Gioan chạy ra xởi lởi với bà gác cổng:

- Bạn của em đấy.

- Ừ, vào đi. Nhìn mặt là tao biết liền, anh này cũng ở trong nhóm Galilê, theo ông Giêsu.

- Chị nói gì mà kỳ vậy? Tôi có biết ông Giêsu là ai đâu. Cậu vừa nói vừa lẽo đẽo theo sát gót thằng Gioan.

Tớ vội chen vào, mỉm cười với bà gác cổng:

- Em cũng là bạn của thằng Gioan. Cho em vào với.

Bà gác cổng gật đầu, mỉm cười liếc mắt đưa tình.

Trời đã sang xuân, nhưng thời tiết vẫn còn lạnh quá. Ba đứa chúng mình bu quanh đống lửa, xen kẽ với bọn vệ binh. Đứa nào cũng thấp thỏm lo cho Thầy đang bị xét xử trong dinh thượng tế. Mặt cậu rầu rầu như lá bầu dính cứt trâu. Mắt cậu lấm lét vừa nhìn xuống vừa liếc xéo xung quanh.

Bỗng một thằng vệ binh chỉ ngay vào mặt cậu, vừa nói vừa cười.

- Thằng này cũng ở trong nhóm Giêsu.

- Mày nói gì tao không hiểu.

- Đừng có chối. Tao nghe giọng Galilê là tao biết rồi: Vừa cứng vừa đớt.

Cậu cúi gầm mặt xuống, vừa xấu hổ vừa sợ hãi. Chưa kịp ngửa mặt nhìn lên, thì một thằng vệ binh nữa lại tấn công cậu:

- Đúng nó đấy. Hồi nãy tao thấy nó ở trong vườn Cây Dầu. Chính nó chém đứt tai thằng Mancô em của tớ.

- Không có! Tôi không biết chuyện này. Đừng nói bậy.

Cậu vừa cãi, vừa đặt hai bàn tay lên hai đầu gối, nhún một cái, đứng bật dậy và chuồn lẹ. Cậu vừa quay lưng, thì con gà trống cồ, từ trong chuồng, phóng ra một hồi gáy vừa dài vừa to: “Cúc...cu...cu.”

Lúc ấy Thầy đã lãnh án tử, đang ngồi ở trước tiền sảnh. Bọn vệ binh dày vò, chế giễu và đày đọa Thầy y như bầy mèo hoang đang vờn con chuột lắt sắp bị chúng ăn thịt. Cậu nhìn Thầy một cái rồi cúi xuống nhìn hai bàn chân. Thầy nhìn cậu, nhìn rất lâu, như ghim ánh mắt vào tim gan của cậu. Cậu khóc hụ lên, chạy ù ra phía cổng, rồi biến mất dạng trong bóng đêm. Bà gác cổng liếc mắt đuổi theo, buông thõng một câu: “Đàn ông gì mà ... y như đàn bà”.

Cậu thì biến mất dạng. Nhưng tớ đoán là cậu không dám về gặp anh em. Cậu ngồi ở một gốc cây nào đó trong vườn Cây Dầu, để khóc một mình. Khóc vì xấu hổ. Khóc vì hối hận. Khóc vì thương Thầy.

Còn tớ thì cứ luẩn quẩn trong sân thượng tế để chia sẻ nỗi đau của Thầy. Tớ đoán là Thầy đang nghĩ về cậu, một đứa học trò ruột để ngoài da, nhưng rất thật thà. Thầy không buồn không giận, mà chỉ thương cậu thôi.

Hình ảnh 11. Ngôi mộ trống.

Sáng Chúa nhật hôm ấy, tớ thấy cậu phờ phạc đến thảm thê: má hóp; mắt lõm, cằm đè xuống ngực y như ông già sắp chết đói. Bỗng chị Mácđala chạy về, vừa thở hổn hển, vừa hốt hoảng kể lể:

- Chết rồi anh Simon ơi! Không biết ai lấy trộm mất xác của Thầy rồi.

- Trời ơi là trời! Thật không?

- Thật! Em vừa ở đấy về nè.

