TIỂU SỬ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VN (THEO THÁNG)

TIỂU SỬ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VN

Tác giả: Lm. Nguyễn Ðức Việt Châu, SSS

http://www.dunglac.org

 

 

PHẦN I: TIẾN TRÌNH PHONG THÁNH. PAGEREF _Toc214686338 \h 4

PHẦN II : HẠNH TÍCH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO. PAGEREF _Toc214686339 \h 10

Tháng 1: PAGEREF _Toc214686340 \h 10

1. Ngày 7 tháng 1: Thánh Giuse Trần Văn Tuân, Giáo Dân (1825-1859) PAGEREF _Toc214686341 \h 10

2. Ngày 13. 01:Thánh Đa Minh Phạm Trọng Khảm, Chánh  Án (1780-1859) PAGEREF _Toc214686342 \h 13

3 .Ngày 13. 01:Thánh Luca Phạm Trọng Thìn, Chánh Tổng, (1820-1859) PAGEREF _Toc214686343 \h 14

4. Ngày 13. 01: Thánh Giuse Phạm Trọng Tả,  Chánh Tổng  (1800-1859). PAGEREF _Toc214686344 \h 17

5. Ngày 22 tháng 1:Thánh Matthêu Anphong Leziniana (Đậu)  Linh Mục. (1702-1745) PAGEREF _Toc214686345 \h 18

6. Ngày 22 tháng 1:Thánh Phanxicô Gil de Federich (Tế) Linh Mục. (1702-1745) PAGEREF _Toc214686346 \h 22

7. Ngày 30 tháng 1:Thánh Tôma Khuông Linh mục  (1780-1860) PAGEREF _Toc214686347 \h 24

Tháng 2. PAGEREF _Toc214686348 \h 28

8. Ngày 2 tháng 2:Thánh Gioan Thêôphan Vénard Ven Linh Mục. (1829-1861) PAGEREF _Toc214686349 \h 28

9. Ngày 13 tháng 2:Thánh Phaolô Lê Văn Lộc, Linh Mục. (1830-1859) PAGEREF _Toc214686350 \h 32

Tháng 3: PAGEREF _Toc214686351 \h 35

10. Ngày 11 tháng 3:Thánh Đa Minh Cẩm: Linh mục ( + 1859) PAGEREF _Toc214686352 \h 35

Tháng 4: PAGEREF _Toc214686353 \h 39

11. Ngày 2 tháng 4:Thánh Đa Minh Vũ Đình Tước, Linh mục ( 1775-1839) PAGEREF _Toc214686354 \h 39

12. Ngày 6 tháng 4:Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh, Linh mục (1793-1857) PAGEREF _Toc214686355 \h 41

13. Ngày 7 tháng 4:Thánh Phêrô Nguyễn Văn Lựu, Linh mục (1812-1861) PAGEREF _Toc214686356 \h 44

14. Ngày 27 tháng 4: Thánh Laurensô Nguyễn Văn Hưởng, Linh Mục. (1802-1850) PAGEREF _Toc214686357 \h 46

15. Ngày 28 tháng 4:Thánh Phaolô Phạm Khắc Khoan, Linh Mục  (1771-1840) PAGEREF _Toc214686358 \h 49

16. Ngày 28 tháng 4:Thánh Phêrô Nguyễn Văn Hiếu, Thầy Giảng  (1783-1840) PAGEREF _Toc214686359 \h 51

17. Ngày 28 tháng 4:Thánh Gioan Baotixita Đinh Văn Thành, Thầy Giảng (1796- 1840) PAGEREF _Toc214686360 \h 52

18. Ngày 30 tháng 4:Thánh Giuse Tuân, Linh mục  (1811-1861) PAGEREF _Toc214686361 \h 53

Tháng 5: PAGEREF _Toc214686362 \h 54

19. Ngày 1 tháng 5:Thánh Augustinô Schoeffler Đông, Linh mục (1822-1851) PAGEREF _Toc214686363 \h 54

20. Ngày 1 tháng 5:Thánh Gioan Louis Bonnard Hương, Linh Mục. (1824-1852) PAGEREF _Toc214686364 \h 56

21. Ngày 2 tháng 5:Thánh Giuse Nguyễn Văn Lựu, Trùm Họ  (1790-1854). PAGEREF _Toc214686365 \h 59

22. Ngày 9 tháng 5:Thánh Giuse Đỗ Quang Hiển, Linh mục (1775-1840) PAGEREF _Toc214686366 \h 60

23. Ngày 11 tháng 5:Thánh Matthêu Lê Văn Gẫm, Nhà Buôn (1813-1847) PAGEREF _Toc214686367 \h 61

24. Ngày 22 tháng 5:Thánh Laurensô Ngôn, Giáo dân ( 1840-1862) PAGEREF _Toc214686368 \h 64

25. Ngày 22 tháng 5:Thánh Micae Hồ Đình Hy, Quan Thái Bộc (1808-1857) PAGEREF _Toc214686369 \h 66

26. Ngày 25 tháng 5:Thánh Phêrô Đoàn Văn Vân, Thầy Giảng (1780-1857) PAGEREF _Toc214686370 \h 67

27. Ngày 26 tháng 5:Thánh Gioan Đoàn Thanh Hoan, Linh mục (1798-1861) PAGEREF _Toc214686371 \h 68

28. Ngày 26 tháng 5:Thánh Matthêu Nguyễn Văn Phượng, Trùm Họ ( 1808-1861) PAGEREF _Toc214686372 \h 70

29. Ngày 28 tháng 5:Thánh Phaolô Hạnh, Giáo dân ( 1827-1859) PAGEREF _Toc214686373 \h 71

Tháng 6: PAGEREF _Toc214686374 \h 72

30. Ngày 1 tháng 6:Thánh Giuse Túc,Giáo dân (1843-1862) PAGEREF _Toc214686375 \h 72

31. Ngày 2 tháng 6:Thánh Đa Minh Ninh, Giáo dân (1841-1862) PAGEREF _Toc214686376 \h 74

32. Ngày 3 tháng 6:Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) Thủ Bạ  (1802-1862) PAGEREF _Toc214686377 \h 76

33. Ngày 5 tháng 6:Thánh Luca Vũ Bá Loan, Linh mục (1756-1840) PAGEREF _Toc214686378 \h 77

34+35: Ngày 5 tháng 6:Thánh Đa Minh Toại, Ngư Phủ (1812-1862) PAGEREF _Toc214686379 \h 79

Thánh Đa Minh Huyên, Ngư Phủ (1817-1862) PAGEREF _Toc214686380 \h 79

36+37:  Ngày 6 tháng 6:Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng,Giáo dân (1800-1862) PAGEREF _Toc214686381 \h 80

Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần,Giáo dân (1802-1862) PAGEREF _Toc214686382 \h 80

38. Ngày 6 tháng 6:Thánh Vinh Sơn Dương, Thu Thuế (1821-1862) PAGEREF _Toc214686383 \h 81

39.Ngày 12 tháng 6:Thánh Augustinô Phan Viết Huy, Quân nhân (1795-1939) PAGEREF _Toc214686384 \h 84

40. Ngày 12 tháng 6:Thánh Nicolao Bùi Đức Thể, Quân nhân (1792-1839) PAGEREF _Toc214686385 \h 86

41. Ngày 12 tháng 6:Thánh Đa Minh Đinh Đạt, Quân nhân (1803-1839) PAGEREF _Toc214686386 \h 90

42-46:  Ngày 16 tháng 6: PAGEREF _Toc214686387 \h 91

Thánh Đa Minh Nguyên, Chánh Trương (1800-1862) PAGEREF _Toc214686388 \h 91

Thánh Đa Minh Nhi, Nông dân (1822-1962) PAGEREF _Toc214686389 \h 91

Thánh Đa Minh Nguyễn Đức Mạo, Nông gia  (1818-1862) PAGEREF _Toc214686390 \h 91

Thánh Vinh Sơn Tưởng, Chánh Tổng (1814-1862) PAGEREF _Toc214686391 \h 91

Thánh Anrê Tường, Nông gia (1812-1862) PAGEREF _Toc214686392 \h 91

47. Ngày 17 tháng 6, Thánh Phêrô Đa, Thợ Mộc (1802-1862) PAGEREF _Toc214686393 \h 93

48.Ngày 26 tháng 6:Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu, Thầy Giảng (1797-1838) PAGEREF _Toc214686394 \h 94

49. Ngày 26 tháng 6:Thánh Đa Minh Henares Minh, Giám mục (1765-1838) PAGEREF _Toc214686395 \h 95

50.Ngày 27 tháng 6:Thánh Tôma Toán, Thầy Giảng (1764-1840) PAGEREF _Toc214686396 \h 97

51. Ngày 30 tháng 6:Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến, Linh mục (1764-1838) PAGEREF _Toc214686397 \h 98

Tháng 7. PAGEREF _Toc214686398 \h 100

52. Ngày 3 tháng 7:Thánh Philipphê Phan Văn Minh ,Linh mục (1815-1853) PAGEREF _Toc214686399 \h 100

53. Ngày 4 tháng 7:Thánh Giuse Nguyễn Đình Uyển,Thầy Giảng (1773-1838) PAGEREF _Toc214686400 \h 103

54. Ngày 10 tháng 7:Thánh Phêrô Nguyễn Khắc Tự,Thầy Giảng  (1808-1840) PAGEREF _Toc214686401 \h 105

55. Ngày 10 tháng 7:Thánh Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh (tự Năm Quỳnh)Trùm Chánh (1768-1840) PAGEREF _Toc214686402 \h 108

56. Ngày 12 tháng 7:Thánh Ingatiô Delgado Y,Giám mục ( 1762-1838) PAGEREF _Toc214686403 \h 110

57. Ngày 12 tháng 7:Thánh Anê Lê Thị Thành,cũng gọi là Anê Đê, Giáo Dân (1781-1841) PAGEREF _Toc214686404 \h 113

58. Ngày 12 tháng 7:Thánh Phêrô Khanh, Linh mục (1780-1842) PAGEREF _Toc214686405 \h 116

59. Ngày 15 tháng 7:Thánh Phêrô Nguyễn Bá Tuần, Linh mục (1766-1838) PAGEREF _Toc214686406 \h 118

60.Ngày 15 tháng 7:Thánh Anrê Nguyễn Kim Thông,(Năm Thông) Trùm Chánh  (1790-1855) PAGEREF _Toc214686407 \h 119

61. Ngày 20 tháng 7:Thánh Giuse Diaz  Sanjurjo An, Giám mục  (1818-1857) PAGEREF _Toc214686408 \h 122

62. Ngày 24 tháng 7:Thánh Giuse Ferandez Hiền,Linh muc  (1775-1838) PAGEREF _Toc214686409 \h 124

63. Ngày 28 tháng 7:Thánh Giuse Melchior Garcia  Sampedro Xuyên,Giám mục (1821-1858) PAGEREF _Toc214686410 \h 127

64. Ngày 31 tháng 7:Thánh Phêrô Đoàn Công Quí,Linh mục (1826-1859) PAGEREF _Toc214686411 \h 131

65. Ngày 31 tháng 7:Thánh Emmanuel Lê Văn Phụng,Trùm Chánh (1796-1859) PAGEREF _Toc214686412 \h 136

Tháng 8: PAGEREF _Toc214686413 \h 140

66. Ngày 1 tháng 8:Thánh Bernadô Võ Văn Duệ,Linh mục (1755-1838) PAGEREF _Toc214686414 \h 140

67. Ngày 1 tháng 8:Thánh Đa Minh Nguyễn Văn Hạnh,Linh mục (1772-1838) PAGEREF _Toc214686415 \h 144

68. Ngày 12 tháng 8:Thánh Giacôbê Đỗ Mai Năm,Linh mục (1781-1838) PAGEREF _Toc214686416 \h 147

69.Ngày 12 tháng 8:Thánh Antôn Nguyễn Đích,Trùm Chánh (1769-1838) PAGEREF _Toc214686417 \h 151

70. Ngày 12 tháng 8:Thánh Micae Nguyễn Huy Mỹ,Lý Trưởng (1804-1838) PAGEREF _Toc214686418 \h 154

71. Ngày 21 tháng 8 :Thánh Giuse Đặng Đình Viên,Linh mục (1787-1838) PAGEREF _Toc214686419 \h 159

Tháng 9. PAGEREF _Toc214686420 \h 162

72.  Ngày 5 tháng 9:Thánh Phêrô Nguyễn Văn Tự,Linh mục ( 1796-1838) PAGEREF _Toc214686421 \h 162

73. Ngày 5 tháng 9:Thánh Giuse Hoàng Lương Cảnh,Trùm Họ và Lang Y  (1763-1838) PAGEREF _Toc214686422 \h 167

74. Ngày 17 tháng 9:Thánh Emmanuel Nguyễn Văn Triệu,Linh mục (1756-11798) PAGEREF _Toc214686423 \h 170

75. Ngày 18 tháng 9:Thánh Đa Minh Trạch,Linh mục (1772-1840) PAGEREF _Toc214686424 \h 173

76. Ngày 20 tháng 9:Thánh Gioan Carôlô Cornay Tân,Linh mục Thừa Sai Paris (1809-1837) PAGEREF _Toc214686425 \h 177

77. Ngày 21 tháng 9:Thánh Phanxicô Jaccard Phan,Linh mục Thừa Sai Paris (1799-1838) PAGEREF _Toc214686426 \h 180

78. Ngày 21 tháng 9:Thánh Tôma Trần Văn Thiện,Chủng Sinh (1820-1838) PAGEREF _Toc214686427 \h 184

Tháng 10: PAGEREF _Toc214686428 \h 187

79. Ngày 6 tháng 10:Thánh Phanxicô Trần Văn Trung,Cai Đội (1825-1838) PAGEREF _Toc214686429 \h 187

80. Ngày 11 tháng 10:Thánh Phêrô Lê Tùy,Linh mục (1773-1833) PAGEREF _Toc214686430 \h 190

81. Ngày 17 tháng 10:Thánh Phanxicô Isidôrô Gagelin Kính,Linh mục (1799-1833) PAGEREF _Toc214686431 \h 194

82. Ngày 23 tháng 10:Thánh Phaolô Tống Viết Bường,Quan Thị Vệ (1773-1833) PAGEREF _Toc214686432 \h 197

83. Ngày 24 tháng 10:Thánh Giuse Lê Đăng Thi,Cai Đội  (1825-1860) PAGEREF _Toc214686433 \h 202

84. Ngày 28 tháng 10:Thánh Gioan Đạt,Linh mục (1765-1798) PAGEREF _Toc214686434 \h 205

Tháng 11: PAGEREF _Toc214686435 \h 208

85. Ngày 1 tháng 11:Thánh Hiêrônimô Hermosilla Liêm (Vọng),Giám mục (1800-1861) PAGEREF _Toc214686436 \h 208

86. Ngày 1 tháng 11:Thánh Valentinô Berrio Ochoa Vinh,Giám Mục (1827-1861) PAGEREF _Toc214686437 \h 211

87. Ngày 1 tháng 11 :Thánh Phêrô Almatô Bình,Linh mục (1831-18610) PAGEREF _Toc214686438 \h 214

88. Ngày 3 tháng 11:Thánh Phêrô Phanxicô Nêron Bắc,Linh mục (19818-1860) PAGEREF _Toc214686439 \h 217

89. Ngày 5 tháng 11:Thánh Đa Minh Mầu,Linh Mục (1794-1858) PAGEREF _Toc214686440 \h 220

90. Ngày 7 tháng 11:Thánh Vinh Sơn Lê Quang Liêm,Linh mục (1732-1113) PAGEREF _Toc214686441 \h 223

91. Ngày 7 tháng 11:Thánh Jacinta Castaneda Gia,Linh mục (1743-1773) PAGEREF _Toc214686442 \h 226

92. Ngày 8 tháng 11:Thánh Giuse Nguyễn Đình Nghi,Linh mục (1793-1840) PAGEREF _Toc214686443 \h 229

93. Ngày 8 tháng 11:Thánh Phaolô Nguyễn Ngân,Linh mục (1790-1840) PAGEREF _Toc214686444 \h 233

94. Ngày 8 tháng 11:Thánh Martinô Tạ Đức Thịnh,Linh mục (1760-1840) PAGEREF _Toc214686445 \h 235

95.  Ngày 8 tháng 11:Thánh Gioan Baotixita Cỏn (Bốn),Lý Trưởng (1805-1840) PAGEREF _Toc214686446 \h 238

96. Ngày 8 tháng 11:Thánh Martinô Thọ (Nho),Viên chức Thu Thuế (1787-1840) PAGEREF _Toc214686447 \h 240

97. Ngày 14 tháng 11:Thánh Stêphanô Thêôdôrê Cuénot Thể,Giám mục (1802-1861) PAGEREF _Toc214686448 \h 243

98. Ngày 20 tháng 11:Thánh Phanxicô Xavier Nguyễn Cần,Thầy Giáng (1803-1837) PAGEREF _Toc214686449 \h 244

99. Ngày 24 tháng 11:Thánh Phêrô Dumoulin Borie Cao,Giám Mục (1808-1838) PAGEREF _Toc214686450 \h 248

100. Ngày 24 tháng 11:Thánh Vinh Sơn Nguyễn Thế Điểm,Linh Mục (1761-1838) PAGEREF _Toc214686451 \h 252

101. Ngày 24 tháng 11:Thánh Phêrô Vũ Đăng Khoa,Linh mục (1790-1838) PAGEREF _Toc214686452 \h 254

102. Ngày 26 tháng 11:Thánh Tôma Đinh Viết Dụ,Linh mục (1783-1839) PAGEREF _Toc214686453 \h 257

103. Ngày 26 tháng 11::Thánh Đa Minh Nguyễn Văn Xuyên,Linh mục  (1780-1839) PAGEREF _Toc214686454 \h 260

104. Ngày 28 tháng 11:Thánh Anrê Trần Văn Trông,Quân Nhân (1814-1835) PAGEREF _Toc214686455 \h 264

105. Ngày 30 tháng 11:Thánh Giuse Marchand Du,Linh mục Thừa Sai (1803-1835). PAGEREF _Toc214686456 \h 266

Tháng 12: PAGEREF _Toc214686457 \h 270

106. Ngày 6 tháng 12:Thánh Giuse Nguyễn Duy Khang,Thầy Giảng (1832-1861) PAGEREF _Toc214686458 \h 270

107. Ngày 10 tháng 12:Thánh Simon Phan Đắc Hòa,Y Sĩ (1774-1840) PAGEREF _Toc214686459 \h 276

108. Ngày 18 tháng 12:Thánh Phaolô Nguyễn Văn Mỹ,Thầy Giảng (1798-1838) PAGEREF _Toc214686460 \h 278

109. Ngày 18 tháng 12:Thầy Phêrô Trương Văn Đường,Thầy Giảng (1808-1838) PAGEREF _Toc214686461 \h 281

110. Ngày 18 tháng 12:Thánh Phêrô Vũ Văn Truật,Thầy Giảng  (1817-1838) PAGEREF _Toc214686462 \h 283

111.  Ngày 19 tháng 12:Thánh Phanxicô Xavier Hà Trọng Mậu,Thầy Giảng  (1790-1839) PAGEREF _Toc214686463 \h 285

112. Ngày 19 tháng 12:Thánh Đa Minh Bùi Văn Úy,Thầy Giảng  (1812-1839) PAGEREF _Toc214686464 \h 290

113. Ngày 19 tháng 12:Thánh Augustinô Nguyển Văn Mới,Nông Dân  (1806-1939) PAGEREF _Toc214686465 \h 293

114.  Ngày 19 tháng 12:Thánh Tôma Nguyễn Văn Đệ,Thợ May   (1811-1839) PAGEREF _Toc214686466 \h 295

115. Ngày 19 tháng 12:Thánh Stêphanô Nguyễn Văn Vinh,Tá Điền  (1813-1839) PAGEREF _Toc214686467 \h 297

116. Ngày 21 tháng 12:Thánh Phêrô Trương Văn Thi,Linh mục  (1763-1839) PAGEREF _Toc214686468 \h 299

117. Ngày 21 tháng 12:Thánh Anrê Dũng Lạc,Linh mục  (1795-1839) PAGEREF _Toc214686469 \h 303

Phần III: VỊ THÁNH 118: CHÂN PHƯỚC ANRÊ PHÚ YÊN. PAGEREF _Toc214686470 \h 306

 

PHẦN I: TIẾN TRÌNH PHONG THÁNH

I. Tôn Phong Chân Phước

Năm 1900 Đức Giáo Hoàng Lêô XIII bằng một Sắc Chỉ  Fortissimorum Virorum (Những Con Người Anh Dũng), ký ngày 7 tháng 5 năm1900, ngài đã tôn phong lên bậc Chân Phước những vị sau đây

A. Hội Thừa Sai Paris                       Niên hiệu Tử Đạo

1. Phêrô Dumoulin Borie Cao            Giám mục      24.11.1838

2. Gioan  Louis Bonnard Hương        Linh mục       01.05.1852

3. Gioan Carolô Cornay Tân              Linh muc       20.09.1837

4. Phanxicô Isidoro Gagelin Kính       Linh mục       17.10.1833

5. Phanxicô Jaccard Phan                  Linh mục       21.09.1838

6. Giuse Marchand Du                       Linh mục       30.11.1835

7. Augustinô Schoeffler Đông             Linh muc       01.05.1838

B. Dòng Đa Minh Tây Ban Nha

8. Ignaxiô Delgado Y Cebrian Y        Giám mục      21.07.1838

9. Đa Minh Henares Minh                  Giám mục      26.06.1838

10. Giuse Ferandez Hiền                    Linh mục       24.07.1838

C. Linh mục Việt Nam

11.Tôma Đinh Viết Dụ                       Linh Mục       26.11.1839

12. Bênadô Võ Văn Duệ                   Linh Mục       01.08.1838

13.Anrê Trần An Dũng Lac               Linh Mục       21.12.1839

14. Gioan Đạt                                    Linh Mục       28.10.1798

15. Vinh Sơn Nguyễn Thế Điểm         Linh Mục       24.11.1838

16. Đa Minh Nguyễn Văn Hạnh (Diệu)      Linh mục       01.08.1838

17. Giuse Hiển                                   Linh Mục       09.05.1940

18. Phêrô Võ Đăng Khoa                  Linh Mục       24.11.1838

19. Phaolô Phạm Đắc Khoan             Linh Mục       28.04.1840

20. Luca Vũ Bá Loan                        Linh Mục       05.06.1840

21. Philiphê Phan Văn Minh               Linh Mục       03.07.1853

22. Giacôbê Mai Năm                       Linh Mục       12.08.1838

23. Phaolô Nguyễn Ngân                   Linh Mục       08.11.1840

24. Giuse Nguyễn Đình Nghi              Linh Mục       08.11.1840

25. Phêrô Trương Văn Thi                 Linh mục       21.12.1839

26. Martinô Tạ Đức Thịnh                 Linh mục       08.11.1840

27. Đa Minh Trạch (Đoài)                 Linh Mục       18.09.1840

28. Emmanuel Nguyễn Văn Triệu       Linh Mục       17.09.1798

29. Phêrô Lê Tùy                              Linh mục       11.10.1833

30. Phêrô Nguyễn Bá Tuân                Linh Mục       15.07.1838

31. Phệrô Nguyễn Văn Tự                 Linh mục       05.09.1838

32. Đa Minh Vũ Đình Tước               Linh mục       02.04.1839

33. Giuse Đặng Đình Viên (Niên)       Linh mục       21.08.1838

34. Vinh Sơn Đỗ Yến                        Linh mục       30.06.1839

35. Đa Minh Nguyễn Văn Xuyên (Đoan)   Linh mục      26.11.1839

Năm 1906 Đức Giáo Hoàng Piô X bằng một Sắc Chỉ Martyrum purpurata sanguine (Máu Đào Tử Đạo), ký ngày 15 tháng 4 năm 1906, ngài đã tôn phong Chân Phước cho các vị Tử Đạo Việt Nam sau đây:

