DỤ NGÔN NHỮNG NÉN BẠC (25,14-30)

DỤ NGÔN NHỮNG NÉN BẠC (25,14-30)

 

·        Điểm nóng của dụ ngôn

·        Dụ ngôn này gồm nhiều chi tiết:

-      Ông chủ đi xa.

-      Trước khi đi ông giao tiền cho tôi tớ.

-      Tôi tớ xử lý tiền như thế nào.

-      Tôi tớ báo cáo và chủ thưởng phạt.

·        Nếu tính theo số câu mà Mt dùng để mô tả các chi tiết thì chi tiết thứ nhất chỉ có ½ câu, chi tiết thứ hai 1,1/2 câu, chi tiết thứ ba 3 câu, chi tiết thứ tư 12 câu. Nhận xét này đủ cho ta thấy các chi tiết 1,2 và 3 (chủ đi xa, giao tiền, tôi tớ xử dụng tiền) chỉ làm nhập đề cho chi tiết chính là chi tiết thứ tư: báo cáo cách xử dụng tiền.

-      Về việc báo cáo cách xử dụng tiền, có 3 người tôi tớ trong đó hai tôi tớ trước được Mt mô tả mỗi người chỉ bằng hai câu, tổng cộng cả hai được 4 câu; riêng tôi tớ tứ ba được mô tả tới 7 câu. Điều này lại cho thấy tác giả lại nhấn mạnh vào tôi tớ thứ ba. Hơn nữa tổng số câu nói về hai tôi tơ kia là 4 câu, số câu nói về tôi tớ thứ ba là 7 câu. Vậy có thể đoán ở đây Mt xử dụng bút pháp đối chiếu. Mà theo bút pháp này, vế thứ nhất không quan trọng, nó chỉ dùng để làm nổi bật vế thứ hai mà thôi (xem them các thí dụ trong Sách Quan Án chương 9, trong dụ ngôn gieo giống. dụ ngôn các thợ vườn nho, dụ ngôn đứa con đi hoang…). Như vậy điểm nòng của dụ ngôn này là báo cáo của người tôi tớ thứ ba (không làm tiền sinh lời).

·        Một chỗ quan trọng bị bỏ sót

-      Câu mở đầu dụ ngôn này (c 14) trong nguyên bản hy lạp là: “Bởi vì về Nước Trời cũng giống như người sắp trẩy đi xa…”. Rất tiếc là hầu hết các bản dịch, kể cả bản dịch BJ, đều bỏ sót chữ “Bởi vì” này. Mà đây lại là một chữ rất quan trọng, nó nối kết dụ ngôn này với câu cuối (c 13) của dụ ngôn trước: “Vậy các con hãy tỉnh thức (c 13)… Bởi vì Nước Trời cũng giống như người sắp trẩy đi xa… (c 14)”.

-      Nếu ta để ý tới chữ “bởi vì” này thì ta sẽ khám phá dụ ngôn này nối tiếp nhau. Nếu dụ ngôn trước đó (10 trinh nữ) nói về sự tỉnh thức thì dụ ngôn này (các nén bạc) cũng nói về sự tỉnh thức.

-      Thêm một chi tiết củng cố cho suy nghĩ này: ở câu 19 củ dụ ngôn này, Mt ghi “Sau một thời gian lâu dài”. Chi tiết này tương ứng với một chi tiết trong dụ ngôn 10 trinh nữ, đó là ở câu 5 “Vì tân lang đến trễ”. Rồi trong một sụ ngôn trước đó nữa (dụ ngôn về người quản gia) ở c 24,28. Người tôi tớ xấu nghĩ trong lòng rằng “chủ tôi về trễ”. Những chi tiết tương ứng nhau như vậy buộc ta phải nghĩ tới vấn đề mà các Kitô hữu sơ khai gặp phải, đó là sự trở lại của Đức Kitô: Ban đầu họ nghĩ là Ngài sắp sửa trở lại ngay, nhưng càng về sau càng không thấy Ngài trở lại, vì thế mà có người ngao ngán buông trôi không tỉnh thức nữa. Mt dùng một loạt dụ ngôn này để khuyên nhủ họ dù Đức Kitô chậm trở lại, nhưng cũng phải tỉnh thức.