Cậu ôm lấy cột, đứng ngất đi một hồi lâu. Gioan đến đỡ cậu ngồi xuống … Khi đã lại sức, hai anh em cùng chạy ra mộ. Gioan chạy vù vù. Còn cậu thì vừa chạy, vừa lấy hơi. Gioan tới mộ trước. Cậu lẹt đẹt tới sau. Hai đứa rủ nhau vào. Cậu há hốc mồm, trợn mắt trắng dã … vì không thấy xác Thầy đâu. Cậu thất vọng ra về, đi thất thểu như người mất hồn. Tuyệt vọng!

Tớ bảo cậu quy tụ anh em lại để bủa ra đi tìm xác Thầy. Cậu chỉ lắc đầu, không nói nên lời. Tớ chửi thầm trong bụng: “Thủ trưởng mà như con gà què; mất xác Thầy mà miệng câm như hến. Hèn!” Tớ xúi Gioan thăm dò bên phía Caipha xem đứa nào ăn trộm xác Thầy và giấu xác Thầy ở đâu. Nó ghé miệng vào tai tớ, nói một câu gọn lỏn: “Thầy sống lại thật rồi”. Thấy Gioan có vẻ tự tin, tớ bắt đầu suy nghĩ về những lần Thầy tiên báo. Tớ thấy hơi yên tâm. Nhìn cậu một lần nữa. Cậu vẫn giống như tàu lá chuối khô...

Hình ảnh 12. Thầy hiện ra trên bờ hồ.

Bầu khí sôi bỏng ở thủ đô đã lùi vào dĩ vãng. Bọn chúng mình rút về Galilê. Tất cả đều tập trung ở nhà cậu. Đúng là huynh đệ chi binh. Tình nghĩa chan hòa. Đúng là thủ trưởng, nuôi cơm một bầy em. Một buổi sáng, cậu vác dầm ra bến. Tớ hỏi:

- Cậu đi đâu đấy?

- Tớ đi thả lưới đây.

- Cho chúng tớ đi với.

Đứa nào cũng cười toe toét, dập dìu kéo nhau xuống thuyền, kể cả thằng Nathanaen, dân miền núi, chẳng biết sông nước là gì. Suốt ba năm theo Thầy, tớ chưa bao giờ thấy cậu được anh em quý mến và trọng vọng như hôm ấy. Tớ mường tượng thấy cậu có một tương lai xán lạn. Mừng cho cậu. Mừng cho anh em.

Nhưng buồn cười quá, vì chuyến ra khơi hôm ấy thất bại hoàn toàn. Trắng tay! Thuyền vừa ghé bến, thì một người khách lạ hỏi thăm:

- Các chú không bắt được con cá nào sao?

- Thưa Bác, không!

- Cứ thả lưới xuống bên phải thì mới có.

Chúng mình ngoan ngoãn nghe ông khách lạ y như thằng cu tí nghe mẹ bảo đi quét nhà. Thế mà ai ngờ… chúng mình vớ được một mẻ cá nhiều cực kỳ. Gioan là người đầu tiên phát giác ra người khách ấy là Thầy. Hắn bảo cậu: “Chúa đấy!”. Cậu vội nhảy tùm xuống nước, vì Cậu đang tự nhiên như ông Ađam. Lần đầu tiên tớ thấy cậu xấu hổ, vì đã… tô hô.

Chúng mình kéo lưới và cá lên bờ, ngồi quây quần bên bếp lửa. Cá và bánh Thầy nướng sẵn. Chúng mình im lặng ngồi ăn. Chẳng đứa nào dám mở miệng hỏi chuyện. Vui quá, nhưng im phăng phắc. Đứa nào cũng vừa cúi mặt làm bộ bận ăn, nhưng cặp mắt vẫn láo liên nhìn trộm Thầy. Thầy nhìn mặt từng đứa, im lặng không nói, nhưng mỉm cười, cặp mắt hấp háy như đùa nghịch với trẻ con.

Bỗng Thầy đứng lên làm hiệu cho cậu và Gioan đi theo. Thầy nói gì đó với cậu, tớ không nghe được nhưng tớ thấy cậu sụ mặt, xấu hổ. Sau này Gioan bật mí cho tớ. Thầy hỏi cậu một lần, hai lần, rồi ba lần. Lần nào cũng chỉ là: “Anh có mến Thầy hơn những người này không?” Tại sao vậy? Tại cậu giống con nít. Và để nhắc lại chuyện cậu chối Thầy ba lần. Tớ thầm nghĩ: “Cũng vừa! Chừa cho đến chết. Hết cái thói “Ta đây”.

Nguồn: Báo Công giáo và Dân tộc