A. Dòng Đa Minh Tây Ban Nha

36. Valentinô Berrio Ochoa Vinh       Giám mục      01.11.1861

37. Jêrônimô Hermossilla Liêm          Giám mục      01.11.1861

38. Phêrô Amalto Bình                      Linh Mục       01.11.1861

39. Jacintô Castaneda Gia                 Linh Mục       07.11.1773

40. Mathêô Alonso Leziniana Đậu     Linh Mục       22.01.1745

41. Phanxicô Gilde Federich Tế         Linh Mục       22.01.1745

42. Vinh Sơn Lê Quang Liêm             Linh muc       07.11.1773

B. Linh Muc Việt Nam

Năm 1909 Đức Giáo Hoàng Piô X cũng bằng Sắc Chỉ Martyrum purpurata sanguine (Máu Đào Tử Đạo), nhưng ký ngày 11 tháng 4 năm 1909 ngài đã phong Chân Phước các vị sau đây:

 

A. Hội Thừa Sai Paris

43. Stefanô Teôdorô Cuenot Thể       Giám mục      14.11.1861

44. Phêrô Phanxicô Neron Bắc          Linh Mục       03.11.1860

45. Gioan Têôphan Venard Ven        Linh Mục       02.02.1861

B. Linh mục Việt Nam

46. Gioan Đoàn Trinh Hoan               Linh Mục       26.05.1861

47. Lorensô Nguyễn văn Hưởng        Linh mục       13.02.1856

48. Phêrô Khánh                               Linh Mục       12.07.1842

49. Phaolô Lê Văn Lộc                     Linh mục       13.02.1859

50. Phêrô Nguyễn Văn Lựu               Linh Mục       07.04.1861

51. Phêrô Đoàn Công Qúy                Linh mục       31.07.1861

52. Phaolô Lê Bảo Tịnh                     Linh Mục       06.04.1857

Năm 1951 Đức Giao Hoàng Piô XII, bằng một Sắc Chỉ Albae jam ad messem (Lúa Mùa Đã Chín), ký ngày 29 tháng 4 năm 1951 Ngài đã tôn phong các vị Chân Phước sau đây:

A. Dòng Đa Minh Tây Ban Nha

53. Giuse Maria Diaz Sanjurjo An      Giám mục      20.07.1859

54. Giuse Maria Garcia Sampedro Xuyên  Giám Mục     28.07.1858

 

B. Linh Mục Việt Nam

55. Đa Minh  Cẩm                             Linh Mục       11.03.1859

56. Tôma  Khuông                            Linh Mục       30.01.1861

57. Đa Minh Hà Trọng Mầu              Linh Mục       05.11.1861

58. Giuse Tuân                                  Linh Mục       30.04.1861

C. Các Chân Phước Thầy Giảng

Danh từ Thầy Giảng thường dùng để gọi những thanh niên sống độc thân, sống bên cạnh các linh mục để giúp việc truyền giáo, như việc dạy Giáo Lý cho tân tòng v.v. Thầy Giảng cũng là  một thành phần cốt yếu trong tổ chức “Nhà Đức Chúa Trời” trước đây.

1900:

59. Phanxicô Xavier Cần                Thầy Giảng       20.11.1837

60. Phanxicô Đỗ Văn Chiểu               Thầy Giảng    26.06.1838

61. Phêrô Trương Văn Đường           Thầy Giảng    18.12.1838

62. Phêrô Nguyễn Văn Hiếu              Thầy Giảng    28.04.1840

63. Phanxicô Hà Trọng Mậu              Thầy Giảng    19.12.1839

64. Phalô Nguyễn Văn Mỹ                Thầy Giảng    18.12.1838

65. Gioan Baotixita Đinh Văn Thanh      Thầy Giảng. 28.04.1840

66. Tôma Toán                                  Thầy Giảng    27.06.1840

67. Phêrô Vũ Văn Truật                    Thầy Giảng    18.12.1838

68. Phêrô Nguyễn Khắc Tự               Thầy Giảng    10.07.1840

69. Đa Minh Bùi Văn Úy                   Thầy Giảng    19.12.1839

70. Giuse Nguyễn Đình Uyển             Thầy Giảng    04.07.1838

1906:

71. Giuse Nguyễn Duy Khang            Thầy Giảng    01.11.1861

1909

72. Giuse Nguyễn Văn Lựu               Thầy Giảng    02.05.1854

73. Anrê Nam Thông (1)                   Thầy Giảng    15.07.1855

74. Phêrô Đoàn Văn Vân                  Thầy Giảng    25.05.1857

(Trường hợp Chân Phước Năm Thông tuy đã kết bạn nhưng rất nhiệt tình trong môi trường Truyền Đạo. Chính tên Ngài là Nguyễn Kim Thông. Nhưng tại điạ phương thường đọc là Thuông. Năm là vì Ngài là người con thứ Năm trong gia đình)

D. Chân Phước Chủng Sinh  

75  Tôma Trần Văn Thiện                  Chủng Sinh    21.09.1838

E.  Chân Phước Giáo Dân

1900

76. Phaolô Tống Viết Bường             Giáo dân       23.10.1833

77. Giuse Hoàng Lương Cảnh            Giáo dân       05.09.1838

78. Gioan Baotixita Cỏn                    Giáo dân       08.11.1840

79. Đa Minh Đinh Đạt                       Giáo dân       18.07.1839

80. Tôma Nguyễn Văn Đệ                 Giáo dân       19.12.1839

81. Antôn Nguyễn Đích                     Giáo dân       12.08.1838

82. Mattêô Lê Văn Gẫm                    Giáo dân       15.05.1847

83. Simon Phan Đắc Hoà                  Giáo dân       12.12.1840

84. Augustinô Phan Viết Huy             Giáo dân       12.06.1839

85. Micae Nguyễn Huy Mỹ               Giáo dân       12.08.1838

86. Augustinô Nguyễn Văn Mới         Giáo dân       19.12.1839

87. Nguyễn Hữu Quỳnh (Năm Quỳnh)      Giáodân         10.07.1840

88. Nicôla Bùi Đức Thể                     Giáo dân       13.06.1839

89. Martinô Thọ                                Giáo dân       08.11.1840

90. Anrê Trần Văn Trông                  Giáo dân       28.11.1835

91. Stêphanô Nguyễn Văn Vĩnh         Tân Tòng       19.12.1839

 

1909:

92. Phaolô Hạnh                                Giáo dân       28.05.1859

93. Micae Hồ Đình Hy                      Giáo dân       22.05.1857

94. Emmanuel Lê Văn Phụng             Giáo dân       31.05.1857

95. Mattêô Nguyễn Văn Phượng       Giáo dân       26.05.1861

96. Inê Lê Thị Thành (Đê)                 Giáo dân       12.07.1841

97. Giuse Lê Đăng Thi                       Giáo dân       24.10.1860

98. Phanxicô Phan Văn Trung            Giáo dân       06.11.1858

 

1951:

99. Phêrô Đinh Văn Dũng                  Giáo dân       06.06.1862

100. Vinh Sơn Đổng (Dương)            Giáo dân       03.06.1862

101. Phêrô Đa                                   Giáo dân       17.06.1862

102. Phaolô Đường (Đông)               Giáo dân       03.06.1862

103. Đa Minh  Huyên                        Giáo dân       05.06.1862

104. Đa Minh Phạm Trọng Khảm      Giáo dân       13.01.1859

105. Đa Minh Mão                            Giáo dân       16.04.1862

106. Laurensô Ngôn                          Giáo dân       22.05.1862

107. Đa Minh Nguyên                       Giáo dân       16.06.1862

108. Đa Minh Nhi                             Giáo dân       16.06.1862

109. Đa Minh Ninh                            Giáo dân       02.06.1862

110. Giuse Phạm Trọng Tả                Giáo dân       13.01.1859

111. Luca Phạm Trọng Thìn               Giáo dân       13.01.1859

112. Phêrô Đinh Văn Thuần               Giáo dân       06.06.1862

113. Đa Minh Toái                            Giáodân        05.06.1862

114. Giuse Tuân                                Giáo dân       07.01.1862

115. Giuse Túc                                  Giáo dân       01.06.1862

116. Anrê Tường                               Giáo dân       16.06.1862

117. Vinh Sơn Tường                        Giáo dân       16.06.1862  

 

II. Tôn Phong 117 Hiển Thánh

Đ úng 12 giờ trưa ngày 22 tháng 6 năm 1987, tại điện Vatican, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chủ toạ phiên họp Cơ Mật Viện khoáng đại. Khoáng đại là vì tất cả Hồng Y, Tổng Giám mục và Giám mục tại Rôma và miền phụ cận Rôma đều được triệu tập. Trong phiên họp này có  28 Hồng Y, 70 Tổng Giám mục và Giám mục, và người Việt Nam duy nhất được tham dự trong Cơ Mật Viện hôm nay là Đức Ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ, Cáo Thỉnh Viên Vụ Án Phong Thánh các Chân Phước Tử Đạo Việt Nam.

Thông qua các thủ tục và thâu nhận ý kiên của các thành viên trong Cơ Mật Viện, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II quyết định tôn phong 117 Chân Phước Tử Đạo Việt Nam lên bậc Hiển Thánh và ngay trong ngày hôm ấy quyết định này đã được long trọng công bố trên tờ L’Osservatore Romano (Quan Sát Viên La Mã), cơ quan chính thức của Toà Thánh.Thế là tin vui mừng này mau chóng được loan báo cho Giáo Hội Việt Nam  qua Hàng Giáo Phẩm Việt Nam là Đức Hồng Y Giuse Trịnh Văn Căn và Hội Đồng Giám mục Việt Nam.

Toàn thể giáo dân Việt Nam, đặc biệt là giáo dân Việt Nam đang sinh sống tại nước ngoài nô nức chuẩn bị ngày lễ Phong Thánh sẽ được cử hành vô cùng trọng thể do Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cử hành tại Quảng trường thánh Phêrô ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Riêng tại Hoa Kỳ, nhiều phái đoàn được tổ chức Hành Hương Rôma tham dự lễ Phong Thánh, số người đến từ Hoa Kỳ tham dự lên tới  khoảng 4,000 người.

Đúng 8 giờ sáng ngày 19 tháng 6 năm 1988 tại quảng trường thánh Phêrô đã có khoảng 60.000 người hiện diện, trong đó có 15,000 người Việt Nam, 10,000 người Tây Ban Nha, vì có nhiều vị Thánh người Tây Ban Nha được phúc Tử Đạo tại Việt Nam, 8 ngàn người Pháp (thuộc gia đình, con cháu và quê hương của các vị Thánh Tử Đạo tại Việt Nam. Số người còn lại phần nhiều là người Ý và các quốc gia khác cũng tham dự thánh lễ. Thánh lễ được cử hành bằng la ngữ, tiếng nói chính thức của Giáo Hội. Phần phụng ca do Ca Đoàn Tổng Hợp Việt Nam tại Hoa Kỳ phụ trách.

Trong thánh lễ, sau khi công bố Lời Chúa, Đức Thánh Cha đã long trọng cử hành nghi thức Phong Hiển Thánh cho 117 Chân Phước Tử Đạo Việt Nam lên hàng Hiển Thánh. Thế là từ đây Giáo Hội Việt Nam nhỏ bé đã có 117 vị Hiển Thánh được toàn thể Giáo Hội hoàn vũ tôn kính.

 

 

PHẦN II : HẠNH TÍCH CÁC THÁNH TỬ ĐẠO

Tháng 1:

1. Ngày 7 tháng 1: Thánh Giuse Trần Văn Tuân, Giáo Dân (1825-1859)

Thánh Giuse Trần Văn Tuân sinh năm 1825 tại Nam Điền, tỉnh Nam Định, nay thuộc giáo phận Bùi Chu, trong một gia đình nổi tiếng là đạo hạnh.. Ngài sinh sống bằng nghề nông, làm ruộng trồng lúa, chăm chỉ chu toàn bổn phận trong gia đình và sống trọn vẹn niềm tin của mình đối với Thiên Chúa và Giáo Hội. Công việc thường ngày của Ngài là sáng chiều chăm chỉ với công việc ngoài đồng. Nhưng không khi nào bỏ việc tham dự thánh lễ và lần hạt  Mân Côi sáng và tối dâng kính Đức Mẹ mỗi ngày. Gia đình Ngài sống rất bình dị, trong ấm ngoài êm, không ai chê trách gia đình Ngài điều gì, Ngài luôn đối xử với mọi người rất nhã nhặn thân ái hiền hoà, đối xử bằng tinh thần bác ái, khiêm nhu, yêu thương và hay giúp đỡ mọi người trong khu xóm, hay thăm viếng những người già yếu và bệnh tật. Ai ai cũng ca tụng gia đình Ngài có phúc và là một gia đình gương mẫu về lòng đạo hạnh. Vì vậy mà ai ai cũng tỏ lòng quí mến và kính phục Ngài.

Tuy nhiên trong thôn xóm cũng có một vài người thấy gia đình Ngài được nhiều người thương mến thì sinh lòng ghen ghét . Đàng khác cũng vì tham giầu có, nên nghe theo những lời hứa hẹn của vua quan là ai tố cáo các đạo trưởng và những người theo đạo thì được trọng thưởng vàng bạc. Do đó, trong làng có mấy người vốn đã có lòng ghen tị đã không ưa gia đình ông Giuse Tuân nên sinh lòng ham muốn có tiền bạc theo những lời hứa hẹn của vua quan, đã âm thầm đi tố cáo với quan đích danh làng Nam Điền có người tên Tuân theo đạo Gia-Tô. Được mật báo, quan tuần  phủ đã ra lệnh cho quân về vây và bắt được ông Giuse Tuân. Ông chỉ là giáo dân, không bắt được đạo trưởng nào. Quan ra lệnh bắt trói giải về phủ giam giữ tra tấn, đánh đập Ngài rất tàn nhẫn, bắt đeo gông cùm, xiếng xích rất nặng nề, không cho ăn uống, hành hạ Ngài bằng đủ mọi cực hình, bắt Ngài khai tên và chỗ ẩn trú của các đạo trưởng, bắt Ngài bước lên Thập Giá nhiều lần, nhưng dù bị tra tấn đánh bật máu, nát thịt thì Ngài vẫn kiên cường nhất định không khai báo và cũng không bước lên Thập Giá. Quan tức giận cho lệnh đánh ba mươi roi  bật máu và dọa nạt. Vợ con và người dân làng chứng kiến trận đòn hãi hùng thì thương. Nhưng Ngài vẫn hiên ngang đối đáp. Sau trận đòn khủng khiếp, quan cho lệnh đưa về giam trong nhà tù và ra lệnh không cho ăn  uống. Nhưng người tôi tớ Chúa vẫn vui vẻ và tỏ ra hăng hái, vững vàng trong đức tin sắt đá của mình.

Một hôm quan lại gọi Ngài ra công đường. Lần này quan tỏ lòng thương xót. Quan nói nhỏ nhẹ với Ngài:

- “Này ông Tuân, ông chỉ là một người tín hữu của đạo Gia Tô. Ta biết ông là người hiền lành, được nhiều người dân làng thương mến. Ta không muốn kết án  tử hình cho ông, vì ông còn trách nhiệm với vợ con. Vậy hãy nghe Ta, ông bước qua Thập Giá Ta đã đặt sẵn dưới đất trước mặt ông, rồi Ta tha cho về với vợ con”.

Ông khiêm tốn trả lời:

- “Bẩm quan lớn, quan lớn dạy tôi bước lên Thập Giá Chúa tôi thì tôi không thể làm theo lời quan lớn dạy được. Quan lớn thương cho tôi về với gia đình thì tôi muôn vàn đội ơn quan lớn. Nếu quan lớn kết tội thì tôi xin sẵn lòng chịu chết vì Chúa tôi thờ”.

Quan lại nhẹ nhàng nói:

- Chúa ông thờ là Chúa làm sao?

- Bẩm quan lớn. Chúa tôi thờ là Đấng dựng nên trời đất muôn vật, là Đấng cầm quyền sinh tử. Cha mẹ chúng ta sinh ra thân xác, nhưng linh hồn ta là Thiên Chúa dựng nên và ban cho ta. Khi ta chết thì xác chết nhưng linh hồn không chết. Linh hồn sống đời đời.  Vì vậy, vua quan chỉ có thể giết chết thân xác tôi còn linh hồn tôi thì vua quan không thể giết chết được.

- Vậy ông chết rồi linh hồn ông đi đâu?

- Bẩm quan, tôi chết thì linh hồn tôi về với Chúa là Đấng đã dựng nên tôi. Tôi sẽ được hưởng hạnh phúc đời đời với Chúa là Đấng tôi tôn thờ.

Nghe Ông nói thì quan tỏ ra vẻ suy nghĩ, không hỏi gì thêm. Quan ra lệnh đưa về ngục.

Sau ít ngày, quan lại cho dẫn Ngài tới công đường. Thấy Ngài bình tĩnh, quan vui vẻ hỏi:

- Ông Tuân, ta không muốn kết án ông, nhưng theo lênh của vua, mọi người phải từ bỏ tà đạo Gia Tô, vì là tà đạo, đạo của Tây đưa tới. Nếu không tuân lệnh vua thì phải chết. Vậy ông nghe ta mà từ bỏ tà đạo này để được tha mà trở về làm ăn vui vẻ với mọi người.

Ông Giuse Tuân đáp lời:

- Bẩm quan lớn, quan lớn nói đạo Gia Tô là tà đạo, không phải như thế đâu. Đạo Gia Tô là đạo chân thật. Đạo thờ Thiên Chúa là Đấng tạo dựng nên muôn loài muôn vật. Thờ kính Đấng như thế thì làm sao gọi là tà đạo được?

Quan không muốn nghe ông nói thêm nữa. Quan tỏ ra nóng nảy, lấy làm khó chịu vì khuyên dụ mãi không được. Quan tỏ ra bực tức, thay đổi thái độ, bắt ép Ngài bước qua Thập Giá để chứng tỏ đã bỏ Đạo để quan tha cho về và trọng thưởng tiền bạc nữa. Khi quân lính đặt Thập Giá trên mặt đất và khuyên Ngài bước qua. Ngài đã khẳng khái từ chối, lại tỏ vẻ cương quyết qùi gối thờ lạy Thấp Giá và kêu lớn tiếng rằng:

- “Lạy Thánh Giá Chúa Kitô là sức mạnh của tôi”.

Quan quân chứng kiến hành động can đảm này của Ngài các quan thất vọng vì không thuyết phục được Ngài  Quan nói:

- Ông này gan lỳ thật. Ông không sợ chết sao!

Lần cuối cùng, các quan lại cho lệnh dẫn Ngài ra công đường, các quan bàn định, nếu lần này không thuyết phục được thì sẽ làm án gửi về triều đình, vì đã giam giữ khá lâu rồi. Khi đội lính dẫn ra hầu toà. Quan chánh án hỏi:

- Chúng tôi đã kiên nhẫn chờ đợi ông suy nghĩ trước sau mà bỏ đạo Gia Tô, vì đạo này là tà đạo của Tây, vua đã cấm. Vậy hôm nay chúng tôi mong ông vâng lệnh vua và nghe lời khuyên của chúng tôi mà quá khoá. Chúng tôi sẽ tha và trọng thưởng vàng bạc cho ông nữa”

Ông Giuse Tuân trả lời dứt khoát rằng:

- Bẩm lạy các quan, tôi xin cám ơn các quan. Tôi xin sẵn lòng chịu chết chứ không thể bỏ đạo được. Được sống và được thưởng tiền bạc nữa thì quí trọng thật. Nhưng bỏ Chúa để lấy tiền bạc thì không bao giờ tôi làm. Tôi nhất định không bỏ đạo, nhất định không bước qua Thập Giá, dù phải chết thì tôi xin sẵn lòng chịu chết”.

Thấy không còn cách nào để dụ dỗ được nữa thì các quan bàn định làm bản án đệ trình triều đình xin vua xét xử. Vua ra lệnh làm án xử trảm tại pháp trường Nam Đinh.

Ngày 7 tháng Giêng năm 1862 dưới triều đại vua Tự Đức, Ngài đã hiên ngang tiến ra pháp trường với đội lý hình trong niềm hân hoan cảm tạ Chúa. Tới pháp trường, Ngài quì gối đọc kinh tạ ơn Chúa đã ban cho Ngài được phúc đổ máu mình ra để làm chứng cho Đức Kitô phục sinh, làm chứng cho lòng tin sắt đá của mình rồi Ngài kêu lớn tiếng:  -“Lạy Chúa Giêsu !  Con phó linh hồn con trong tay Chúa”

Sau đó, Ngài đưa cổ cho lý hình chém kèm theo tiếng chiêng tiếng trống đổ hồi vang dội. Lý hình vung gươm lên cao chém một nhát, đầu lìa cổ rơi xuống đất mà miệng vẫn còn phát ra tên cực trọng Giêsu, đoạn lý hình tung đầu Ngài lên cho quan Giám Sát và mọi người biết án lệnh trảm quyết đã được thi hành. Rất đông người đi theo chứng kiến cảnh hãi hùng. Khi lý hình vung gươm lên cao, nhiều người từ xa xa kêu rú lên, có tiếng kêu:

- Giêsu Maria, lạy Chúa tôi! Họ chém ông ấy rồi

- Đầu bị chém lìa cổ rơi xuống đất rồi. Trời ơi ghê sợ quá!