·        Nhưng tĩnh từ của Mt

-      Trong c 26 của dụ ngôn này, người tôi tớ đào lỗ chôn tiền bị fán cho tĩnh từ “biếng nhác”. Thực ra nếu ta suy nghĩ cho kỹ, thì chưa chắc gì anh biếng nhác hơn là nếu nah làm theo gợi ý của chủ: đào lỗ chôn tiền cũng cực nhọc hơn so với cứ giao tiền cho ngân hàng: Chi tiết này khiến ta nghĩ rằng Mt xử dụng các tĩnh từ không theo nghĩa chính xác của khung cảnh câu chuyện, mà có ý giáo huấn các Kitô hữu.

-      Đây là thói quen của Mt. Theo thói quen này Mt đã gọi người xây nhà trên cát là ngu, người xây nhà trên đá là khôn (7,24-26) người quản gia lơ là nhiệm vụ là xấu. So sánh với Lc cũng kể hai chuyện này, ta không thấy những tĩnh từ đó trong bản văn của Lc (Lc 6,47-49 và 22,42-46), Mt và Lc đều kể câu chuyện người bất toại, nhưng Mt bảo các luật sĩ là có những tư tưởng xấu. trong khi Mc không ghi tĩnh từ này (so sánh Mt 9,4 với Mc 2,8). Mt và Lc cũng nói một chuyện những chỉ có Mt là bảo các ký lục và biệt phái là giả hình (so sánh với Mt 23,13-29 với Lc 11,39-52). Các chi tiết vừa nêu cho thấy Mt rất quan tâm giúp các độc giả mình phán đoán các chuyện ông viết.

-      Vậy Mt muôn gipú ta phán đoán thế nào về các nhân vật trong dụ ngôn này? Hai người tôi tớ đầu được Mt fán cho tĩnh từ “tốt” “trung tín” trong khi Lc chỉ có tĩnh từ “tốt”(Lc 19,17  Mt 25,21-23). Người tôi tớ hứ ba Lc nảo là “xấu” (Lc 19,22) còn Mt bảo “xấu  và lười biếng” (Mt 25,26) và “vô dụng” (c 30). Nghĩa là Mt xử dụng thêm ba tĩnh từ: trung tín, lười biếng vô dụng. Tại sao thế? Hãy xem tiếp.

-      Ở đầu dụ ngôn, Mt kể những tôi tớ tốt và trung tín tức thì đem tiền nhận được đi sinh lợi, Lc kông ghi chi tiết này. Ngụ ý của Mt là muốn đối chọi thái độ “mau mắn” này với thái độ “biếng nhác: của người tôi tớ thứ ba. Vậy “trung tín” là tích cực, còn “biếng nhác”là thụ động như vậy cung là vô dụng.

-      Trong những lời phán quyết của ông chủ có những chi tiết vượt quá sự thật: hai tôi tớ “trung tín” được mời vào nếm “sự vui mừng”; còn tôi tớ “biếng nhác và vô dụng” dù bị đuổi vào “nơi khóc lóc nghiến rang”. Các chi tiết này mang âm điệu  cánh chung và cho thấy quan tâm của Mt muốn dạy một bài học cho tín hữu mình.

-      Bai học của Mt là: dù ngày Parousia đến trễ những vẫn phải tỉnh thức. Tỉnh thức cũng có nghĩa là cứ trung thành thi hành nhiệm vụ của mình. Và trung thành thi hành nhiệm vụ không phải chỉ là nghe lời thôi. Nhưng còn là phải có sáng kiến để sao nhiệm vụ được thi hành tôt nhất, bởi vì “cứ chiếu theo tài trí mỗi người” (c 15).

·        Ý nghĩa những nén bạc

-      Trong nguyên bản, “nén bạc” là talent, một đơn vị tiền tệ trị giá 10.000 denier (denier bằng lương một ngày của một người thợ trung bình).

-      Dĩ nhiên Mt không có ý coi những talent này chỉ là những số tiền, mà là những ơn mà Thiên Chúa ban cho người ta.

-      Ơn đó là ơn gì? Có nhiều lối giải thích: đó là những tài năng, những hoàn cảnh thuận tiện, những ơn siêu nhiên… Nhưng nếu ta chú ý tới quan tâm của Mt thì trước hết đây là ơn được nghe Tin Mừng, và được hiểu Tin Mừng (“mỗi người theo tài trí của mình” c 15). Người môn đệ tốt và trung tín là kẻ không nghe suông, mà còn đem ra thực hành, ứng dụng vào cách sống hằng ngày của mình.