Nhiều tiếng khóc nức nở :

- Họ tung đầu Ngài lên cao, trời đất ơi. Sợ quá!-

- Máu từ cổ vụt lên cao lắm. Trông kinh hãi qúa!

- Ông Tuân quả là anh hùng, dám chết một cách anh dũng vì đạo như thế. Anh hùng quá!

- Anh hùng chưa đủ, ông là thánh tử đạo đấy!

Nhiều lời bàn tán, kêu la lẫn lộn, tạo nên một khung cảnh ồn ào nhộn nhịp trong cảnh hãi hùng man rợ. Những người trong gia quyến và tín hữu vừa run sợ, vừa nức nở khóc, đã vội chạy tới thấm máu và xin nhận xác đem về an táng. Hôm đó là ngày 7 tháng Giêng năm 1862 Ngài vừa tròn 36 tuổi Ông Phêrô Kiên và bà Maria Huyên đã có mặt ngay từ giây phút đầu, để chứng kiến cái chết.tử vì đạo vô cùng anh dũng và thánh thiêng của thánh Giuse Tuân. Hai người này đã xin phép lãnh nhận thi hài vị chứng nhân can trường của Chúa về an táng. Đến năm 1864 giáo dân xứ Nam Điền lại xin cải táng rước về đặt tại nhà thờ thánh Giuse thuộc giáo xứ Nam Điền, nơi sinh quán của Ngài..

Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước ngày 29 tháng 4 năm 1951 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã long trọng tôn vinh Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

  

 

 

2. Ngày 13. 01:Thánh Đa Minh Phạm Trọng Khảm, Chánh  Án (1780-1859)

Thánh Đa Minh Phạm Trọng Khảm sinh năm 1780 tại làng Quần Cống, xã Trà Lũ, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, nay thuộc giáo phận Bùi Chu. Ngài là con trưởng của ông bà Phạm Tri Khiêm, một gia đình giầu có và danh tiếng trong làng. Ngài hấp thụ được nhiều đức tính tốt của cha và là một người con ngoan, hiếu thảo của gia đình họ Phạm. Gia đình ông Phạm Tri Khiêm là một gia đình Công giáo và ông đã giáo dục bảy người con của ông rất nghiêm túc theo tinh thần Công giáo, đạo đức và đức tin vững chắc.

Năm 18 tuổi, cậu Đa Minh Phạm Trọng Khảm đã lập gia đình với cô Agnès Phượng, một thiếu nữ đạo hạnh cũng là người làng Quần Cống. Hai người sống rất gương mẫu về lòng đạo đức, tốt lành. Gia đình đầm ấm, hoà thuận, yêu thương nhau, sinh con cái và đồng tâm nhất trí giáo dục con cái trở thành những người Công giáo đạo hạnh. Người con trai lớn của Ngài sau làm Chánh Tổng, được mọi người kính nể, đó là Chánh Tổng Phạm Trọng Thìn, sau cũng anh dũng làm chứng cho Chúa và được phúc tử đạo cùng với cha là thánh Đa Minh Phạm Trọng Khảm. Ngoài ông Tổng Thìn, Ngài còn ba người con gái tên là bà Nhiêu Côn, Nhiêu Trữ và Hậu Địch, cũng được học hành và nổi tiếng là hiền lành, khôn ngoan đạo đức.

Nhờ sự săn sóc hướng dẫn của cha là ông Phạm Trọng Khiêm nên cậu Khảm học hành thành đạt, sau làm tới quan Chánh Án. Mọi người trong làng xứ đều nhìn nhận cụ Án Khảm là người đạo đức, giầu lòng bác ái, và nhiệt tình trong mọi công việc cụ đã đảm nhận. Đối với mọi người trong xóm làng cụ hết tình bênh đỡ khi có việc phải cậy nhờ đến cụ. Riêng đối với Giáo Hội và những vị Thừa Sai lo việc truyền giáo thì cụ rất chú tâm giúp đỡ về mọi phương diện. Vì thế, lúc gặp khó khăn vì đạo bị cấm cách, cụ thường đón nhận  các Giám mục, Linh mục Thừa Sai đến trú ngụ tại nhà cụ và cụ tìm mọi cách giúp các vị Thừa Sai này thi hành mục vụ trong những trường hợp kín đáo và khôn khéo.

Trước khi quân lính từ tỉnh Nam Định về vây làng Quần Cống, cụ Án Khảm đã khích lệ dân chúng hãy vững lòng bền chí trung thành với đạo Chúa. Cụ còn nói thêm với dân chúng rằng:

- Nếu có ai bước qua Thập Giá để chối đạo, thì khi quan rút rồi, làng sẽ không nhìn nhận người này khi còn sống cũng như khi chết sẽ không được chôn  trong nghĩa địa của làng.

Khi quan quân tới vây làng và bắt tập trung mọi người trong đình làng, quan phủ nói với cụ án Khảm:

- Các Thừa Sai có người là ngoại quốc, có người là người bản xứ và Thầy Giảng nữa, Ông có chứa chấp không? Nếu không xưng mà ta bắt được thì mọi tài sản sẽ bị tịch thu và bị xử tử.

Cụ Án Khảm thưa:

- Đạo chúng tôi luôn có linh mục. Nhưng các Ngài ở đâu tôi không được biết. Nếu quan bắt được thì tùy ý, quan muốn xử thế nào thì xử.

Quan ra lệnh bắt mọi người phải bước qua Thập Giá, cụ Án Khảm thấy một cụ già run rẩy khi bước tới gần Thập Giá do dự chưa dám bước qua, cụ Án Khảm liền chặn lại. Quan phủ nổi giận quát lớn tiếng:

- Ta sẽ mất chức, nếu Phạm Trọng Khảm không bị giết và tịch thu tài sản.

Nói rồi quan ra lệnh bắt trói cụ Án Khảm và cho lính tới nhà tịch thu các đồ đạo và những đồ vật qúi báu trong nhà.

Cụ Án Khảm nói với quan phủ”

- Các ông lấy đồ gì của tôi thì lấy nhưng các đồ đạo của nhà thờ và của nhân dân thì đừng xâm phạm tới.

Sau đó, quan ra lệnh bắt trót tất cả những người không buớc qua Thập Giá và cả cụ Án Khảm giải về tỉnh Nam Định. Năm ấy cụ Án Khảm đã 80 tuổi.

Lên tới tỉnh thì cụ Án Khảm cùng đông đủ các anh hùng đức tin làng Quần Cống vui mừng gặp Đức Cha Sampedro Xuyên đã bị bắt ở Kiên Lao và đang bị giam giữ tại đó, cụ và mọi người hân hoan kính chào Đức Cha mà không ai sợ hãi các quan. Đức Cha khuyên mọi người hãy can đảm lên và kiên trì tới cùng để được hạnh phúc tử vì đạo. Thế rồi họ tống mọi người vào nhà giam, chỉ còn một mình cụ Án Khám được ở lại đối chất với các quan.

Quan tổng đốc tỉnh Nam Định hỏi:

- Ngươi nói là không chứa chấp đạo trưởng, sao khi vừa gặp Giám mục Sampedro các ngươi đã tỏ ra vui mừng, quen biết và cung kính?

Cụ Án Khảm trả lời:

- Chúng tôi vui mừng vì được gặp người Cha Chung. Trong đạo chúng tôi, chúng tôi  rất kính trọng các đạo trưởng.

Quan còn hỏi cụ nhiều điều nữa nhưng nhất định cụ không khai báo tông tích bất cứ một người nào. Quan tổng đốc lại ngọt ngào khuyên cụ bước qua Thập Giá rồi quan sẽ cho cụ về và hoàn trả tất cả đồ đạc đã tịch thu. Nhưng cụ Án Khảm khiêm tốn cảm ơn mỹ ý của quan tổng đốc, còn việc chối đạo thì chắc chắn sẽ không bao giờ chấp nhận . Quan tổng đốc ra lệnh nhốt riêng cụ để không ảnh hưởng được những tù nhân khác. Nhưng bằng mọi cách, cụ vẫn liên hệ và khuyên bảo mọi người hãy can đảm, bền chí để Chúa thưởng công, Chúa sẽ tiếp sức, đừng sợ hãi.

Vì cụ đã 80 tuổi nên các quan không đánh đập cụ như những người khác, cũng không hành hạ cụ nhịn đói, nhịn khát và đeo xiềng xích khổ cực. Sau bốn tháng trời thuyết phục bị thất bại không làm cho cụ Án Khảm bước qua Thập Giá, các quan quyết định làm án tử hình.

Ngày 13 tháng 1 năm 1859, cụ bị giải ra pháp trường. Vì tuổi cụ đã cao và bị đày đọa trong nhà giam khá lâu nên sức khoẻ cụ bị kiệt quệ. Trước khi tiến ra pháp trường cụ đã được cha Lương và cha Duyệt cùng bị tù giải tội và chúc lành cho cụ.

Tới pháp trường cụ quì gối đọc kinh tạ ơn Chúa rồi nằm trên chiếc chiếu, lý hình tròng giây qua cổ rồi kéo hai đầu giây, cụ bị thắt cổ mà chết. Đứng vòng ngoài nhìn thấy cụ già 80 tuổi bị cuốn giây vào cổ rồi kéo hai đầu giây đến

tắt thở thì nhiều người kêu rú lên:

- Trời ơi! Cụ già chết rồi! Ngộp thở mà chết!

- Án tử hình gì mà độc ác đến thế! Thắt cổ người ta!

Mấy người con đứng xa xa kêu lên:

- Con phó dâng linh hồn bố chúng con cho Chúa.

Có nhiều tiếng khóc nức nở vọng lên giữa bầu trời âm u, thiếu ánh sáng mặt trời. Sau khi chết quân lính còn đốt cháy tay chân và mặt cụ nữa. Mọi việc đã hoàn tất, thân nhân và các tín hữu xin xác cụ về an táng. Hai anh Đa Minh Nhượng và Đa Minh Diên là những người đã nhận xác và đưa về an táng tại nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi ở giáo xứ Quần Cống, thuộc giáo phận Bùi Chu.

Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước ngày 29 tháng 4 năm 1851 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã long trọng tôn vinh Ngài lên hàng Hiển Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988. Chúng ta cảm tạ Chúa thay cho Ngài và xin Ngài bầu cử cùng Chúa cho chúng ta nữa. 

 

3 .Ngày 13. 01:Thánh Luca Phạm Trọng Thìn, Chánh Tổng, (1820-1859)

Thánh Luca Phạm Trọng Thìn, theo bản án của triều đình thì viết là Phạm Viết Thìn, sinh năm 1820 tại làng Quần Cống, xã Trà Lũ, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, nay thuộc giáo phận Bùi Chu, Ngài là con cụ Án Phạm Trọng Khảm và bà Agnès Phượng. Nhờ gia đình khá giả nên Ngài được học hành đỗ đạt tốt, mới 30 tuổi đã làm tới chức Chánh Tổng. Ngài kết bạn với cô Maria Tâm là một thiếu nữ đạo hạnh hiền lành, người cùng làng. Hai người sống với nhau rất hạnh phúc. Nhưng vì chức vụ luôn phải đi xa nhà và còn trẻ tuổi nên dễ bị bạn bè lôi cuốn đi vào con đường tội lỗi. Dần dần Ngài đã làm quen thân với một thiếu nữ tên là Trung người làng Trà Lũ, cô này rất duyên dáng, rồi sau đó cưới làm vợ nhỏ. Từ đó việc đạo đức trở nên nguội lạnh, bỏ cả việc xưng tội rước lễ. Người vợ cả là cô Tâm rất đau khổ, âm thầm cầu nguyện xin Chúa thương, sớm giúp ông trở về với Chúa và gia đình. Sau một thời gian thì Ngài bị bệnh rất trầm trọng, tưởng là chết, cha Ngài là cụ Án Khảm hết lời khuyên bảo, nhất là nhờ lời khuyên dậy của cha giải tội, Ngài đã xưng tội và chân thành sám hối rồi làm giấy dứt khoát từ bỏ người vợ nhỏ này. Ngài lại hứa với Chúa và gia đình nếu Chúa cho sống thì Ngài sẽ cố gắng lập công đức để đền tội lỗi và sẽ sống cuộc đời đạo hạnh hơn. Khi khỏi bệnh, Ngài đã thật sự làm lại cuộc đời và sống rất tốt lành thánh thiện, xây dựng một gia đình gương mẫu, một thành viên dòng ba Đa Minh rất sốt sắng.

Triều đại vua Tự Đức năm thứ XI cũng chính là thời kỳ vua Tự Đức ra những sắc chỉ cấm đạo ác nghiệt nhất, vì khi ấy liên quân Pháp và Tây Ban Nha, lăm le tiến vào Đà Nẵng nên vua lại càng lo sợ và càng ra tay tiêu diệt đạo Gia-Tô của tây phương đem tới, vì vua được các quan triều đình đệ trình rằng đạo Gia Tô là chiêu bài của quân đội liên quân Pháp và Tây Ban Nha. Vua Tự Đức tin chắc như thế nên tìm mọi cách để tiêu diệt đạo và các Thừa Sai ngoại quốc.

Trước tình thế dầu sôi lửa bỏng như thế Đức Cha Sampedro Xuyên liền cậy nhờ hai ông Chánh Tổng Phạm Trọng Thìn và ông Chánh Tổng Phạm Trọng Tả là hai người tín hữu rất đạo đức và có uy tín làm sứ giả hoà bình, tới gặp Tổng Đốc Nam Định lúc ấy là ông Nguyễn Đình Tân, xin ông nhẹ tay cho các tín hữu được an bình giữ đạo. Hai ông hứa với quan Tổng Đốc Nam Định là sẽ kêu gọi toàn dân Công giáo sẽ trung thành với Đức Vua. Cuộc dàn xếp đang trên đường tiến triển tốt đẹp thì không may tại làng Cao Xá có một người tín hữu bất mãn với chính sách nhà nước, đã xúi giục dân chúng nổi loạn chống lại các quan. Được tin cấp báo này, quan Tổng Đốc nổi giận, ra lệnh bắt ông Thìn và ông Tả kết tội hai ông này lừa dối, là nội gián và truyền lệnh tiếp tục truy nã bắt hết các đạo trưởng, các linh mục, các Thừa Sai và tất cả các tín hữu. Quan lại cho lính về vây làng Quần Cống vì có mật báo cho biết là trong làng này chứa chấp nhiều đạo trưởng. Quân lính xông xáo lục bới từng nhà, kết quả là bắt được Đức Cha Sampedro Xuyên và cha Estevey đang trú ngụ tại đó.

Quan Tổng Đốc cho dẫn ông Phạm Trọng Thìn ra toà đã ba bốn lần để khuyên dụ bước qua Thập Giá rồi sẽ tha cho về. Nhưng vẫn một mực từ chối, dứt khoát không bao giờ ông bước qua Thập Giá. Dù bị dọa nạt, tra tấn, kìm kẹp thì Ngài vẫn giữ một lòng cương quyết không quá khoá, không bỏ đạo. Khuyên dụ không được, quan bắt Ngài viết những suy nghĩ của mình trên giấy. Ngài đã can đảm viết rành mạch bản tuyên xưng Đức Tin của Ngài như sau:

- Tôi là một Kitô hữu, tôi sẵn sàng chấp nhận mọi cực hình, thậm chí cả cái chết đau đớn nhất, hơn là vi phạm một lỗi dù rất nhỏ trong đạo tôi thờ. Tôi tin kính và thờ phượng Chúa tôi hết lòng. Dù phải chết tôi cũng không bỏ Chúa tôi. Chính tay tôi viết những điều này. Luca Thìn”.

Nhìn thấy thái độ cương quyết của Ngài, quan ra lệnh  xích tay chân và tống giam vào ngục. Ban ngày phải mang xiếng xích nặng nề, ban đêm hai chân bị cùm vào xà lim rất đau đớn nhưng Ngài vẫn một niềm hân hoan, vui vẻ, không sợ đánh đòn hay bất cứ hình khổ nào. Những người ngoại đạo thấy Ngài bị xiềng xích, hành hạ khổ sở quá thì khuyên Ngài bước qua Thập Giá để trở về với gia đình, giữ được của cải lại còn quyền chức nữa:

Ngài trả lời:

- Xin các bạn để tôi yên, đừng nói với tôi những điều này. Tôi thà mất hết chức quyền, của cải còn hơn là tôi chối bỏ Chúa tôi.

Ông Đương tuy là người khác đạo nhưng rất quen biết Ngài vì đã có thời kỳ làm việc trong tổng với Ngài nên an ủi Ngài:

- Này ông tổng, ông nghe tôi, cứ bước qua Thập Giá để được tha. Ông được tha lại được phục hồi chức quyền rồi xin ông giúp tôi được giảm án trở về thì tôi biết ơn ông vô cùng. Tôi biết nếu ông xin thì thế nào các quan cũng tha cho tôi. Tôi không phải là người theo đạo Gia Tô nhưng tôi nghe nói nếu ông chối đạo để được về rồi sau đi xưng tội thì cũng được tha, có phải như thế không?”

Ngài vui vẻ nói lại:

-  Này ông, tôi không muốn lừa Thiên Chúa là Chúa tôi thờ. Cố ý chối Chúa rồi đi xưng tội để được tha là một hành động lừa dối Chúa đó ông ạ. Chúa biết hết mọi sự ta nghĩ, ta làm. Tôi không bao giờ làm như thế. Tôi sẽ cầu nguyện cho ông mà thôi. Riêng tôi, tôi thà chịu chết vì Chúa tôi thờ chứ bỏ Ngài, chối Ngài thì nhất quyết không bao giờ có chuyện đó xẩy ra với tôi.

Tới đầu tháng 7 năm ấy, giữa lúc Ngài còn đang bị giam tù, bị đánh đập quá sức thì may mắn Ngài lại được gặp cha mình là cụ Án Khảm cũng đã bị bắt và giải về nhà giam Nam Định. Hai cha con vui mừng vì được gặp nhau và cùng bị đem ra xử . Ngài hân hoan và thêm can đảm vì biết rằng cả hai cha con sẽ được phúc chết vì Chúa. Thế rồi vài ngày sau, Đức Cha Sampedro Xuyên cũng bị bắt và giải về Nam Định. Quan thử lòng cho ông Luca Thìn ra gặp Đức Cha. Vừa thấy Đức Cha bị trói, ông Luca Thìn liền quì gối kính cẩn chào Đức Cha. Thấy thái độ cung kính ấy, quan nổi giận cho đánh đòn rồi lôi vào ngục.Bị giam tù, chịu nhiều hình khổ, đánh đập, nhịn ăn nhịn khát, tra tấn trong suốt hơn bốn tháng trời. Các quan thấy không thể thuyết phục được nên làm án tử hình.

Khi biết tin bị tử hình, ông Luca Phạm Trọng Thìn không biết bị kết án về tội gì nên tới hỏi quan đốc:

-  Thưa quan tôi bị kết án vì tội gỉ?

Quan tổng đốc trả lời:

- Về tội phản nghịch, đưa Thừa Sai ngoại quốc vào nước.

Ngài nói lại:

- Chúng tôi tiếp đón đạo trưởng tây phương và theo đạo Gia Tô. Nhưng không bao giờ chúng tôi chống lại vua.

Quan tổng đốc nói tiếp:

- Nguyên việc đón tiếp đạo trưởng tây phương và theo đạo Gia Tô đã đáng chết rồi vì vua đã ra lệnh cấm theo đạo này và ngươi đã không bước qua Thập Giá.

Biết được lý do chính đáng chết vì đạo, Ngài vui mừng cảm tạ Chúa và dọn mình sốt sắng để được lãnh nhận ơn phúc trọng đại này.

Theo án lệnh thì ngày 13 tháng 1 năm 1859 thánh Luca Phạm Trọng Thìn phải tử hình, Ngài đã hân hoan cầm trên tay và giơ cao Thánh Giá tiến ra pháp trường Bảy Mẫu Nam Định lãnh triều thiên Tử Đạo, cùng với thánh Đa Minh Phạm Trọng Khảm, thánh Giuse Phạm Trọng Tả, .Đa Minh Sơn, Gioan Tăng, Lê Lý và bốn người giáo dân khác nữa. Tất cả cùng nhau miệng đọc kinh lớn tiếng, chân bước  đều, lòng hân hoan, nét mặt tươi cười, không ai tỏ vẻ lo sợ trước giờ chết. Tới nơi xử, các Ngài còn đọc kinh Tin Cậy Mến, kinh Ăn Năn Tội rồi lớn tiếng kêu ba lần:

- Giêsu, Maria chúng con phó linh hồn chúng con trong tay Chúa!

Sau đó, đội lý hình đẩy các vị nằm ngửa trên chiếu rồi trói chân tay từng người vào cọc đã chôn sẵn. Mỗi vị bốn lý hình cầm hai đầu giây thừng tròng qua cổ và kéo thật mạnh cho đến khi tắt thở.

Vợ con đứng từ xa xa chứng kiến cái chết anh hùng của chồng, của cha thì kêu rú lên:

- Lạy Chúa, xin đón nhận linh hồn Luca về với Chúa.

Những tiếng khóc nức nở xen lẫn những tiếng kêu la ồn ào trước cảnh xử giảo một anh hùng chứng nhân của Đức Tin.

Sau các Ngài đã tắt thở lý hình còn đốt chân tay và mặt các Ngài. Mọi sự hoàn tất, giáo dân Quần Cống tới xin rước xác các Ngài về chôn tại nhà thờ xứ đạo.

Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước ngày 29 tháng 4 năm 1851 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã long trọng tôn vinh Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988. Chúng ta cảm tạ Chúa thay cho Ngài và xin Ngài bầu cử cùng Chúa cho chúng ta nữa. 

 

 

4. Ngày 13. 01: Thánh Giuse Phạm Trọng Tả,  Chánh Tổng  (1800-1859).

Thánh Giuse Phạm Trọng Tả sinh năm 1800 tại làng Quần Cống, xã Trà Lũ, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, nay thuộc giáo phận Bùi Chu. Ngài là con ông Đa Minh Phạm Thăng, anh em thúc bá với thánh Đa Minh Phạm Trọng Khảm. Ngài làm Chánh Tổng trước thánh Luca Phạm Trọng Thìn, Ngài cũng lập gia đình nhưng người vợ đã chết sớm. Lý do Ngài bị bắt đã kể trong chuyện thánh Luca Phạm Trọng Thìn. Hai Ngài được Đức Cha Sampedro ủy thác việc dàn xếp với quan Tổng đốc Nguyễn Đình Tân xin nhẹ tay đối với người Công giáo và hứa sẽ trung thành với vua. Câu chuyện điều đình gần đi tới kết quả tốt đẹp thì chuyện không may xẩy đến tại làng Cao Xá làm quan Tổng đốc bực mình và sinh lòng nghi ngờ thiện chí của các Ngài,

kết án các Ngài là nội gián, lừa bịp quan Tổng đốc, âm mưu làm loạn. Quan Tổng đốc ra lệnh bắt các Ngài luôn. Khi bị bắt thánh Giuse Phạm Trọng Tả đã 60 tuổi.  Ngài là cựu Chánh Tổng, sống đời sống rất an bình chừng mực, đạo đức. Ngài đã vào Hội dòng Ba Đa Minh và làm chủ Hội . Ngài sốt sắng làm các việc đạo đức, yêu thương và hay giúp đỡ mọi người và tìm mọi cách giúp.những người đồng đạo thực hành đức tin trong hoàn cảnh khó khăn của thời cấm cách.

Đặc điểm nổi bật trong đời Ngài là lòng thương người. Ngài hay bố thí và phân phát thóc lúa cho những người nghèo khó. Cho những người nghèo khó vay mượn Ngài chỉ lấy lại một phần, những người nghèo túng quá thì Ngài cho luôn. Ngài rất để ý tới những người làm công thuê mướn cho Ngài. Chính vì lòng yêu thương này mà ai ai trong làng xóm đều qúi mến và kính trọng Ngài như người cha của mình.

Thế rồi khi bị bắt, quan quân cố tình ép buộc Ngài bước qua Thập Giá, đạp lên ảnh tượng, Ngài đã mạnh bạo xưng đạo, cương quyết một lòng tin theo Chúa, yêu mến Chúa, dầu có phải chết hay chịu trăm ngàn sự khó thì Ngài cũng can đảm chịu hết chứ nhất định không chối Chúa, không phạm tội bước qua ảnh tượng Chúa. Lúc Ngài bị bắt, nhiều người, kể cả những người lương dân đều khóc thương Ngài. Ông Đoàn Vĩnh người làng bên cạnh không Công giáo than phiền rằng:

- Thời thế khó khăn quá! Cụ Chánh Phạm Trọng Tả là người tốt lành, yêu thương dân làng, không phân biệt lương giáo, làm gì nên tội mà bắt cụ như thế.

- Thật tội nghiệp cụ tổng! Tôi thương cụ quá! Tôi chẳng biết làm gì để giúp cụ trong lúc này. Anh Cai Bình nói thế.

Nhiều người trong làng biết cụ bị bắt đem lên tỉnh giam thì tìm cách lên thăm và an ủi cụ, bày tỏ lòng kính phục cụ.

Trong những ngày tháng bị giam cầm trong tù ngục tại Nam Định, đã nhiều lần Ngài phải đối chất với các quan. Bị các quan dụ dỗ bị đe dọa đủ cách nhưng Ngài vẫn một mực cương quyết không chối Chúa. Trong nhà giam, nhiều lần Ngài bị đánh đập cực kỳ tàn nhẫn, bị kìm kẹp đau đớn nhưng không sao thuyết phục được Ngài bước qua Thập Giá, một dấu chỉ chối Chúa.

Có lần người ta khuyên Ngài giả vờ bước lên tượng Chúa để được tha thì Ngài nói:

- Đó là tội đáng ghê tởm! Giả vờ bước lên Thánh Giá cũng là một tội ghê gớm. Dầu có phải chết thì tôi cũng không thể làm như thế đuợc. Làm như thế là xúc phạm đến Chúa vô cùng.

Một hôm quan Tổng đốc và quan Chánh Án lệnh đưa Ngài ra công đường để khuyên dụ. Quan Chánh Án nói:

- Ông đã làm đến chức Chánh Tổng trong dân. Ông đã được

hưởng bao ơn lộc của vua. Tại sao bây giờ ông lại chống lại vua như thế?Ông hãy vâng lệnh vua bước qua Thập Giá này.

Ngài mạnh bạo trả lời:

- Tôi luôn trung thành với vua, không bao giờ chống lại vua. Sao quan lớn lại nói như thế?.

- Trung thành với vua, sao không vâng lệnh vua bỏ đạo

- Không bỏ đạo, không có nghĩa là chống lại vua, là không trung thành với vua.

- Tại sao không bỏ đạo là không chống lại vua?

- Tôi luôn trung thành với vua. Nhưng theo đạo Gia Tô là tôn thờ Thiên Chúa. Thiên Chúa trọng hơn vua. Phải tôn thờ Thiên Chúa hơn vâng lệnh vua mà bỏ Chúa..

Quan Tổng đốc nói tiếp:

- Ông làm việc đã lâu. Tôi biết ông là người tốt, ngay thẳng, liêm khiết, nhất là có lòng thương người. Tôi biết rất rõ về ông. Tôi không muốn làm án hại ông. Bây giờ ông dẹp bỏ tự ái, dẹp bỏ lòng tin nhẹ dạ của ông, vâng lệnh vua, bước qua Thập Giá, chúng tôi sẽ tha cho ông về và còn trọng thưởng cho ông nữa để dân chúng trong tổng của ông vui mừng. Tôi biết họ rất quí mến ông.

Ngài từ tốn đáp lại:

- Bẩm các quan, tôi hết lòng cảm tạ về những lời lẽ quan lớn vừa nói với tôi. Tôi biết và hiểu như thế. Nhưng tôi không tự ái, không nhẹ dạ như quan nói. Tôi xác tín theo đạo. Bây giờ dù phải mất hết mọi sự ở trần gian này thì tôi cũng xin vui lòng chấp nhận kể cả sự chết; còn việc bước qua Thập Giá theo lệnh của vua,  thì nhất định tôi không thể chiều theo ý vua và các quan lớn được. Nếu phải chết, tôi cũng vui lòng chịu chết vì đạo.

- Chúng tôi thương giúp ông mà ông không nghe thì chúng tôi phải theo lệnh vua, ông không thể trách chúng tôi.

- Bẩm các quan lớn, tôi không dám trách các quan lớn. Tôi

sẽ cầu nguyện cho các quan lớn mà thôi.

Các quan thấy Ngài cương quyết không bước qua Thập Giá và sẵn lòng chấp nhận chết vì đạo, thì thất vọng, buồn rầu đứng lên, không nói gì thêm, cho lệnh đưa Ngài về ngục .

Sau những tháng ngày dài, các quan không thuyết phục được Ngài nên đã làm án tử hình cùng với thánh Khảm, thánh Thìn và 7 anh hùng đức tin của Chúa gửi về kinh và được vua chấp thuận một cách mau lẹ..

Nhận được án lệnh từ kinh đô gửi về, các quan cấp tốc thi hành. Sáng hôm ấy, trên đường tiến ra pháp trường Bảy Mẫu Nam Định, Ngài bình tĩnh, nét mặt tươi vui, miệng đọc kinh lớn tiếng. Tới nơi Ngài cùng với các vị khác quì gối đọc kinh Tin Cậy Mến, kinh Ăn Năn Tội rồi để cho các lý hình trói chân tay đặt nằm trên chiếu trải trên mặt đất. Lý hình tròng giây qua cổ rồi bốn lý hình cầm hai đầu giây kéo thật mạnh cho tới khi Ngài tắt thở thì đốt tay chân của Ngài. Thân nhân và tín hữu xô tới xin xác Ngài. Ông Đa Minh Nhượng là người đã giúp đỡ Ngài trong suốt thời gian bị tù đã vinh dự được chứng kiến cuộc xưng đạo anh dũng của Ngài, ông xin nhận xác và đưa về an táng tại giáo xứ Quần Cống, quê hương của Ngài. Ngày 3 tháng 1 năm 1866 cha Trường đã cải táng và rước Ngài về đặt tại nhà thờ Đức Mẹ Mân Côi của xứ Quần Cống.

Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước ngày 29 tháng 4 năm 1851 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã long trọng tôn vinh Ngài lên hàng Hiển Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Chúng ta cảm tạ Chúa thay cho Ngài và xin Ngài bầu cử cùng Chúa cho chúng ta nữa.

    

5. Ngày 22 tháng 1:Thánh Matthêu Anphong Leziniana (Đậu)  Linh Mục. (1702-1745)

Cha Matthêu An Phông Sô Leziniana Đậu sinh ngày 26 tháng 11 năm 1702 tại Nava del Ray thuộc Tây Ban Nha. Ngay từ nhỏ, lúc mới 15 tuổi , cậu đã xin nhập dòng Đa Minh tại tu viện Sancta Cruz ở Segovia. Năm 1723 thầy đã khấn 3 lời khấn của Dòng và hoàn tất chương trình triết học và thần học Tới năm 1727 thầy lãnh chức linh muc lúc mới 25 tuổi.

Chịu chức linh mục được ít lâu thì tháng 11 năm 1730 cha được Bề trền chỉ định cùng với 24 linh mục tu sĩ khác cùng với cha Phanxicô Gil de Federich Tế sang truyền giáo tại Phi Luật Tân, rồi sau một thời gian thăm dò hoàn cảnh và xã hội Việt Nam, các đấng mở rộng môi trường hoạt động sang truyền giáo tại Việt Nam nữa.

Ngày 13 tháng 2 năm 1731 cha Mathêu Leziniana Đậu và cha Phanxicô Gil de Federich Tế được lệnh đáp tầu từ Manila đi Việt Nam. Sau gần một năm trời vượt qua bao sóng gió hãi hùng và nguy hiểm tới ngày 19 tháng 1 năm 1732, hai nhà truyền giáo trẻ trung mới đặt chân được trên đất Việt Nam yêu quí. Cha Mathêu Anphongsô Leziniana Đậu được chỉ định về Trung Linh để học tiếng Việt và tìm hiểu phong tục tập quan của người Việt Nam.

Cuộc đời của nhà truyền giáo trẻ trung khởi đầu bằng những thách đố không ngừng. Tới Việt Nam được năm tháng thì cuộc bắt đạo đã trở nên gay gắt. Đàng khác ngay tại địa phương đã có nhà sư tên Thịnh là người nằm vùng, trước kia đã tố cáo định bắt cha Phanxicô Gil de Féderich Tế. Vì hoàn cảnh khó khăn như vậy nên nhà truyền giáo Leziniana Đậu của chúng ta được nếm thử ngay những cảnh bị truy lùng, phải trốn lánh, gặp rất nhiều khó khăn vất vả. Nhưng trước những thách đố và nguy hiểm, các chiến sĩ truyền giáo của Chúa vẫn hiên ngang tiến bước, không hề lo sợ, nao núng Chính vì lòng nhiệt thành rao giảng Đạo Chúa nên ngày 19 tháng 1 năm 1732, Cha Matthêu Anphongsô Leziniana Đậu được chỉ định tới lo việc truyền giáo tại Bắc Hà.

Ngay khi vừa tới địa phận Đông Đàng Ngoài, Ngài đã hăng say bắt tay vào công việc rao giảng Tin Mừng. Lòng nhiệt thành và lời rao giảng của Ngài cùng với ơn Chúa, đã được đông đảo người Việt Nam đón nhận và xin được lãnh nhận bí tích Rửa Tội để được làm con cái của Chúa và gia nhập đại gia đình Hội Thánh Chúa. Vì số người theo Đạo Chúa rất đông nên Ngài đã phải vất vả coi sóc nhiều giáo xứ giữa cơn bách hại Đạo Chúa đời chúa Trịnh. Mặc dù đã có lệnh cấm Đạo và truy bắt người theo Đạo, Cha Leziniana Đậu vẫn một lòng bền chí, say sưa lo việc mở rộng Đạo Chúa trong lớp người nông dân chân thành, chất phác và dễ thương này.

Nhưng rồi một chuyện đau buồn đáng tiếc xẩy đến. Đó là vào một buổi sáng cuối năm 1743, giữa lúc Cha đang dâng thánh lễ thì quân lính đã ào ào kéo nhau tới vây bắt Ngài.trong thánh đường. Sau này người ta mới biết rằng Ngài bị bắt là do lời tố cáo của một người phản giáo, đã bỏ Đạo. Người phản giáo này đã đi tố cáo Ngài với nhà cầm quyền.để lấy tiền thưởng của nhà vua.

Cha Matthêu Anphongsô Leziniana Đậu bị xích tay, đeo gông nặng nề, bị đánh đập tàn nhẫn , bị hành hạ cách dã man và chịu tống giam trong tù một thời gian khá lâu.

Ngày 18 tháng 12 năm 1833, cha Mathêu Anphongsô Leziniana Đậu bị điệu ra toà.để thẩm vấn. Phiên toà hôm nay do quan Đề Lĩnh, con rể ông Thị Trưởng, chưa bao giờ gặp được đạo trưởng ngoại quốc nên ông Đề Lĩnh nhận chủ toạ cuộc thẩm vấn này. Quan Đề Lĩnh hỏi cha:

- Ông là người ngoại quốc tới xứ này được bao lâu rồi?

Cha trả lời:

-  Thưa quan lớn, từ 12 năm

- Ông tới đây có mục đích gì?  Quan hỏi.

- Thưa quan lớn, tôi có trách vụ dạy lề luật Thiên Chúa, là lề luật thánh thiện, chân chính. Do đó tôi đến dạy cho người ta.

Quan hỏi tiếp:

-Ông dạy thế nào cho người ta tôn trọng luật này?

Cha trả lời:

- Tôi dạy về Thiên Chúa và ba vị đóng vai trò làm Chủ, tức là Thiên Chúa ở trên trời, ông vua trong một nước và cha mẹ trong gia đình.

Nói xong cha Leniana Đậu đọc cho quan nghe 10 Điều Răn trong đạo.

Quan khen hay rồi nói tiếp:

- Vua đã nghiêm cấm không cho ông giảng đạo trong nước. Tại sao ông còn ngoan cố tới đây và liều mình với bao nhiêu vất vả, nguy hiểm gian nan?

Cha trả lời:

- Tôi biết nhà vua cấm, do đó tôi không xuất hiện nơi công cộng. Tôi phải di chuyển, đi lại trong đêm để giảng lề luật của Chúa, Đấng ngự trên trời. Tôi khuyên bảo người ta ăn ngay ở lành, tập luyện nhân đức và phải xa lánh những điều bất chính, tội ác.

Quan cười và nói tiếp:

- Nghe ông nói, tôi biết ông rất thành thật . Vậy ông từ nước nào tới đây?

- Thưa quan lớn, tôi đến từ nước Tây Ban Nha, gần nước Bồ Đào Nha

Sau cuộc tra vấn này, quan Đề Lĩnh ra lệnh tháo gông cho cha. Nhưng lại xiềng xích tay chân cha lại. Trong lao tù lúc ấy có cha Phanxicô Gil de Féderich Tế cũng đang bị giam. Hai cha cố gắng tìm mọi cách để liên lạc với nhau và có thể được giam chung với nhau nữa. Và thật may mắn, cầu được ước thấy, ngày 30 tháng 5, ngày lễ Chúa Ba Ngôi hai cha cùng quốc tịch Tây Ban Nha, cùng dòng Đa Minh được xum họp với nhau trong cùng một nhà giam, hai cha vui mừng có cơ hội để tâm sự với nhau, khuyến khích nhau,  nhất là. xưng tội và dâng lễ với nhau nữa,

Khi phải đối chất với các quan, cha Mathêu Leziniana Đậu luôn tỏ ra bình tĩnh, không khiếp sợ, mặc dầu trước những hình phạt ghê gớm. Trước mặt các quan, quan chánh án hỏi cha:

- Ông biết là lệnh vua cấm truyền bá đạo Gia Tô là đạo của tây phương. Tại sao ông còn cố chấp gieo rắc những sự sai lạc trong dân chúng như thế?”

Cha bình tĩnh giải thích và nói về đạo cho các quan nghe:

- Trước hết vua và các quan hiểu lầm, cho đạo Gia Tô là đạo tây phương. Không phải thế. Đạo Gia Tô do Chúa Giêsu truyền dạy và mạc khải cho chúng ta, mà Chúa Giêsu là người Đông Phương, xuất xứ từ Đông Phương chứ đâu có phải đạo của tây pbương. Đàng khác, đạo Gia Tô khuyên dạy người ta kính thờ Thiên Chúa là Đấng tạo dựng trời đất và chúng ta nữa. Đạo dạy ăn ngay ở lành, hiếu thảo với cha mẹ, với vua quan, yêu thương mọi người. Tại sao quan lại nói là chúng tôi gieo rắc những sự sai lạc?.

Quan lại hỏi:

- Ông nói đạo dạy hiếu thảo với vua quan. Vậy tại sao ông

không vâng lệnh vua bỏ đạo? Nếu ông vâng lệnh vua bỏ đạo, vua sẽ ban bổng lộc và cho ông làm quan, được ở bên cạnh vua nữa. Vua rất qúi trọng các ông mà!

Cha đáp lại:

- Thưa quan lớn!  Chúng tôi không thể vâng lời vua mà bỏ đạo Chúa được. Chúng tôi phải vâng lệnh Thiên Chúa trước đã. Vì Thiên Chúa còn trọng hơn vua. Chúa dựng nên vua mà! Tôi đã bỏ mọi sự, bỏ quê hương và gia đình cùng mọi người thân yêu để tới đây chỉ có một mục đích duy nhất là rao giảng cho nhiều người nhận biết Thiên Chúa mà thôi, nên sự giầu sang, chức quyền, của cải mà quan nói, tất cả những sự ấy tôi không cần. Tôi xin cám ơn quan lớn.

Quan lại hỏi:

- Ông bị tra tấn, bị đánh đau đớn như thế, tại sao ông không khai báo tên và nơi trốn lánh của các đạo trưởng khác? Ông

có bùa thuật nào để chịu được sự đau đớn như vậy?

Cha tươi cười trả lời:

- Làm gì có bùa thuật nào để chiụ được những cuộc hành hạ đau đớn như vậy! Vì lòng yêu mến Thiên Chúa và Thiên Chúa giúp nên tôi sẵn lòng chịu mọi đau đớn và hành hạ vì Chúa mà thôi. Còn các đạo trưởng khác thì bị truy lùng, bắt bớ, mỗi người đi một nơi. Tôi không biết hiện nay các vị đó đang ở đâu. Các quan mà không biết thì tôi biết làm sao được?.

 Sau  nhiệu lần tra hỏi và khuyên dụ, khi thì ngọt ngào thân thiện, khi thì gay gắt và bị đánh đập tra xét, Nhưng lần nào các quan cũng thất bại, vì không thể thuyết phục được Ngài nên các quan bàn định làm án tử hình về tội đã rao giảng Đạo Chúa rồi chuyển án về triều đình, xin vua châu phê.

Ngày 22 tháng 1 năm 1745, sau khi đã dâng lễ, cha Phanxicô Tế bị điệu đi xử và cha Mathêu Leziniana Đậu cũng được theo chân bạn ra tận pháp trường để cùng chịu trảm quyết ngay hôm đó.  Lịch sử còn ghi lại một vài chi tiết rất lạ lùng. Sáng hôm ấy bầu trời rất quang đãng, trời đẹp. Nhưng khi quan quân áp giải hai cha Phanxicô Tế và cha Mathêu Leziniana Đậu từ nhà giam ra pháp trường Đông Mơ trời đang trong sáng bỗng tự nhiên tối sầm lại cho tới khi hai chiếc đầu của hai vị tử đạo rụng xuống thì trời lại tươi sáng trở lại. Và hai chiếc đầu còn dính đầy máu thì từ đâu hai con chim bồ câu trắng bay tới lượn trên cao, rồi lại bay sà xuống đất, bay nhiều vòng liên tục.

Sau khi hai chiếc đầu rơi xuống đất thì những người chứng kiến cả lương lẫn giáo, người ta đổ xô tới thi nhau thấm máu và chia nhau lấy những mảnh vải áo của các Ngài. Nhờ những tấm khăn thấm máu này nhiều ơn lạ đã xẩy ra. Nhiều bệnh nhân và nhiều chứng bệnh nan y lâu ngày chữa trị không khỏi, nay lấy những miếng bông hay vải thấm máu các Ngài đặt lên chỗ đau hay để trên ngực rồi cầu xin các Ngài mà được khỏi bệnh.

Trước những sự lạ lùng như thế, người tín hữu trở nên mạnh bạo, không còn sợ hãi, lén lút nữa mà trở nên can đảm, tinh thần vững mạnh và xuất hiện công khai để lo thu lượm di hài và rước về mai táng cách long trọng và công khai đặt dưới bàn thờ Đức Mẹ Mân Côi của nhà thờ xứ Lục Thủy.

Đức Giáo Hoàng Piô X đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước ngày 20 tháng 5 năm 1906, và ngày 19 tháng 6 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam.

  

 

6. Ngày 22 tháng 1:Thánh Phanxicô Gil de Federich (Tế) Linh Mục. (1702-1745)

Cha Phanxicô Gil de Federich Tế sinh ngày 14 tháng 12 năm 1702 tại Toetosa Catalunha, thuộc Tây Ban  Nha trong một gia đình quí tộc. Ông bà thân sinh của cha rất đạo đức và luôn đề cao những giá trị tôn giáo. Chính vì vậy mà ông bà đã đặt nặng lòng đạo đức và tinh thần Công giáo trong việc giáo dục các con cháu trong gia đình.

Năm 15 tuổi cậu Phanxicô Féderich tận hiến cho Chúa trong Dòng Đa Minh tại tu viện Barcelona. Ngay từ nhỏ, cậu Féderich đã nhiều lần được mẹ kể cho cậu nghe chuyện của nhiều vị đi truyền giáo tại các xứ sở xa xôi. Nhờ vậy, cậu đã nhiều lần mơ ước sau này sẽ trở thành chiến sĩ đi truyền giáo ở những vùng trời xa xăm như những câu chuyện cậu đã được nghe mẹ kể. Sau khi chịu chức linh mục, năm 22 tuổi, cha xin tình nguyện đi truyền giáo bên Viễn Đông. Nhưng Bề trên đã không chấp nhận ngay, vì thấy cha còn trẻ tuổi nên muốn trì hoãn lại một thời gian để thử thách ý chí và lòng nhiệt thành của cha. Đàng khác bề trên nghĩ rằng cha Féderich khó có thể chấp nhận khổ cực được vì cha là con nhà giầu có, thuộc dòng dõi quí phái, đi tu được cũng đã là điều may mắn lắm rồi. Bây giờ đi truyền giáo còn đòi hỏi hy sinh gấp ngàn lần nữa thì làm sao chịu được!  Nhưng nhiều lần cha năn nỉ xin Bề trên để được đi truyền giáo.

Sau một thời gian thử thách, Bề trên thấy ý chí và lòng nhiệt thành lo việc truyền giáo của cha là đáng kính phục nên tới năm 1729 Bề trên đã quyết định sai cha đi cùng với 24 linh mục tu sĩ khác lên đường sang Phi Luật Tân lo việc truyền giáo cho vùng đất rộng lớn này. Con tầu khởi hành từ cảng Bordeaux, đưa các nhà truyền giáo sang Viễn Đông. Con tầu lênh đênh trên biển cả bao tháng ngày, mãi tới đầu tháng 11 năm 1730 tầu mới cập bến Manila bằng an.

Tại Manila, Phi Luật Tân, Cha Gil de Federich học tiếng địa phương dễ dàng, và thích ứng với khí hậu, văn hoá và nếp sống của người dân một cách mau chóng. Do đó, cha được chọn làm thư ký cho cha Bề trên Giám Tỉnh của Dòng Trong chức vụ mới này, cha đã tỏ ra là một cộng tác viên rất đắc lực của cha Bề trên và cha đã chiếm đươc sự quí mến của Bề trên cũng như của mọi thành phần trong cộng đồng Tu Viện. Đến ngày 28 tháng 8 năm 1735, vì nhu cầu của công việc truyền giáo tại Bắc Hà đòi hỏi tăng cường nhân sự nên Bề trên Giám Tỉnh đã sai cha sang Việt Nam tiếp tay với các anh em đã có mặt và đang hoạt động rao giảng Tin Mừng tại vùng đất phì nhiêu Bắc Hà này. TớI nơi, cha nhận tên Việt Nam là Tế và ở Lục Thủy giáo phận Bùi Chu ngày nay để học tiếng Việt chừng năm tháng, sau đó cha bắt đầu đi hoạt động trong các vùng lân cận của huyện Trực Ninh, Giao Thủy. Xuân Trường. Cha hăng say xả mình trên cánh đồng truyền giáo mênh mông mà không biết mệt mỏi.Có lần cha đang bị cảm nặng, nghe tin có bệnh nhận bị liệt giường cần xưng tội. Cha vội vàng chỗi dậy đi ngay. Có người can ngăn cha, sợ cha bị lây bệnh. Cha trả lời: “Hồi xưa Chúa bị treo trên Thánh Giá, gần tắt thở, Chúa còn giải tội cho người trộm lành. Phần tôi chưa đến nỗi chết, tôi phải đi giúp người ta chứ”.  Quả thật, Cha Gil de Federich Tế là một linh mục đầy lòng quả cảm, Ngài đã biết rằng tới Bắc Hà trong thời điểm này thật khó khăn và đầy những thách đố đang chờ đợi cha, vì chính thời gian này là thời gian Đạo Chúa đang bị chúa Trịnh bách hại một cách vô cùng tàn bạo .

Bất chấp mọi thử thách, cha đã hăng say lăn xảo vào trách vụ truyền giáo. Cha  tận tụy trong công việc dạy giáo lý, lo Rửa Tội cho rất nhiều tân tòng trong khu vực Nam Định, Bùi Chu v.v. Cha đã gặt hái được rất nhiều thành quả cho Chúa, đã đưa được nhiều người trở về tin theo Đạo Chúa. Nhưng rồi những sự khốn khó lại xẩy tới.  Vì thấy nhiều người bỏ chùa chiền đi theo cha Gil de Federich Tế nên một nhà Sư tên Thịnh sinh lòng ghen tị và ác cảm với cha, do đó nhà Sư này đã đi tố cáo cha với nhà chức trách. Chính vì thế mà ngày 3 tháng 8 năm 1737 cha đã bị bắt ngay tại nhà thờ xứ Lục Thủy. Biết được âm mưu của nhà Sư và cuộc truy lùng của quân lính, giáo dân đã tìm đủ mọi cách để cứu thoát cha, nhưng công việc không thành, vì vậy cha đã bị bắt và áp giải về Thăng Long. Vế tới Thăng Long, cha được đưa tới công đường để tra vấn, xét hỏi, rồi bị tống giam trong ngục tù , bị đày đọa một cách rất tàn nhẫn.

Một hôm các quan ra lệnh dẫn cha Féderich Tế ra công đường, các quan hỏi cha về danh sách những người Công giáo mà cha đã lui tới, giảng dạy. Cha nhất định không khai. Các quan bực mình, đem ra một tang vật đã tịch thu được là một chiếc hộp trong đó có tượng ảnh, cây Thánh Giá và tượng Đức Mẹ bằng ngà và ảnh Đức Mẹ Mân Côi. Một quan hỏi cha :

- Những đồ vật này là gì đây? Tang chứng rõ rệt quá rồi. Ông phảI khai báo rõ ràng cho chúng tôi.

Cha bình tĩnh, lần lượt giải thích, vì có dịp được nói về đạo. Cha nói:

- Cây Thánh Giá là hình ảnh Chúa Giêsu con Thiên Chúa đã giáng trần làm người, đã tử nạn để đền thay tội lỗi chúng ta. Còn hai tượng kia là hình ảnh Đức Mẹ chí thánh ngày xưa đã sinh Chúa Giêsu tử nạn.

- Thế sau khi chết rồi ông hy vọng đi về đâu? Quan hỏi.

- Đi lên trời hưởng phúc trường sinh.

Quan lại hỏi tiếp:

- Chết rồi, xác chôn dưới lòng đất, mà ông nói là lên trời làm sao. Ông nói vô lý quá, ai nghe được?

Cha đáp:

- Phải xác nằm nguyên lại trong mồ, nhưng linh hồn là bản tính linh thiêng có hai đường đi: một là lên trời hưởng phúc vĩnh cửu, hai là xuống hoả ngục chịu khổ muôn đời, tùy theo tội phúc của mỗi người khi còn sống.

Quan lại tò mò hỏi tiếp:

- Thế ra cũng lên trời được à?

Cha giải thích tiếp:

- Thật vậy, nếu không như thế thì làm sao tôi có can đảm sẵn sàng chịu mọi đòn vọt, tra tấn, chịu khổ nhục và sẵn sàng chấp nhận chết?.

Các quan cười rồi nói:

- Rõ là chuyện bịa đặt chứ ông biết gì. Chúng tôi không tin điều ông nói.

Cha thản nhiên  đáp:

- Chính Thiên Chúa đã dạy như thế. Thiên Chúa không thể nói dối được.

Quan chánh án lại nói:

- Có bao giờ ông nghe thấy Thiên Chúa nói không?

Cha nói với giọng quả quyết:”

- Mặc dầu tôi chưa đích thân nghe thấy. Nhưng tôi vẫn xác tín là Thiên Chúa đã dạy như vậy.

Cuộc đối thoại chấm dứt. Quan tòa ra lệnh đưa ra một cái búa, cha chưa hiểu búa dùng để làm gì thì quan nói với cha:

- Ông hãy cầm búa đập tan những ảnh tượng này đi

Cha không trả lời. Cha cầm chiếc búa ném ra ngoài. Lính vội vàng chạy ra cầm búa vào đưa cho nhà Sư để đập tượng. Cha Féderich Tế vội lấy hai tay che đầu tượng và thẳng thắn nói:

- Muốn đánh thì  đánh trên hai bàn tay này hay bất cứ nơi nào trên thân xác tôi. Nhưng xin đừng xúc phạm đến Chúa tôi tôn thờ.

Chứng kiến cảnh xô xát này, các quan cười rũ rượi rồi tuyên bố giải tán, cho lệnh đưa cha về lại nhà giam.

Trong năm 1738 có tất cả 5 lần phải ra công đường đối chất như vậy. Nhưng không lần nào các quan thuyết phục được cha.

Sau nhiều lần bị đánh đập, tra hỏi các quan hội họp quyết định kết án tử hình về tội đã rao giảng Đạo Gia Tô. Bản án đã công bố nhưng vì trong thời gian này có nhiều biến cố dồn dập xẩy tới, vì vậy mà bản án bị quên dần và cha cũng được đối xử tử tế hơn đôi chút,

Vì bản án bị đình hoãn nên ngày 30 tháng 5 năm 1744 cha Phanxicô Gil De Federich Tế đã có cơ hội được gặp lại cha Matthêu Leziniana Anphongsô Đậu tại nhà tù Thăng Long. Hai người bạn đồng hương lại cùng Dòng Đa Minh được gặp nhau  trong hoàn cảnh tù đày tại một nơi xa xôi với quê hương của mình, chắc chắn phải là một dịp vô cùng qúi báu, vô cùng sung sướng, vô cùng vui mừng và xúc động. Thế rồi tới ngày 20 tháng 1 năm 1745 sau khi đã dâng thánh lễ, Cha Phanxicô Gil de Faderich Tế bị điệu đi xử tử và Cha  Matthêu Anphongsô Leziniana Đậu được phép tiễn chân bạn ra tận pháp trường để chứng kiến cái chết anh hùng của bạn rồi cùng chết với bạn..

Thật ý Chúa nhiệm mầu như muốn cho hai người môn đệ của Chúa được vinh phúc lãnh triều thiên tử đạo cùng ngày với nhau nên Chúa đã để cho Chúa Trịnh đổi ý, ra lệnh thi hành án lệnh tử hình cha Matthêu Đậu ngay trong ngày hôm đó. Thế là cha Matthêu Anphongsô Đậu bị trảm quyết cùng một nơi chốn với cha Gil de Federich Tề . Cả hai thi hài các Ngài đã được giáo dân đón nhận,  rước về an táng tại nhà chung xứ Lục Thủy, giáo phận  Bùi Chu.

Đức Giáo Hoàng Piô X đã tôn phong hai vị anh hùng tử đạo lên bậc Chân Phước ngày 20 tháng 5 năm 1906.  Sau 82 năm, Đức Giáo Hoàng Gioan Phalô II đã tôn vinh các Ngài lên bậc Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.  

7. Ngày 30 tháng 1:Thánh Tôma Khuông Linh mục  (1780-1860) 

Thánh Tôma Khuông sinh năm 1780 tại Nam Hào Xứ Tiên Chu, tỉnh Hưng Yên. Cha Ngài là con quan Tuần Phủ Hưng Yên cho nên Ngài được ăn học tới nơi tới chốn. Ngài thành đạt nhờ trí tuệ thông minh, Cha Ngài hy vọng sau này sẽ sẽ có người con xứng đáng để nối dõi tông đường, thăng quan tiến chức, nối nghiệp của cha, làm rạng rỡ gia đình giòng tộc.

Nhưng sau khi đỗ đạt, cậu con trai yêu qúi đã nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Chúa, Cậu không muốn làm quan nhưng làm linh mục. Cậu xin phép cha mẹ đi tu và được nhận vào chủng viện học tập theo lý tưởng làm linh mục. Sau khi hoàn tất chương trình triết và thần học, Thầy Tôma Khuông được gọi lãnh chức linh mục như lòng hằng mong ước.

Sau khi lãnh chức linh mục, cha được sai đi giúp các tín hữu trong giáo phận. Cha nổi tiếng là một linh mục khôn ngoan, thánh thiện, rất nhiệt thành, giao tế vui vẻ, uyển chuyển, được lòng mọi người.và được mọi người thương mến. Làm việc mục vụ chung với các cha dòng Đa Minh, cha có cảm tình sâu đậm với các cha Dòng nên cha cũng xin vào Dòng Đa Minh và tích cực cổ động nhiều giáo dân vào dòng ba Đa Minh để sống tinh thần cầu nguyện và làm việc truyền giáo sâu rộng hơn.

Nhờ tài khôn ngoan và giao tế khôn khéo sẵn có mà cha đã trở thành bạn thân quen của nhiều quan chức địa phương. Nhờ vậy mà cha vẫn thi hành công việc mục vụ một cách điều hoà. Nhiều lần cha đã bị bắt nhưng vì những liên hệ nói trên với các quan chức địa phương nên cha được tha. Đến năm 1858 vì những áp lực của quân đội Pháp đối với triều đình đã làm cho vua Tự Đức nổi giận và nghi ngờ người Công giáo là dụng cụ của thực dân Pháp nên đã ra lệnh tiêu diệt đạo Công giáo và gia tăng việc bắt bớ các đạo trưởng cũng như người theo đạo..

Trước tình trạng khó khăn này một số thanh niên làng Cao Xá đã tổ chức võ trang chống lại triều đình. Cha khuyên can nhóm thanh niên này, nhưng không được cho nên cha quyết định trốn sang điạ phận Đông Đàng Ngoài, tức là Hải Phòng ngày nay.

Trên đường lánh nạn, đi đến cầu làng Trần Xá, cha thấy quân lính đã đặt một Thánh Giá trên cầu, cốt ý để cho mọi người đi qua cầu phải bước qua Thánh Giá. Biết vậy, Ngài nhất định không bước qua và cố gắng tránh để không động chạm tới Thánh Giá trên mặt đất. Bọn lính canh gác thấy thế liên xông tới bắt và trói cha cùng với một số người đi theo cha,  đem nộp cho quan đế tống giam vào ngục. Bọn lính được thế, đã xông vào dánh đập cha một cách hung bạo, không còn kiêng nể gì.Trước những trận đòn tàn ác và những xỉ nhục phải chịu,  người chiến sĩ của Tin Mừng vẫn một lòng kiên trì, cậy trông vào quyền năng của Chúa. Dù bị tra tấn, đánh đập với trăm ngàn cực hình cay đắng đớn đau, Cha Tôma Khuông vẫn kiên cường chịu đựng mọi nhục nhã đớn đau vì Chúa. Cha luôn tỏ ra vui mừng và hãnh diện vì cha đã được chịu những cực hình vì lòng yêu mến Chúa và để cầu nguyện cho những người đã vì lời rao giảng của cha mà tin theo Chúa.

Một hôm cha Tôma Khuông cùng với mấy người viên chức có địa vị trong làng là Công giáo bị áp giải tới đối chất với quan tổng đốc. Quan tìm mọi cách buộc cha và những người này phải khai báo về các vị Thừa Sai và làm chứng nhóm thanh niên ở Cao Xá đã liên hệ với Pháp và Tây Ban Nha đang ở trên những chiếc tầu đậu ngoài biển để nổi loạn chống triều đình. Quan tổng đốc xin cha làm chứng như thế; Cha Tôma Khuông thẳng thắn trả lời:

- Đạo Công giáo không những cấm các tín hữu chống lại chính quyền, mà còn khuyên họ cầu nguyện và góp phần giúp quê hương được an bình thịnh vượng nữa.

Quan lại hỏi:

- Như ông nói đạo Công giáo không chống lại chính quyền vậy tại sao ông lại chống lệnh vua, không chịu quá khoá. Ông nói láo .

Cha đáp lại:

- Đạo Công giáo chúng tôi không chống lại vua quan. Nhưng lệnh vua bắt chúng tôi phải bỏ đạo thì không thể được. Đạo Công giáo dạy thờ kính Thiên Chúa mà Thiên Chúa còn trọng hơn vua quan. Chúng tôi không thể bỏ Thiên Chúa để theo lệnh vua được. Chúng tôi có làm điều gì trái đâu. Đạo có dạy điều gì trái với đạo làm người đâu? Đạo dạy ăn ngay ở lành, làm điều tốt, tránh điều xấu mà.

Quan lại dùng lời lẽ ngọt ngào khuyên dụ cha:

- Thôi, xin ông bước qua Thập Giá và khuyên bảo những người này cùng bước qua Thập Giá để được tha về, sống trong tự do hạnh phúc.

Cha bình tĩnh và khiêm tốn trả lời:

- Tôi nay đã 80 tuổi rồi, lại là linh mục. Tôi luôn luôn khuyên bảo các tín hữu phải trung thành giữ đạo thánh Chúa. Bây giờ tôi lại chối đạo và khuyên người ta chối đạo nữa thì tôi thật đáng ghét, tôi là kẻ bất trung, không còn xứng đáng là linh mục nữa. Tôi và những người bạn đồng đạo với tôi đây chỉ mong ước được chết vì đạo Chúa mà thôi.

Nghe những lời này, quan Tổng đốc lắc đầu thở dài thất vọng rồi cho lệnh đưa Ngài về nhà tù.

Sau một thời gian đầy đọa, hành hạ người chiến sĩ đức tin, làm đủ cách mà không làm sao lay chuyển được lòng can đảm và ý chí vững bền của Ngài, Ngài luôn giữ vững niềm tin nơi Chúa. Các quan đều thất vọng vì không thuyết phục được Ngài nên cuối cùng các quan đã làm án tử hình vì là đạo trưởng của đạo Công Giáo.

Sau khi án lệnh được công bố, ngày 30 tháng 1 năm 1860 toán quân lý hình điệu Ngài đi xử. Trên đường ra pháp trường người ta thấy một cụ già 80 tuổi đầu tóc bạc phơ, tay chống cây gậy, trên đầu cây gậy cha đã buộc một thanh gỗ nằm ngang như cây Thánh giá, cha chậm chạp bước đi từng bước vì tuổi già, sức yếu. Những người theo sau để chứng kiến cái chết oai hùng của cha, có ngưòi thở dài nói:

- Trông ông cụ già, đầu tóc bạc phơ đáng kính quá mà đem ra mà xử tử hình như thế này, thật đắc tội với Trời.

Người khác bàn thêm  vào:

- Nhưng đó là lệnh của vua ban xuống mà, các quan cũng đâu có muốn hành hạ cụ già này làm gì

- Ai chả biết đó là lệnh của vua. Thật tội nghiệp cụ già, đáng tuổi ông cố nội chúng mình

Hình như một người tín hữu đi theo nói xen vào:

- Ngài thật là đấng thánh tử đạo đấy. Ngài chết để làm chứng đạo Thiên Chúa là đạo thật. Được đổ máu ra vì Chúa là một phúc trọng lắm đấy

Đoàn người chậm chạp theo sau xa xa, vừa đi vừa bàn tán với nhau về cha. Người nào dù Công giáo hay lương dân cũng đều tỏ lòng thương mến cha. Thấy việc đem xử chém đầu ngài là một hành động mang tội với Trời.

Đi trước đám quần chúng đông đảo là một đội quân cờ quạt, chiêng trống. Quan giám sát cỡi ngựa, đội lính đi hai hàng, một cụ già 80 tuổi đi ở giữa. Tới nơi xử, cha quì xuống đất đọc kinh bằng tiếng la tinh rất sốt sắng. trước khi bị chém, cha thấy tấm bảng gỗ ghi hai chữ “tả đạo”. Cha đề nghị bôi hai chữ đó đi. Nhưng đội lý hình thưa laị:

- Chúng tôi rất muốn chiều theo ý cụ. Nhưng đây là lệnh của vua, chúng tôi không thể làm cách khác được. Xin cụ đưa đầu để chúng tôi chỉ chém một nhát cho đỡ đau đớn

Quan giám sát ra hiệu, chiêng trống ba hồi nổi lên. Tới tiếng chiêng trống thứ ba thì lý hình vung gươm thật cao chém một nhát, đầu vị chứng nhân đức tin rụng xuống đát. Nhiều tiếng kêu lớn từ xa vọng lại:

- Giêsu Maria, lạy Chúa! Họ chém đầu cha rụng xuống đất rồi

Tiếng kêu khác vọng lên:

- Cụ về trời, cụ nhớ cầu cho chúng tôi nhé. Cụ thật là đấng thánh đáng kính phục..

Đoàn người không còn sợ hãi, xông vào thi đua nhau thấm máu vị tử đạo. Vì người ta tin rằng máu các vị tử đạo chữa được mọi thứ bệnh tật, cho nên người lương cũng chen nhau mà thấm máu các Ngài. Một số giáo dân đã tới xin thi thể Ngài để an táng ngay tại nơi Ngài bị xử.

Ngày 29 tháng 4 năm 1951 Đức Giáo Hoàng Piô XII đã long trọng tôn vinh Ngài cùng với 24 vị tử đạo khác tại Việt Nam lên bậc Chân Phước và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô III đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988. Chúng ta cảm tạ Chúa thay cho Ngài và xin Ngài bầu cử cùng Chúa cho chúng ta nữa.

Cha Thánh Tôma Khuông

Cha Khuông viết lại lời khai

Khi quan tra khảo về ngài như sau:

Tôi ngoài tám chục tuổi đầu

Cũng là linh mục, giúp nhau trọn lành

Ngay tà tôi biết phân minh

Giáo điều Đạo Thánh trung thành giữ tuân

Dạy người cùng giữ thiết cần

Nếu vì ham sống giáo dân khai trình

Đạp lên nhan Chúa huyền linh

Ắt đời chẳng trọng mà khinh vì hèn

Sao nhìn giáo hữu thân quen

Còn chi xứng với chức trên ủy quyền

Vậy tôi thẳng thắn nói lên

Ngàn lần chịu chết, chẳng phiền trách ai.

Cha xin với ý van nài

Chết vì Đạo Thánh, tôi hài lòng vâng

Bởi vì Con Đấng Toàn Năng

Chết cho nhân thế, tôi hằng ước ao

Chết đền bằng chết thế nào

Yêu bù yêu chẳng lẽ nào từ nan. (Trương Hoàng)

 Tháng 2  

8. Ngày 2 tháng 2:Thánh Gioan Thêôphan Vénard Ven Linh Mục. (1829-1861)

Thánh Gioan Thêôphan Vénard Ven chào đời ngày 21 tháng 11 năm 1829 tại làng nhỏ bé Saint Loup-sur-Thouet thuộc tỉnh Deux-Sèvres miền tây nước Pháp. Cha là cụ Gioan Vénard, giáo viên và mẹ là bà Maria Guéret. Ngay từ hồi nhỏ cậu Thêophan Vénard, thân hình nhỏ bé, khôi ngô, ưa thầm lặng suy tư và rất thích đọc sách. Lúc mới 8 tuổi, cậu đọc chuyện Chân Phước Carolô Cornay –cha thánh Tân tử đạo.- Cậu Thêophan Vénard đã nói với mẹ: “Con cũng muốn đi Việt Nam và muốn tử đạo” Bà mẹ thấy cậu con trai mới 8 tuổi mà nói như thế thì cười, không nói gì. Mấy tuần lễ sau, cậu ngỏ ý với bố:”Bố ơi! Con muốn đi tu làm linh mục”.Thấy con ngỏ ý muốn đi tu thì ông già vui mừng nên đã gửi cậu vào học trường giáo xứ Saint Loup để bắt đầu học La tinh, rồi năm 1841 lại được chuyển tới trường trung học Doué trong tỉnh Maine-et-Loire.

Ngay từ nhỏ cậu đã được mọi người khen ngợi là người ngoan đạo, dễ thương, gia đình cậu thật hạnh phúc, đầm ấm..Nhờ bầu khí đạo đức thánh thiện của gia đình nên ngay từ nhỏ cậu đã tỏ ra rất hiền hoà, phong độ và đầy nghị lực, học hành giỏi giang , được các thầy cô và bạn bè thương mến. Dần dần khi khôn lớn và học về địa lý Á Châu, cậu mơ ước có ngày được đặt chân tới những vùng đất tốt đẹp này để loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Cứu Thế. Khi đọc những gương anh hùng tử đạo của các vị thánh, cậu ước ao được phúc tử đạo như các vị thánh anh hùng tử đạo vì đã loan truyền Tin Mừng của Chúa Kitô.

Được sống trong khung cảnh của một gia đình đạo đức sốt sắng như vậy, lòng đạo đức và tinh thần truyền giáo mỗi ngày triển nở thêm lên. Cậu quyết tâm được dâng mình cho

Chúa để trọn đời phục vụ Chúa, mong làm sáng danh Chúa Thế rồi một hôm sau khi đã cầu nguyên sốt sắng với Chúa và như nghe được tiếng mời gọi của Chúa nên cậu đã mạnh dạn xin phép cha me để đi tu. Cha mẹ biết lòng nhiệt thành và ý chí cậu muốn dâng mình cho Chúa, các ngài vô cùng sung sướng, vui mừng chấp thuận lời xin của cậu. Sau khi được cha mẹ chấp thuận, cậu hăng hái xin gia nhập tu viện Saint-Loup và theo Ban Thần Học tại Đại Chủng Viện Portiers.

Một đặc điểm nổi bật trong đời sống thiêng liêng của thầy Thêophan Vénard Ven là lòng sùng kính yêu mến Phép Thánh Thể. Đối với thầy, Thánh Thể chính là nguồn sinh lực giúp thầy can đảm lướt thắng mọi thử thách, lướt thắng mọi cám dỗ gian nan trong cuộc sống. Năm 1851, thầy gia nhập vào Chủng Viện Hội Thừa Sai Paris và thụ phong linh mục năm 1852. Sau khi thụ phong linh mục, cha được lệnh Bề trên xuống tầu buôn Philotaxe của Hoà Lan ở Anvers sang Hồng Kông để học hỏi thêm về kiến thức và ngôn ngữ mong dễ dàng giao tiếp với dân bổn xứ, sau hơn 4 tháng trời tầu mới cập bến Singapore ở đây cha gặp bốn chủng sinh Việt Nam đang học tai chủng viện Pénăng do các linh mục Hội Thừa Sai Paris điều hành . Lần đầu tiên cha được tiếp xúc với người Việt Nam, cha có cảm tình và quí mến ngay những chủng sinh Việt Nam này.. Dừng chân ít ngày rồi lại tiếp tục đi Hồng Kông, tại đây cha đã phải vất vả học chữ Nho cho tới tháng 2 năm 1854, tức 2 năm sau cha mới được cử sang truyền giáo tại địa phận Tây Bắc Kỳ trong thời vua Tự Đức.

Nói tới thời vua Tự Đức, chúng ta đều biết rằng đây là thời gian rất khó khăn cho các vị Thừa Sai., vì vua Tự Đức đã ra sắc lệnh cấm Đạo và truyền Đạo rồi. Tuy thế, cha Gioan Thêôphan Vénard Ven vẫn kiên trì bằng mọi cách để rao giảng Tin Mừng Cứu Độ. Tháng 8 năm 1854 cha tới Kẻ Đoan học tiếng Việt, nhưng vì đau yếu phải sang tạm trú tại chủng viện Hoàng Nguyên. Lúc này cuộc bắt đạo đã bùng lên khắp nơi, chỉ trong một tuần lễ mà cha phải di chuyển tới bốn lần, cuối cùng phải lánh nạn tại Bút Đông. Trong những ngày này cha phải khổ cực trốn lánh, phải lận lội trong những ruộng lúa hay chui rúc trong các lùm cây trong đêm.tối. Năm 1857 cha được bề trên trao phó coi sóc cả hạt Hoàng Nguyên, gồm 4 xứ đạo, dân số lên tới 12 ngàn người Công giáo. Công việc nặng nhất khi ấy là ngồi tòa giải tội. Nhiều ngày phải giải tội tới đêm khuya Thầy Giảng Nguyễn Duy Khang thấy cha ốm yếu mà ngồi giải tội nhiều giờ quá như vậy thì khuyên cha giảm bớt giờ giải tội đi để nghỉ ngơi đôi chút thì cha nói: “Nếu được chết trong khi ngồi toà giải tội cho người ta thì thật là có phúc vô cùng”.

Vua Tự Đức đã sẵn lòng ghét đạo, rất ác cảm với các giáo sĩ tây phương thì năm 1858 đoàn thủy thủ của quân đội Pháp lại ra vào cửa biển Đà Nẵng như muốn khiêu khích lòng ghen ghét của vua Tự Đức. Chính vì thế mà vua Tự Đức lại càng trở nên gay gắt và cuồng nhiệt trong việc diệt trừ đạo Gia Tô, vì vua nghĩ rằng đạo Gia Tô là chiêu bài của quân đội Pháp. Trước tình thế quá khó khăn và cực kỳ nguy hiểm này, cha Vénard Ven bỏ Hoàng Nguyên về Bút Đông trốn trong nhà nguyện Dòng Mến Thánh Giá. Tại đây cha được các nữ tu và rất nhiều người trong đó có ông Tần là Chánh Tổng Phúc Châu giúp đỡ. Ông Chánh Tổng Tần không phải là người Công giáo nhưng lại rất thân và quí trọng cha nên đã nhiều lần ông muốn cứu thoát cha để khỏi bị bắt. Nhưng rồi tại Bút Đông có một người biết nên đã đi tố cáo với nhà cầm quyền sở tại để lùng bắt cha.

Trong một bức thư gửi cho bạn, cha Gioan Vénard Ven đã viết: “Một lần tôi và Đức Cha Theurel Phan cùng ẩn núp trong bức tường giả giữa hai ngôi nhà trong Tu Viện Mến Thánh Giá Bút Đông, từ chiều hôm trước đến sáng hôm sau, chứng kiến cảnh quân đội xông vào Tu Viện trong suốt 4 tiếng đồng hồ, bắt trói các nữ tu, đánh đập họ để điều tra chỗ hai vị Thừa Sai ngoại quốc ấn núp. Trong khi đó nhóm khác đi sục sạo hết mọi nơi mọi xó tịch thu của cải. Núp đàng sau vách tường, chúng tôi nín hơi không dám thở, mãi cho đến sáng khi gà gáy một viên chức trong họ Đạo mời được họ về nhà ông ăn sáng. Chúng tôi lén sang trọ nhà một bà cụ già suốt 3 tuần lễ, thu mình trong một căn phòng đen tối. Nhưng rồi một buổi sáng tinh sương nhà chúng tôi ẩn trú đã bị bao vây. Thì ra một giáo gian đã chủ mưu, biết rõ chúng tôi đang ở trong họ Đạo nên đã đi tố cáo và dẫn quân lính về đạp đổ hết mọi đồ đạc trong nhà. Một bức tường xa chúng tôi chừng ba thước đã sụp đổ, nhưng Chúa đã che mắt họ không nhìn thấy chúng tôi…Chúng tôi phải ẩn trong 4 bức tường chật hẹp, đầu thì chạm mái nhà, chung quanh thì dụng phải màng nhện, phân chuột hôi hám. Bên ngoài thì nghe toàn những hung tín, linh mục bị bắt, bị hành quyết, các họ Đạo tan rã, người Công giáo bị phân tán vào trong các làng lương, nhiều giáo dân chối đạo. Những người còn trung thành thì bị đầy lên rừng núi, chết chóc. Không biết rồi tình thế này còn kéo dài tới bao giờ! Thú thât, phải có ơn riêng, một ân sủng đặc biệt mới khỏi lâm vào cảnh khùng điên, thất vọng”(Xem Tiểu Sử 117 thánh TĐ của Đúc Ông Trần Ngọc Thụ tr.233)

 Sau 6 năm hăng say truyền giáo tại Việt Nam, ngày 30 tháng 11 năm 1860, đúng 9 giờ sáng một người tên là Sư Đối người làng Bút Đông cố tình dò xét chắc chắn rồi dẫn ông Tuần Đô, cựu chánh tổng tới vây bắt. Lúc ấy thầy Khang đang truyện trò với cha Gioan Vénard Ven thì bà chủ nhà báo tin nhà bị quân lính bao vây. Hai cha con vôi ẩn vào bức tường nhà. Ông Tuần Đô là người hiểm độc, ông ra lệnh cho quân lính vây kín chung quanh nhà rồi ông vào nhà gọi bà chủ nhà ra tra khảo:

- Tôi biết chắc trong nhà bà có tây dương đạo trưởng đang ẩn trốn tại đây. Bà gọi họ ra đây thì bà sẽ nhẹ tội.

Bà chủ nhà đáp:

- Tôi thân phận góa bụa, làm gì có tây dương đạo trưởng ở trong nhà tôi? Sao ông nói gì lạ thế?

- Tôi biết tây dương đạo trưởng này mới từ Kim Bảng về mà. Ông Tuần Đô nói quả quyết như thế.

Hai cha con nghe rõ câu chuyện nên biết chắc là có người tố cáo nên biết chắc thế nào cũng bị bắt. Ông Tuần Đô ra oai vì bà chủ nhà nhất định chối, ông ra lệnh đạp đổ cánh cửa và bắt đươc cha Gioan Vénard Ven và thầy Giảng Nguyễn Duy Khang. Cha đã bị bắt, bị trói hai tay đưa về làng Lê Khoái, họ đòi nập cho họ 100 nén bạc thì họ sẽ tha. Nhưng không có tiền nộp nên họ đem cha về huyện Lý Nhâm. Sau cùng họ nhốt cha trong cũi, rồi 8 tên lính phải thay nhau khiêng cha về thủ đô Hà Nội, còn thầy Nguyễn Duy Khang thì đeo gông, đi bộ theo sau. Trên đường đi, hai cha con thầm thĩ đọc kinh cầu nguyện xin Chúa giúp sức để luôn can đảm tuyên xưng Đức Tin.  Về tới kinh đô, quan thẩm phán hỏi:

- Ông từ nước nào tới đây?

- Tôi từ nước Pháp thuộc Âu Châu tới

- Ông tới Việt Nam để làm gì?

- Tôi tới Việt Nam chỉ có một mục đích duy nhất là để rao giảng đạo Thiên Chúa cho những người chưa biết

- Năm nay ông bao nhiêu tuổi?

- Năm nay tôi 31 tuổi.

Quan thẩm phán nhìn cha một cách thân thiện. Thấy cha ăn nói lịch thiệp, tư cách tỏ ra đức độ hiền lành thì thương, muốn tha cho cha. Nhìn cha một lát rồi quan nói với cha:

- Ông còn trẻ quá! Đẹp trai lại ăn nói dễ thương quá! Vậy ai đã sai ông tới đây?

- Tôi đã tình nguyện tới Việt Nam để giảng dạy giáo lý cho những người chưa biết đạo Thiên Chúa. Tôi dứt khoát thưa là tôi hoàn toàn không thừa lệnh vua quan nước Pháp

- Thế ông có biết Giám mục Retord Liêu không?

- Thưa, tôi biết

- Tại sao Giám mục này lại viết thư giới thiệu với cấp chỉ

huy phiến loạn để chiêu mộ lính người Công giáo?

- Quan lớn có thể cho tôi biết quan lớn căn cứ vào đâu để nói như thế?

- Chính quan Tổng đốc tỉnh Nam Định báo cáo về triều đình như thế.

- Thưa quan lớn, tôi dám nói  quả quyết, nguồn tin đó hoàn toàn sai lạc. Đúc Giám mục đã viết thư gửi các linh mục, nghiêm cấm rất ngặt các giáo sĩ và giáo dân không được theo quân phiến loạn để chống triều đình.

- Vậy quân đội Pháp tới chiếm đóng Đà Nẵng, Saigòn là theo lệnh của ai. Họ có ý đồ gi khi tới gây chiến với chúng tôi?

- Thưa quan lớn, tôi cũng nghe đồn là có chiến tranh. Nhưng không bao giờ tôi liên lạc với quân đội Pháp nên tôi không rõ.

- Thôi, ông còn trẻ trung, kiến thức nhiều, nói năng lịch thiệp dễ thương. Tôi muốn tha cho ông vậy bây giờ ông bước qua Thập Giá để tôi tha cho ông về

- Làm sao tôi có thể làm như thế được? Tôi rao giảng về cây Thánh Giá, sao quan lớn lại xúi tôi phản bội như vậy được? Tôi sẵn lòng chịu chết chứ không thế phản bội được.

-  A, nếu ông thích chết, tại sao ông lại ẩn lánh?

- Thưa quan lớn, Chúa dạy không được cậy ở sức riêng mình. Khi bị truy nã thì mình phải trốn lánh. Nhưng nếu bị bắt thì là ý Chúa cho phép xẩy ra như vậy. Bởi vậy, tôi tin Chúa sẽ giúp sức cho tôi chịu mọi sự khổ vì Chúa.

Cuộc đối thoại chấm dứt, quan cho lệnh đưa cha trở về nhà giam. Trong suốt thời gian bị giam giữ trong ngục, cha đã bị đòn vọt, tra khảo, đánh đập đau đớn vô chừng. Nhưng vẫn một lòng kiên vững tuyên xưng Đức Tin, cậy trông nơi Chúa và sẵn sàng đón nhận sự chết vì Đức Tin, vì Chúa Kitô  Sau bốn lần bị đối chất như thế, các quan đều thất bại vì không còn cách nào có thể để thuyết phục vị Thừa Sai truyền giáo trẻ trung này, nên các quan đã đồng tâm làm án xin vua ban lệnh trảm quyết Được nhà vua chấp thuận và án lệnh được gửi về. Nhưng vì có những bất trắc xẩy đến nên án lệnh phải tạm thời đình hoãn một thời gian theo thông tư từ thượng cấp.ban xuống.

Chiều ngày 1 tháng 2 năm 1861 bản án tử hình cha Gioan Thêophan Vénard Ven đã được vua Tự Đức châu phê gửi về. Nguyên văn bản án như sau: “Đạo trưởng tây phương Vénard 31 tuổi sinh quán tại Pháp quốc đã từ lâu thi hành tả đạo, đã đem giáo lý đó gieo rắc, lừa đảo dân chúng, và còn tập trung dân chúng để truyền giảng nữa. Nay đã bị bắt, bị xử thành án, bị trảm quyết: đầu sẽ bị treo lên cao trong ba ngày rồi buông sông. Đây là lệnh vua ban”

Sáng ngày 2 tháng 2 năm 1861, án lệnh mới được thi hành. Cha Gioan Vénard Ven ngay từ sáng sớm đã chỉnh tề áo quần tươm tất, lịch sự như ngày đại lễ. Quan quân tới đọc bản án rồi áp giải cha ra pháp trường. Nghe đọc xong bản án, cha ứng khẩu nói một bài đại ý cha đến Việt nam với mục đích duy nhất là để truyền giảng đạo Chúa, nay vì thế mà bị bắt thì cha vui lòng chịu chết vì Chúa. Cha hẹn sẽ gặp mọi người trên Thiên Đàng. rồi từ giã các vị quan chức. Cha nói với các quan:

- Trong tương lai chúng ta sẽ gặp nhau trước toà thẩm phán của Thiên Chúa.

Một vị quan nói:

- Xin ông đừng về báo oán chúng tôi nhé

 Cha đáp lại:

- Tôi không báo oán, nhưng sẽ cầu nguyện cho các ông.

Đoàn quan quân đưa cha ra pháp trường hôm nay thật hùng hậu: gồm hai con voi mặc chiến phục, 200 binh sĩ dưới quyền quan giám sát  chỉ huy. Cha Gioan Thêophan Vénard Ven ngồi trong cũi, nét mặt tươi vui, miệng  đọc kinh rồi hát thánh Vịnh. Số người theo sau rất đông nhưng lại bị ngăn cấm không được vào trong pháp trường. Tới nơi xử là pháp trường Cầu Giấy Hà Nội,  lý hình bể gẫy xiềng xích tay chân cha rồi trói hai tay cha về đàng sau, buộc cả thân người vào cột tre đã chôn sẵn. Cha chỉ cúi đầu xuống, lý hình vung gươm lên chém một nhát là xong. Anh lý hình tên là Túc tới dụ cha cho tiền để anh chỉ chém cha một nhát cho đỡ đau nhưng cha nói “càng lâu càng tốt”. Anh ta bực mình khi chiêng trống nổi lên ra hiệu, anh này cố ý chém cha hai nhát bể cổ vai. Hai nhát sau vào cổ nhưng không đứt, anh lấy thanh gươm khác chém thêm một nhát nữa đầu cha mới rụng xuống đất. rồi anh cầm tai giơ cao, tung lên để các quan biết là đã xong cuộc hành quyết. Tên lý hình Túc này năm trước đã chém đầu 4 vị Thừa Sai tử đạo cũng tại pháp trường này rồi..

Thi hài vị Tử Đạo được chôn cất ngay tại pháp trường, còn đầu của cha bị ném xuống sông Hồng Hà mãi tới ngày 15 tháng 2 ngư phủ mới tìm thấy vẫn còn tươi tốt, đem về nộp cho Đức Cha Theurel Đông Năm 1864 Đức Cha Puginier Phước cải táng rước về.đặt tại nhà thờ Kẻ Trù. Năm 1865 Đức Cha lại chuyển về Hồng Kông để rồi từ đó chuyển về đặt tại Nhà Nguyện Tử Đạo Hội Thừa Sai Paris cho tới ngày nay.

Ngày ngày 2 tháng 5 năm 1909, Đức Giáo Hoàng Piô X đã phong Chân Phước cho Ngài . Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong Ngài lên bặc Hiển Thánh Tử Đạo  ngày 19 tháng 6 năm 1988 trong một thánh lễ vô cùng long trọng tại quảng trường thánh Phêrô, thủ đô của Giáo Hội. 

9. Ngày 13 tháng 2:Thánh Phaolô Lê Văn Lộc, Linh Mục. (1830-1859)

Thánh Phaolô Lê Văn Lộc sinh tại làng An Nhơn, tỉnh Gia Định thuộc tổng giáo phận Saigòn, trong một gia đình đạo hạnh. Bị mồ côi cha mẹ từ khi mới 10 tuổi, Ngài được một linh mục nhận nuôi và dạy dỗ, cho ăn học đàng hoàng. Nhận thấy Ngài là một học sinh thông minh, lại có lòng đạo đức, vị linh mục dưỡng phụ này gửi Ngài vào Chủng viện Cái Nhum một năm, rồi sau đó may mắn lại được Đức Cha Lefèbre gửi Ngài sang du học ở Chủng viện Pénăng Mã Lai. Tại đây Ngài học hành kết quả rất tốt, chứng tỏ sự thông minh và hiếu học của Ngài. Ngài được mọi người từ Bê trên đến Ban giáo sư cũng như các bạn đồng viện thương mến. Bề trên thường khen ngợi đời sống giản dị, thân thiện, và bác ái  của Ngài đối với mọi người.

Sau khi hoàn tất chương trình học vấn tại Đại chủng viện Pénăng Mã Lai năm 1850, Ngài theo lệnh Bề trên trở về quê hương và  được sai đi giảng đạo tại nhều nơi khác nhau trước khi lần lượt lãnh nhận các chức Thánh. Trong suốt thời gian đi làm việc truyền giáo và phục vụ tại các giáo xứ, Ngài tỏ ra là một chiến sĩ truyền giáo nhiệt thành. Sống đời đạo đức rất gương mẫu, tinh thần bén nhậy, Đức Giám mục nhận thấy Ngài rất xứng đáng trở thành linh mục, nên Đức Giám mục đã quyết định truyền chức linh mục cho Ngài ngày 7 tháng 2 năm 1857.

Đức Giám mục biết Ngài là một linh mục đạo đức, học rộng và có kiến thức sâu rộng nên Đức Giám mục đã chỉ định ngài về lãnh nhận chức vu Bề trên chủng viện Thị Nghè.  Khi được nhận được lệnh của Đức Cha, Ngài băn khoăn lo lắng và cầu nguyện rồi khiêm tốn trình bày với Đức Cha về sự lo lắng trước chức vụ lớn lao này. Ngài lo sợ không chu toàn được trách vụ vì tự nhận mình không xứng đáng. Nhưng Đức Cha khích lệ và tỏ ra tín nhiệm Ngài, xin Ngài cứ cậy trông vào ơn Chúa và lãnh nhận công việc Đức Cha đã trao phó.

Thấy Đức Cha tỏ lòng tin tưởng và chúc lành cho thì Ngài vững tâm và xin lãnh nhận sứ vụ Đức Cha đã trao phó. Khi nhận chức vụ Bề trên Chủng viện thì cũng chính là thời điểm vua Tự Đức ra lệnh cấm đạo một cách rất gay gắt  Theo sắc lệnh của vua thì phải tích cực tiêu diệt đạo Gia Tô, bắt giam tù tất cả các giáo sĩ người ngoại quốc cũng như người bản xứ, ai bỏ đạo thì tha, không bỏ đạo thì chém đầu thả trôi sông hết! Trước tình thế khó khăn đó, cha Phaolô Lộc vẫn hăng say lo việc mở mang nước Chúa. Ngoài công việc của một bề trên chủng viện, cha còn lăn mình vào công việc truyền giáo, thi hành những công tác bác ái, xã hội và chỉ trong khoảng một năm trời, cha đã thu hút được gần 200 tân tòng, hăng say học hỏi giáo lý do chính cha giảng dậy.

Cha Phaolô Lê Văn Lộc thi hành chức vụ bề trên chủng viện chưa được bao lâu thì tình thế mỗi ngày càng trở nên khó khăn thêm. Tháng 7 năm 1858 mười bốn chiến thuyền Pháp kéo nhau vào đổ bộ tại Cửa Hàn khiêu khích nước ta. Đô đốc Rigault de Genouilly mơ tuởng rằng người Công giáo sẽ yểm trợ. Nhưng trên thực tế, rất đông thanh niên Công giáo đã tình nguyện gia nhập quân đội triều đình để chống Pháp. Nhiều người Công giáo đã ý thức rằng: dứt khoát không phò Tây, nhưng cũng cương quyết không bỏ Chúa, bỏ đạo Thánh Chúa. Thế mà vì một số cận thần, sẵn lòng ác cảm với đạo Công giáo, vì lề luật đạo Công giáo đòi hỏi khó, như “nhất phụ nhất phu một vợ một chồng” trong khi đó các vua quan khi ấy có ông có cả hàng tá thê thiếp v.v. Vì sẵn lòng ghen ghét nên các cận thần xúi dục vua phải tiêu diệt đạo Gia Tô vì là đạo của Tây. Người theo đạo Tây chống lại vua v.v. Vì lẽ đó vua lại càng mạnh tay đàn áp và ra sức tiêu diệt đạo. Vua ra những sắc dụ vô cùng tàn ác để tiêu diệt đạo.Trước tình thế cực kỳ khó khăn này, cha bề trên Phaolô Lê Văn Lộc đã bàn tính với Đức Giám mục để tạm thời đóng cửa Chủng viện và cho giải tán các chủng sinh, để trở về sinh sống với gia đình. Đức Giám mục thấy những nguy hiểm lớn lao có thể đưa tới nên Ngài cũng đồng ý cho giải tán các chủng sinh và đóng cửa Chủng viện. Riêng cha Phaolô Lê Văn Lộc cũng khôn ngoan tìm đường trú ẩn. Ngài lẩn trốn tại vùng ngoại ô Saigòn một thời gian để theo dõi và giúp đỡ một số chủng sinh trong những hoàn cảnh khó khăn. Nhưng rồi sau một thời gian ngắn vì bị truy lùng dữ dội quá nên Ngài cũng phải tìm đường chạy trốn.

Một hôm đang gặp gỡ một vài chủng sinh trong một gia đình ở ngoại ô thành phố thì quân lính từ đâu kéo tới. Cha vội chạy trốn. Thấy tình thế quá khó khăn và lệnh truy nã các đạo trưởng và người theo Đạo rất  ác nghiệt, vì thế vào một buổi tối trời của tháng 12 năm 1858, cha tới tạm trú  tại nhà thầy giáo Ngôn là cựu chủng sinh thì bị một phụ nữ ngoại giáo gặp nhận biết cha. Chị cấp tốc đi tố cáo với quan để lấy tiền thưởng. Quan liền cho lính tới vây bắt được Cha. Khi bị bắt, quan thấy cha còn trẻ trung hiền lành, không muốn bắt, nên nói:

- “Nếu chối đạo thì ta sẽ tha. Anh còn trẻ qúa, nếu bỏ đạo thì ta sẽ giúp sau này cũng làm quan như ta”

Cha cười và nói:

- “Quan bảo tôi chối đạo à? Tôi khuyên bảo người ta theo đạo mà bây giờ quan lại dụ tôi bỏ đạo sao được?”

Quan khuyên dụ tiếp:

- “Đó là lệnh của vua mà! Ta thấy anh còn quá trẻ, lại hiền lành, có học hành, nhiều kiến thức nên ta thương. Giết anh uổng phí quá! Ta có con gái, ta sẽ gả cho anh. Nếu anh bỏ đạo, nghe ta”.

Cha mỉn cười, thưa lại:

- “Xin cám ơn quan lớn được làm quan thì cũng quí lắm. Nhưng tôi chỉ xin được làm con của Thiên Chúa mà thôi. Tôi không thể bỏ Chúa tôi được. Nếu phải chết vì Chúa tôi thì tôi rất sẵn sàng chết, bất cứ dưới hình thức nào”.

Quan tỏ vẻ thân mật nói tiếp:

- “Anh nói thế, anh có điên không? Tại sao anh lại từ chối những hứa hẹn ta sẽ ban cho anh. Được làm quan, lại được làm con rể của ta mà anh chê bỏ ư?”

Cha lắc đầu:

- “Bẩm quan, tôi không điên đâu. Tôi rất khôn ngoan và sáng suốt khi quyết định theo Chúa và đi rao giảng cho nhiều người biết  Chúa. Nay nếu được chết vì Chúa thì tôi vui mừng lắm!”.

Thấy Ngài cứng lòng nên quan ra lệnh bắt, rồi  tống vào ngục. Trong nhà tù, dù bị xiềng xích, đánh đập tra khảo rất tàn nhẫn, Ngài vẫn tỏ ra không sợ hãi, vẫn tận tình giúp đỡ các bạn tù, vẫn nêu gương sáng Đức Tin của vị Chủ Chăn, là linh mục của Chúa. Ngài thường tiếp xúc với các bạn tù đồng đạo để khuyên bảo, lên tinh thần và khuyến khích họ phải kiên trì, can đảm và cầu nguyện, Chúa sẽ ban ơn tiếp sức cho, đừng sợ hãi hình khổ. Thân xác không cao trọng bằng linh hồn mình. Được chết vì Chúa là một ơn trọng đại, hãy luôn sẵn sàng đón nhận sự chết vì đạo. Những người bạn tù rất trọng kính Ngài và tinh thần được Ngài củng cố cho thêm vững mạnh.

Một hôm các quan đòi đưa Ngài ra công đường để khuyên dụ Ngài một lần nữa: Quan hỏi Ngài:

- “Ta đã cho anh suy nghĩ ít ngày rồi. Nay ta muốn hỏi anh, anh có muốn tuân lệnh vua mà bỏ đạo Gia Tô thì vua sẽ trọng thưởng và ban cho anh nhiều bổng lộc. Anh nghĩ thế nào?”.

Cha vui vẻ trả lời:

- “Tôi hết lòng cám ơn các quan đã thương giúp tôi. Còn việc bỏ đạo thì một lần nữa tôi xin  khẳng định với các quan rằng, tôi không thể bỏ đạo vì bất cứ lý do gì. Bổng lộc vua ban tôi xin cám ơn. Những hứa hẹn các quan dành cho tôi, tôi xin cám ơn.Chỉ có một điều dứt khoát là tôi không thể bỏ đạo, không thể bướcqua Thánh Giá là hình ảnh của Chúa tôi đã chết vì tôi”.

Sau thời gian giam cầm, đánh đập, xiềng xích, tra tấn dưới mọi hình thức tàn ác, cha vẫn một mực hiên ngang tuyên xưng đức tin, sẵn sàng can đảm lãnh nhận án tử hình vì đạo Chúa. Trước sự cứng lòng và kiên trì này, các quan tức bực vì không thuyết phục được cha, nên đã lên án trảm quyết và sau đó án đã được triều đình chuẩn y mau mắn. Bản án kết thúc vội vã 29 tuổi đời, hai năm làm linh mục phục vụ Chúa của một chứng.tá đức tin kiên cường, can đảm coi thường mạng sống, đã lấy chính máu đào của mình để dâng hiến Chúa, Đấng mà Ngài đã tin và vững lòng tôn thờ cho tới hơi thở cuối cùng.

Được vua Tự Đức châu phê, ngày 13 tháng 2 năm1859 các quan đã ra lệnh xử trảm Ngài. Ngài bị điệu đi giữa hai đội quân hùng hậu tiến ra pháp trường là Trường Thi, nay là góc đường Hai Bà Trưng-Xô Viết Nghệ Tĩnh. Ngày đó, Ngài đã vui mừng được phúc tử đạo như lòng Ngài hằng ước mong.và sung sướng bay về Trời lãnh nhận triều thiên tử đạo gia nhập hàng ngũ các thánh của Chúa trên Nước Trời.

Vì tình thế lúc đó rất khó khăn, đạo Chúa bị cấm rất ngặt nên giáo dân phải chờ đợi tới nửa đêm mới lén lút xin được xác đem về an táng tại Chợ Quán, sau lại cải táng đưa về dòng Saint Paul Saigòn. Hiên nay đặt tại Vương Cung Thánh Đường Saigòn.

Ngày  2 tháng 5 năm 1909 Đức Giáo Hoàng Piô X đã tôn phong Chân Phước và ngày 19 tháng 6 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh.

Lạy cha thánh Phaolô Lê Văn Lộc là chứng nhân kiên cường của Chúa, xin cầu cùng Chúa cho chúng con. Amen

Cha Thánh Phaolô Lê Văn Lộc

Sau ngày bi chém hai tuần

Lơ-Phe (Lefèbre) Giám mục thuật phần đời cha

Cuối cùng Ngài kết thúc là:

Đọc lên cảm động mắt nhòa lệ rơi

Cha ơi! Cha ở đâu rồi ?

Mình tôi hiện sống giữa nơi u sầu

Cha và tôi sống với nhau

Mắt tôi rảo ngó trước sau thấy gì ?

Chỗ cha hiện diện còn ghi

Nghẹn ngào, nức nở thầm thì gọi cha

Này đây quần áo cùng là

Vớ giầy, mọi thứ bày ra trong phòng

Làm sao quên nổi, nhớ mong

Quặn đau bởi nghĩa thắm nồng từ lâu

Biết bao thương cảm u sầu

Chẳng sao kiềm nổi thương đau trong lòng

Nhưng suy về Chúa chí công

Hỏi mình sao lại khóc ròng tiếc thương

Khổ đau bởi nỗi đoạn trường

Cha cương quyết chịu là gương soi đời

Giờ đây cha đã thảnh thơi

An vui hạnh phúc hơn noi đây nhiều

Hợp cùng thần thánh thiên triều

Xin cha phù giúp tôi theo đến cùng

Để sau được hưởng phúc chung

Cùng nhau bên Chúa cửu trùng toàn năng

Đức cha nhân chứng thuật rằng:

Xưa Cha sinh quán tại làng An Nhơn

Tỉnh là Gia Định Nam phần

Sinh năm ba chục, sử trần còn ghi

Gia đình Công giáo, cha thì

Làm trùm Họ Đạo giữa kỳ khó khăn (Trương Hoàng)

 Tháng 3:

10. Ngày 11 tháng 3:Thánh Đa Minh Cẩm: Linh mục ( + 1859)

Cha thánh Đa Minh Cẩm thuộc Dòng Ba Đa Minh, sinh tại làng Cẩm Chương, xứ Kẻ Roi tỉnh.Bắc Ninh. Ngay từ nhỏ Ngài đã tỏ ra rất hoạt bát, lanh lẹ và thông minh nên Ngài đã được nhận vào Chủng viện học để làm linh mục một cách dễ dàng. Ngài học rất xuất sắc nhưng lúc nào cũng tỏ ra khiêm tốn và thân thiện hoà nhã với bạn bè nên trong chủng viện ai cũng quí mến Ngài.  Sau khi hoàn tất chương trình triết và thần học, Ngài được gọi tiến lên lãnh chức linh mục, rồi được bề trên tín nhiệm sai đi làm mục vụ cho giáo dân trong vùng. Hoạt động tông đồ một vài năm sau, Ngài đã xin gia nhập Dòng Ba Đa Minh để hợp tác với các cha dòng Đa Minh hoạt động mục vụ cách đắc lực hơn. Nhờ lòng đạo đức và khả năng tốt nên công việc mục vụ mang lại rất nhiều thành quả đáng khen ngợi. Do đó Ngài được các Bề trên rất tôn trọng và tín nhiệm, giáo dân ai ai cũng quí mến Ngài.

Năm 1848 Toà Thánh quyết định phân chia địa phần Đông Đàng Ngoài thành hai giáo phận Đông là Hải Phòng hiện nay và địa phận Trung là Bùi Chu, Mặc dầu cha thánh Đa Minh Cẩm là người nguyên quán Bắc Ninh nhưng thời gian đó Ngài đang hoạt động đắc lực tại giáo phận Trung tức giáo phận Bùi Chu hiện nay, nên Bề trên quyết định để Ngài ở lại hoạt động cho giáo phận Trung, vì giáo phận Trung rộng lớn gấp 3 lần giáo phận Đông.

Ngài đang hoạt động rất đắc lực thì lệnh cấm đạo được ban ra và quan quân đi truy lùng bắt bớ khắp nơi. Trước tình thế khó khăn như thế, Ngài tìm đường ẩn lánh, nay ở nơi này mai ở nơi khác. Tuy thế, Ngài vẫn lưu tâm săn sóc từng người và luôn khuyến khích, thúc giục họ sốt sắng cầu nguyện, vững tin nơi tình yêu thương của Chúa. Ngài hằng tìm cách lui tới thăm viếng từng người, từng gia đình, dù có gặp những nguy cơ bắt bớ.

Đầu năm 1859, khi Ngài đang ẩn lánh tại làng Hà Lang thì có một người lương nhận diện ra Ngài nên chính người này đã đi tố cáo với quan để nhận tiền thưởng, vì lúc này người nào tố cáo linh mục hay các vị Thừa Sai thì được nhà vua thưởng tiền và ban cho chức tước. Khi nhận được mật báo, quan sai lính đến vây làng Hà Lang ngày 21 tháng 1 năm 1859 và bắt được cha Đa Minh Cẩm. Khi bị bắt, quân lính hỏi:

- “Ông có phải là linh mục Cẩm không?”

Ngài thẳng thắn trả lờI

- “Phải, chính tôi là Cẩm, là linh mục Công Giáo

Quân lính yêu cầu Ngài bước qua Thập Giá. Ngài cương quyết từ chối, nhất định không chà đạp Thập Giá. Ngài tuyên bố sẵn sàng chịu chết chứ không bao giờ bước qua Thánh Giá.  Quân lính xông vào đánh đập và trói Ngài, nhốt Ngài vào cũi rồi đưa về nộp cho quan Tổng Đốc tỉnh Hưng Yên.

Về tới tỉnh Hưng Yên, họ dặt một cây Thánh Giá ngay trước cửa rồi áp giải cha đi qua, yêu cầu cha bước qua Thánh Giá. Nhưng cha tránh né, đi qua mà không bước lên Thánh Giá. Khi gặp quan tổng đốc tỉnh Hưng Yên, cha nhã nhặn chào quan. Nhưng quan quay mặt đi không muốn nhìn cha. Sau một hồi lâu quan tổng đốc hỏi cha:

- “Ông là đạo trưởng à? Ông biết lệnh vua ban xuống phải bắt hết các đạo trưởng và tích cực tiêu diệt đạo này không?

Cha bình tĩnh trả lời:

- “Thưa quan lớn, tôi biết. Nhưng tại sao vua lại cấm đạo này? Đạo Gia Tô dạy thờ kính Thiên Chúa, hiếu thảo với vua quan như chính cha mẹ sinh đẻ ra mình. Đạo có dạy điều gì sai trái đâu mà cấm?

Quan tổng đốc cười và hỏi tiếp:

- “Đạo Gia Tô là của Tây. Tây lấy cớ vào truyền đạo để đánh phá nước ta. Người ta nói thế mà!

Cha nói lại:

- “Thưa quan lớn ,không phải như thế.Đạo Gia Tô không phải của Tây. Đạo này do chính Chúa Giêsu lập ra. Ngài là Thiên Chúa, là Chúa Tể mọi loài. Ngài xuống thế, nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria, là người Do Thái, để cứu chuộc loài người, vì nguyên tổ loài người là Adam và Evà đã lỗi phạm luật của Chúa, nên Chúa Giêsu đã xuống thế làm người để cứu chuộc loài người. Chính Ngài truyền dạy loài người phải kính thờ Thiên Chúa là Đấng tạo dựng nên trời đất này, là Chúa Tể của ta. Đạo không dạy người ta chống vua quan. Trái lại, Đạo còn dạy người ta phải kính yêu và hiếu thảo với vua quan như cha mẹ của mình nữa”.

Nghe Ngài giải thích rõ ràng như thế, quan lại hỏi tiếp:

- “Nghe ông nói, ta thấy cũng có lý. Nhưng ông vừa nói là đạo dạy kính mến và hiếu thảo với vua quan như cha mẹ mình, vậy tại sao ông không vâng lệnh vua bước qua Thánh Giá?

Cha đáp lại:

- “Tôi không thể vâng lệnh vua mà bước qua Thánh Giá được. Bước qua Thánh Giá là chối đạo, là bỏ đạo, là xúc phạm tới Thiên Chúa. Là con cái, có ai dám bước lên mặt cha mẹ của mình không? Như vậy thì làm sao tôi có thể bước lên ảnh tượng của Chúa tôi được? Tôi phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời vua”.

Thấy không thuyết phục được Ngài, quan tổng đốc lại cho lệnh tiếp tục nhốt Ngài trong cũi mấy tháng trời để hành hạ Ngài. Sau vì thấy lòng can đảm, sự bình tĩnh, vui vẻ nên Ngài lại được quan Tổng Đốc trọng nể cũng như binh lính quí mến, và ra lệnh không nhốt Ngài trong cũi nữa.. Từ đó họ tìm mọi cách để khuyên dụ Ngài bỏ Đạo, bước qua Thánh Giá. Nhưng vẫn một mực cương quyết Ngài dứt khoát không bao giờ nghe theo. Tuy nhiên lúc nào, Ngài cũng vui vẻ, tỏ lòng yêu mến và kính trọng mọi người nên quân lính cũng cảm kích sau này cũng dành cho Ngài nhiều sự dễ dãi, cho phép giáo dân ra vào thăm viếng Ngài, Ngài lợi dụng cơ hội thuận tiện này khuyên bảo giáo dân hãy luôn tin cậy , trung thành và giữ vững đức tin. Hãy luôn cầu nguyện và hết lòng thờ kính Chúa. Ngài còn viết thư nhờ giáo dân chuyển đến cho Đức Giám mục và cho cha Valentino Vinh, bày tỏ lòng trung thành tuyệt đối, sống chết cho Chúa Kitô, Ngài nói trong thư rằng Ngài luôn sẵn sàng và rất ước ao được đổ máu ra để làm chứng cho Chúa Kitô. Khi nhận được thư của Ngài, biết được lòng dũng cảm và đức tin sắt đá của Ngài Đức Cha rất vui mừng và ngày 30 tháng Giêng Đức Cha sai cha Hương giả dạng vào thăm và giải tội cho Ngài.

Chờ đợi mãi mà cha Đa Minh Cẩm không hề thay đổi ý định, vẫn trước sau một lòng cương quyết không bỏ đạo, quan Tổng Đốc sinh lòng tức giận, cho lệnh đánh đập, hành hạ Ngài cách tàn nhẫn và lên án tử hình gửi về triều đình xin vua chấp thuận. Án lệnh gửi tới triều đình, vua.Tự Đức mau mắn châu phê rồi gửi trả lại cho quan Tổng Đốc Hưng Yên để thi hành.

Ngày 11 tháng 3 năm1859 án lệnh của triều đình ban xuống là đem đi chém đầu Ngài. Khi dẫn Ngài ra pháp trường, Ngài tỏ ra hân hoan hớn hở vì sắp được về với Chúa. Trong đám người theo tới pháp trường có bà Maria Huệ là một giáo dân đã từng đi lại thăm viếng cha nhiều ngày trong tù. Bà Huệ theo sát cha tới pháp trường. Bà nói rằng:

- “Khi tới nơi xử, cha quì cầu nguyện một lát, rồi vui vẻ làm hiệu cho lý hình thi hành nhiệm vụ. Lý hình hỏi cha có muốn điều gì không thì cha vui vẻ nói:

- “Này các anh! Các anh chém cho ngon nhé. Chỉ một nhát thôi để đầu tôi rơi xuống đất nhé”.

Nói xong, Ngài đưa đầu sẵn sàng cho lý hình chém. Ba hồi

chiêng trống nổi lên, đám người đứng xa xa chứng kiến kêu rú lên:

- “Lạy Chúa, họ sắp chém đầu cha rồi!

- “Trời ơi! Chiêng trống vang rền làm tôi sợ quá!

Tiếng nói xôn xao chen lẫn những tiếng cầu kinh từ trong đám người đứng chứng kiến cái chết anh hùng của người linh mục chiến sĩ Chúa Kitô.Ba tiếng chiêng trống cuối cùng, lý hình vung gươm cao để chém. Tay run rẩy anh ta phải chém ba nhát mới đứt cổ, đầu Ngài rơi xuống đất, giáo dân đổ xô tới thấm máu và xin xác Ngài đem về an táng tại làng Cẩm Chương, nơi sinh quán của Ngài

Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn Ngài lên bậc Chân Phước tử đạo ngày 29 tháng 4 năm 1951, và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã long trọng nâng Ngài lên bậc Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988

Cha Thánh Đa Minh Cẩm

Tôi là linh mục hiện thời.

Kính tôn thờ Đức Chúa Trời toàn năng

Trong thâm tâm đã quyết rằng:

Chết hơn là chối Đấng hằng kính yêu

Lính canh cảm mến cha nhiều

Cha cha dễ dãi làm điều nghĩa ân

Tự do được gặp giáo dân

Trao ban các phép khi cần đến cha

Vào ngày mười một tháng Ba

Tám trăm năm chín án đã chép ghi

Chém đầu theo lẹnh thực thi

Cha hoan hy ỷ được dân dẫi pháp trường

Tới nơi ngoan ngoãn cha dương

Đầu cho họ chém, chẳng vương bụi trần

Đầu rơi xuống đất, giáo dân

Tự do thấm máu, xác thân của Ngài

Ai đem đi táng mạc ai

Họ đem về táng nơi Ngài đã sinh

Thei lời khai để chứng minh

Cha còn rất trẻ, đáp tình Chúa thương

(Trương Hoàng)

Tháng 4:

11. Ngày 2 tháng 4:Thánh Đa Minh Vũ Đình Tước, Linh mục ( 1775-1839)

Thánh Đa Minh Vũ Đình Tước sinh quán tại làng Trung Lao, tỉnh Nam Định, thuộc giáo phận Bùi Chu. Ngay từ nhỏ, Ngài đã tỏ ra là người ngoan đạo, đức tin vững vàng. Khi làm linh mục Ngài đã hết lòng nhiệt tình lo việc truyền giáo và săn sóc phần rỗi các linh hồn.

Ngày 17 tháng 4 năm 1811 Ngài xin nhập dòng Đa Minh và sau một năm luyện tập theo luật Dòng, Ngài được Bề trên chấp nhận cho tuyên khấn 3 lời khấn của Dòng ngày 18 tháng 4 năm 1812. Sau khi khấn Dòng, Đức Cha Delgado Y bổ nhiệm Ngài coi sóc giáo dân ở Xương Điền, một giáo xứ có gần 4 ngàn giáo dân. Giáo xứ Xương Điền thuộc điạ phận Đông Đàng Ngoài nay là giáo phận Bùi Chu. Với tư cách là cha Xứ có hơn  bốn ngàn giáo dân, Ngài dùng mọi thời giờ để săn sóc đời sống đạo của từng gia dình, lo dọn những bài giảng, bài giáo lý dậy cho giáo dân hiểu biết sâu rộng hơn về đạo thánh Chúa. Ngài rêu gương đời sống cầu nguyện và tha thiết kêu mời mọi người đến với Chúa bằng đời sống cầu nguyện. Nhiều lần Đức Cha đã ngỏ lời khen ngợi Ngài là một chúa chiên tốt lành. Tới năm 1838, lệnh bắt đạo của vua Minh Mạng mỗi ngày càng trở nên gay gắt  tại các tỉnh thuộc giáo phận Đông và Trung. Thấy quân lính xông xáo khám xét khắp nơi, Ngài phải ẩn lánh trong nhà các tín hữu, nay nhà này mai nhà khác. Trong các gia đình đã cho Ngài ẩn trốn, có gia đình ông Đa Minh Đoài đã cho Ngài ở tới 2 tháng. Ban ngày thì Ngài âm thầm ẩn trốn trong phòng kín đáo, ban đêm Ngài bí mật lén lút đi thi hành công tác mục vụ. Gia dình ông Đoài là người ngoan đạo có hạnh phúc được ở với Ngài trong thời gian quí báu này. Ông kể lại rằng:

-“Cha Đa Minh Tước trú ẩn trong nhà tôi trong thời gian khá lâu cho nên chúng tôi đã được chứng kiến đời sống đạo đức thánh thiện sâu xa của cha. Cha thức suốt đêm để cầu nguyện và dâng lễ ngay từ sáng sớm. Trong lúc cha dâng lễ thì tôi ra vườn theo dõi canh chừng giúp Cha”.

Có lần tôi tâm sự và hỏi cha: 

- “Nếu người ta bắt cha thì cha sẽ xử trí ra sao?

Cha  trả lời: 

- “Nếu có thể thì chạy trốn,  còn không thể trốn nữa thì xin vâng theo ý Chúa. Điều cha lo lắng là làm thế nào để những người cho cha ẩn trú không phải phiền lụy vì cha, nếu cha bị bắt.”.

Vì sợ lộ nên cha lại phải di chuyển về trú ẩn nhiều nơi khác nhau tại làng Xương Điền. Ở lâu nhất tại nhà ông Nhiêu Thịnh giáo dân xứ Xương Điền. Ban ngày thì trốn trong nhà hay dưới hầm nhà, ban đêm thì cha lại lén lút đi thăm giáo dân, giảng dạy giáo lý cho những người tân tòng hoặc thăm viếng và an ủi những người già yếu, bệnh tật. Nhiều lần ông Nhiêu Thịnh xin cha cẩn thận vì sợ có nhiều kẻ dòm ngó, theo dõi. Nhưng cha nói là cứ phó thác cho Chúa. Chúa định sao thì cha sẵn lòng vâng theo.

Trong vùng lúc ấy có một người tên Phan vì tham tiền và chức tước nên đã bỏ đạo rồi đi tố cáo và nộp Đức Cha Henares và Thầy Chiểu nên vua đã thưởng cho nhiều tiền và thăng quan tiến chức, được gọi là quan Bát Phẩm Phan phụ trách tổng Cẩm Hà. Nay ông lại muốn. lập công nữa nên đã cho người đi dò xét nơi các linh mục ẩn trú và tìm mọi cách để ngăn cản việc truyền giáo của các Ngài. Hắn lại cho người theo dõi để tố cáo bắt cha Đa Minh Tước nữa.

Thế rồi đêm ngày 2 tháng 4 năm 1839 khi cha vừa từ nhà ông Giuse Tuyên về và đang chuẩn bị dâng thánh lễ thì một nhóm người chừng 40 người lương do tên Bát Phẩm Phan xông vào bắt cha tại nhà ông Nhiêu Thịnh. Thấy bị động cha liền mau lẹ cởi áo lễ, chạy ra vườn ẩn trốn. Nhưng không may, có người nhận ra cha nên chặn cha lại. Thấy vậy, cha liền hỏi:

-“ Các anh đi tìm ai?

Họ nói:

- “Tìm bắt linh mục Tước

Cha điềm đạm trả lời:

- “Chính tôi là linh mục Tước đây!”

Thế là đoàn người xông vào bắt trói cha và áp giải về Cẩm Hà, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Đinh.

Khi biết tin cha bị bắt, giáo dân xứ Xương Điền đã cố gắng dùng tiền để chuộc cha nơi quan Bát Phẩm Phan, nhưng không kết quả. vì thế họ đã tìm cách giải thoát cha.khỏi tay bọn lính. Họ sợ rằng tin cha bị bắt được loan đi các nơi, sẽ làm cho nhiều tín hữu hoang mang lo sợ và bỏ đạo. Đàng khác, theo phong tục lúc bấy giờ đàn bà không có vũ khí mà đánh nhau với lính thì vô tội vạ và lính không được dùng vũ khí để đàn áp đàn bà. Do đó họ đã cử một số phụ nữ đi trước để tấn công bọn lính, còn đàn ông đi sau để yểm trợ và cản đường bọn lính một khi giải thoát được cha. Trước tình thế ấy, bọn lính nhất quyết áp giải cha và khi cùng đường, tên đội trưởng ra lệnh cho tên Ngọc đánh đập cha tàn nhẫn, bổ trên đầu cha một nhát búa, khiến cha ngã gục ngay trong vũng máu. Sau đó bọn lính xô nhau chạy thoát thân. Các tín hữu lúc ấy vừa chạy tới, một số chạy rượt bọn lính, một số ở lại săn sóc cha. Nhưng vì nhát búa oan nghiệt qúa đau đớn cha biết mình không thể sống được nữa nên âu yếm nhìn đoàn con và nói đôi lời an ủi, khuyên đoàn con giữ vững Đức Tin, rồi cha. thều thào kêu:

-“Giêsu Maria Giuse

rồi nhắm mắt lại, trút hơi thở cuối cùng trong tay Chúa ngay chính ngày hôm ấy. Đó là ngày 2 tháng 4 năm 1839, lúc ấy cha vừa tròn 64 tuổi.

Giáo dân tin rằng cha đã được phúc tử vì đạo nên đã tranh nhau thấm máu của cha, đào cả đất và lấy cả cỏ đã thấm máu của cha đưa về làm kỷ niệm và cầu nguyện với cha. Thi hài cha được chôn ngay chỗ cha bị đánh chết. Sau một thời gian thì giáo dân cải táng đưa về cử hành lễ an táng cách long trọng tại nhà thờ Họ thuộc xứ Xương Điền.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII suy tôn Ngài lên bậc Chân Phước ngày 27 tháng 5 năm 1900. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn vinh Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

 

Cha Thánh  Đa Minh Tước

Ban đầu giáo hữu Xương Điền

(Bốn ngàn ước lượng) lại yên trí rằng:

Lính quan đến bắt phải chăng?

Nên im lặng chẳng nói năng một lời

Nhưng khi tìm hiểu tới nơi

Biết rằng Bát Phẩm dẫn người đến đây

Ông trùm liều quyết phen này

Hò dân đánh tháo tại ngay trong làng

Đàn bà các túi tro mang

Ném vào mặt lũ sói lang bắt Ngài

Đàn ông giáo mác một hai

Đánh nhau với bọn tay sai vào hùa

Nhưng rồi giáo hữu bị thua

Bắt cha chúng nhốt, dân hò hét la

Cha ra hiệu: ý rằng là

Hãy yên lặng để mặc cha được rồi

Đến gần cha nói: Hãy thôi

Làm vậy chỉ tổ khơi mòi giêt cha

Chúng nghe, nảy  ý gian tà

Giết cha một cách thật là dã man

Lệnh trên hay án chẳng cần

Một tên là Ngọc đến gần rút gươm

Chem đầu Cha, mắt gờm gờm

Chém hai nhát máu chảy tuôn đầm đià (Trương Hoang).

 

12. Ngày 6 tháng 4:Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh, Linh mục (1793-1857)

Cha thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh sinh tại xã Trịnh Hà, huyện Hoàng Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá, là người con thứ ba của một gia đình Công giáo đạo hạnh. Lúc 12 tuổi Ngài đã từ giã cha mẹ lên đường dâng mình cho Chúa, vào ở với cha Duệ xứ Bạch Bát. Sau 3 năm tìm hiểu ý nguyện và lòng đạo đức vững chắc, Cha Duệ gửi Ngài vào Chủng viện Vĩnh Trị. Trong chủng viện, Ngài là một chủng sinh gương mẫu về đời sống đạo đức, hãm mình, ăn chay các ngày thứ sáu, đánh tội và nằm đất. Sau đó Ngài vào ẩn tu trong rừng Bạch Bát, thuộc tỉnh Thanh Hoá, đêm ngày cầu nguyện và ăn chay hãm mình. Nhưng một năm sau, Đức Cha Longger Gia nhắn tin buộc thầy Phaolô Lê Bảo Tịnh phải trở về Đại Chủng Viện để tiếp tục học thần học, lãnh các chức nhỏ đồng thời dạy học.

Đức Cha Havard Du lên kế vị Đức Cha Longger Gia, Ngài đã cử thầy Lê Bảo Tịnh đi Macao hai lần để nhận những tài khỏan được trợ cấp cho địa phận.  Hai chuyến đi trong vòng hai năm, cũng chính là hai lần thoát chết vì bão tố và  thoát khỏi những tay cướp biển ghê gớm.

Năm 1837, Ngài được Bề trên sai đi truyền giáo tại Ai Lao. Sau một năm hoạt dộng truyện giáo, Ngài thấy công việc tiến triển quá tốt nên trở về địa phận xin Đức Cha cho thêm nhân sự. Thế nhưng  tình thế tại quê nhà trong lúc ấy đang trở nên vô cùng khó khăn! Thi hành lệnh của vua, Tổng đốc Trịnh Quang Khanh của Nam Định đã ra lệnh truy lùng các linh mục một cách vô cùng gắt gao. Cha Đỗ Mai Năm, Ông Trùm Đích, ông Lý Mỹ đã bị bắt và tử đạo, Chủng viện Vĩnh Trị phải đóng cửa. Đức Cha Havard Du phải ẩn lánh và chết trong lúc ẩn lánh ngày 5 tháng 7 năm 1838. Sau đó Đức Cha Dumoulin Borie Cao được chỉ định làm Giám mục thay Đức Cha Havard Du cũng bị bắt và tử đạo trong lúc chưa kịp lãnh nhận nhiệm vụ. Trong lúc đó thầy Phaolô Lê Bảo Tịnh được Bề trên sai đi giảng dạy Giáo lý cho tân tòng tại làng Thạch Tổ xứ Bích Trì, tỉnh Hà Nam. Đức Giám mục biết thầy không những có một trí óc thông minh, kiến thức sâu rộng với một thân hình dong dỏng cao gầy, dáng vẻ đạo mạo, thư sinh. mà tâm hồn thầy còn luôn ôm ấp một lý tưởng đem Tin Mừng Chúa Kitô rao truyền cho khắp miền đất nước thân yêu, nên Đức Giám mục rất quí trọng và tin tưởng lòng nhiệt thành của thầy.Những ai chỉ gặp thầy một lần cũng đủ biết thầy là một người có lòng nhân ái, khôn ngoan, bặt thiệp và thiết tha với quê hương nước Việt. Chính vì những đức tính tốt lành, được mọi người yêu kính mà lý trưởng làng này sinh lòng ghen tị muốn mưu hại thầy. Ông đặc biệt theo dõi những công việc của thầy. Ông biết rõ thầy Lê Bảo Tịnh đi truyền đạo và thu phục được nhiều người theo đạo nên ông quyết định bắt thầy và nộp cho quan tổng đốc tỉnh. Khi thầy bị bắt giáo dân đem tiền nộp quan xin chuộc thầy nhưng thầy nói

-“Nếu chỉ vì tiền mà tha thì tôi không muốn”.

Thế là thầy bị giải về nộp cho quan Tuần Phủ Hà Nam rồi chuyển về giam giữ tại Hà Nội.

Sau 7 năm bị giam giữ tại Hà  Nội rồi bị đầy đi Phú Yên mãi tới khi vua Thiệu Trị băng hà ngày 4 tháng 11 năm 1847, vua Tự Đức lên ngôi. Vua ban ân xá và phóng thích các tù nhân. Nhờ vậy thầy Lê Bảo Tịnh được tha và trở về giáo phận trong sự vui mừng của nhiều người. Trong dịp này, Đức Giám mục giáo phận cũng rất vui mừng và quyết định phong chức linh mục cho thầy lúc thầy đã 56 tuổi. Sau khi lãnh chức linh mục được một năm thì cha được bổ nhiệm giữ chức Giám đốc kiêm giáo sư Chủng viện Vĩnh Trị. Cha đã viết nhiều tác phẩm đạo đức như: Phúc Âm Dẫn Giải, Giáo Lý Đại Cương, Lục Vấn Lương Tâm, Những Lời Khuyên Thực Hành Dọn Mình Chết Lành v.v.

Trong thời gian làm bề trên chủng viện, cha thường khuyên các chủng sinh giữ gìn kỷ luật, vì kỷ luật sẽ giúp ta thể hiện lòng yêu mến Chúa, nâng đỡ đời sống dâng hiến. Ngoài việc tuân giữ kỷ luật, cha còn nhấn mạnh tới sự cầu nguyện. Cha nói, khi rao giảng Lời Chúa mà không có cầu nguyện thì lời giảng sẽ không có sức thuyết phục, lời giảng không có hồn thì sẽ bay đi mau chóng. Cha rất yêu mến Thánh Giá và Thánh Thể. Bất cứ nơi nào cha ở hay cha thường lui tới đều có bóng dáng Thánh Thể và Thánh Giá. Mỗi khi dâng lễ, cha dọn mình sốt sắng và dâng lễ một cách trang nghiêm, siêu thoát . Vì yêu mến Thánh Thể và Thánh Giá nên cha thường thăm viếng bệnh nhân, ban các bí tích, giúp đỡ người nghèo, nhất là các bệnh nhân phong cùi. Nhiều người đã nói, cha Lê Bảo Tịnh đã tử đạo từ trước ngay trong cuộc sống rất nghiệm ngặt của cha rồi.

Lịch sử Truyền Giáo của các cha Hội Thừa Sai Paris còn ghi lại rằng năm 1857, cha Kỳ và cha Hảo về tổ chức lễ tại nhà thờ Phát Diệm rất long trọng, có rước kiệu, thu hút rất đông giáo dân từ nhiều nơi đổ về. Lòng người nao nức, vui mừng. Nhưng đây cũng là dịp làm cho nhiều người đã sẵn lòng ác cảm với đạo Chúa thêm lòng ghen ghét thêm. Nhân dịp này họ vu khống và đi tố cáo với quan tổng đốc Ninh Bình rằng các cụ đạo “mở hội khao quân” âm mưu chống triều đình. Quan tổng đốc liền cho quân về Phát Diệm bao vây bắt các cha. Nhưng cha Kỳ và cha Hảo đã nhanh chân chạy thoát về Vĩnh Trị. Sau đó họ gửi giấy về Nam Định, yêu cầu quan Tổng đốc Nam Định là Nguyễn Đình Hưng truy nã và bắt hai cha Kỳ và Hảo.

Ngày 27 tháng 2 năm 1857 quan phủ Nghĩa Hưng đích thân chỉ huy một lực lượng hùng hậu kéo về bao vây làng Vĩnh Trị. Quan Tổng đốc vốn có lòng quí mến cha Lê Bảo Tịnh nên đã cho người mật báo cho cha Lê Bảo Tịnh, nhưng vì bất ưng bị bệnh nặng, người đó không thể đi thông báo được cho nên chủng viện Vĩnh Trị khi ấy vẫn sinh hoạt bình thường cho tới khi quan quân đã về bao vây kín khắp làng. Vì quá cấp bách, Đức cha Liêu và các cha khác bàn định đồng ý chạy trốn, chỉ để một mình cha Lê Bảo Tịnh ở lại để đối phó.Khi quan phủ Nghĩa Hưng và ông Phán Trứ tới, cha Lê Bảo Tịnh vui vẻ mời các vị đó vào phòng khách, tiếp nước trà rồi trình bày giấy phép của quan Tổng Đốc.Nhưng sau khi khám xét, quan phủ Nghĩa Hưng thấy nhà trường có nhiều đồ quốc cấm, như sách tiếng la tinh, áo lễ, đồ thờ phượng từ nước ngoài gửi tới, nên quan làm biên bản rồi bắt luôn cha Lê Bảo Tịnh về tỉnh để điều tra thêm.

Trước khi đi, cha Lê Bảo Tịnh vào Nhà Nguyện cầu nguyện trước Chúa Giêsu Thánh Thể và Đức Mẹ rồi từ gĩa các chủng sinh rồi theo quan phủ và đoàn quân về phủ. Được tin cha Tịnh bị bắt, Đức Cha Liêu đã tìm mọi cách để chuộc cha Lê Bảo Tịnh trước khi quan phủ giải cha về tỉnh. Nhưng cuộc dàn xếp không thành.

Thế là cha Phaolô Lê Bảo Tịnh bị bắt và đây là lần thứ hai cha bị bắt dưới triều vua Tự Đức. Sau nhiều lần tra hỏi, quan tổng đốc Nam Định Nguyễn Đình Hưng vẫn nhớ ân tình với cha Lê Bảo Tịnh vì trước kia cha đã chữa bệnh đau mắt cho quan. Trước hoàn cảnh khó xử, một đàng là lệnh của vua, một đàng là tình nghĩa, là ân nhân của mình, quan tổng đốc Nguyễn Đình Hưng thật khó xử. Quan liền ân cần khuyên dụ cha bước qua Thánh Giá để quan tha cho cha. Nhưng cha cương quyết từ chối, không chịu bỏ đạo. Trong thời gian giam giữ, nhiều lần quan Nguyễn Đình Hưng đã gặp gỡ, truyện trò với cha, lấy tình bạn khuyên dụ cha bước qua Thánh Giá để có đủ lý do quan tha cho cha về. Nhưng là một linh mục, là chứng nhân của Thiên Chúa, cha cũng đã rất lịch sự và thành thật trình bày với quan tổng đốc rằng dù có phải chết thì cha vẫn sẵn lòng chấp nhận chết chứ không bao giờ cha phản bội Thiên Chúa. Cha cũng nhân dịp này cắt nghĩa cho quan tổng đốc về ý nghĩa cuộc sống ở đời này và sự sống đời sau, Thiên Đàng và Hoả ngục. Cha nhấn mạnh với quan rằng đạo Gia Tô thờ kính Thiên Chúa, là đạo chân thật, không có gì chống đối vua chúa và triều đình cả. Vua chúa hiểu sai lầm về đạo rồi bị các cận thần có ác ý xúi bẩy mà cấm đạo và giết hại những người theo đạo mà thôi. Quan tổng đốc tỉnh Nam Định nghe cha nói thì cám ơn cha, nhưng lệnh vua thì quan phải thi hành. Xin cha thông cảm.

Lần cuối cùng quan Tổng đốc Nguyễn Đình Hưng muốn cứu vị ân nhân của mình bằng cách chính tay ông viết bản án và thêm

- “Xét rằng Lê Bảo Tịnh đã già ngoài 60 tuổi. Chiếu theo luật nước, không nên xử tử những người già nua tuổi tác như thế. Xin cứ giam ở Nam Định và cứ giữ tại đó cho tiện”.

Trong thời gian bản án gửi về kinh thì cha Lê Bảo Tịnh được giam ở Trại Vệ, nơi đây có nhiều người Công giáo bị bắt và giam giữ ở đây. Được cơ hội tốt, cha khuyên bảo, củng cố đức tin mạnh mẽ cho anh em. Nhờ lời khuyên bảo và lòng sốt sắng của cha mà anh em được vững mạnh hơn, đức tin được thêm vững chắc, nhất quyết một lòng tin theo Chúa. Phần cha, cha cũng  dành nhiều thời giờ để cầu nguyện sốt sắng, dọn mình đổ máu vì lòng yêu mến Chúa. Trong những ngày này cha cũng viết một tâm thư rất dài và rất cảm động gửi về cho các chủng sinh của cha tại chủng viện Vĩnh Trị.

Sau khi đọc bản án do quan tổng đốc Nam Định Nguyễn Đình Hưng đệ trình, ngày 5 tháng 4 năm 1857 vua cầm bút sửa lại, cải án giam bằng án tử hình rồi gửi trả lại để quan tổng đốc tỉnh Nam Định thi hành. Có lẽ người hồi hộp chờ đợi bán án gửi trở lại nhất lại là quan tổng đốc Nguyễn Đình Hưng  Mở đọc án lệnh của vua, quan Tổng đốc Nguyễn Đình Hưng buồn rầu. Quan lặng lẽ không nói một lời nào, còn cha Phaolô Lê Bảo Tịnh thì lại vui mừng, chuẩn bị lãnh ơn tử đạo một cách rất sốt sắng. Ngài thương nhớ các chủng sinh thân yêu ở chủng viện Vĩnh Trị nên 12 ngày trước khi chết, Ngài đã viết cho các chủng sinh một bức tâm thư chứa chan những tư tưởng đạo đức, vô cùng cảm động. Ngài cũng viết cho quan Tổng đốc Nguyễn Đình Hưng một lá thư ngắn gọn với những lời lẽ sau:

- “Tôi xin chân thành cám ơn quan Tổng đốc, vẫn luôn có lòng tốt tìm cách cứu tôi. Thân xác tôi ở trong tay quan, xin làm khổ nó tùy ý. Tôi rất vui lòng, không oán than gì. Nó chết đi nhưng mai ngày sẽ sống lại vinh quang. Còn linh hồn tôi là của Chúa, không có gì làm tôi hy sinh nó được, không ai có thể làm lay chuyển lòng tin của tôi. Đạo Thiên Chúa là chính đạo, là đạo thật, tôi yêu mến, và giữ đạo ấy từ thuở bé, và dù tôi có chết thì cũng chẳng bỏ được.”

Ngày 6 tháng 4 năm 1857,  cha Phaolô Lê Bảo Tịnh đã hiên ngang tiến ra pháp trường Bảy Mẫu tỉnh Nam Định để anh dũng lãnh nhận cái chết của vị anh hùng tử đạo trong lời vĩnh biệt trao gửi lại cho mọi người Ngài quí yêu:

- “Anh em ở lại bình an, kiên trung giữ đạo và can đảm bền vững trong Đức Tin, đừng sợ chết nhé”.

Ngày 2 tháng 5 năm 1909, Đức Giáo Hoàng Piô X đã long trọng tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn vinh Ngài lên bậc Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

 

13. Ngày 7 tháng 4:Thánh Phêrô Nguyễn Văn Lựu, Linh mục (1812-1861)

Thánh Phêrô Nguyễn Văn Lựu sinh tại Gò Vấp, tỉnh Gia Định  trong một gia đình Công giáo tốt lành. Được tiếp nhận một nền giáo dục vững vàng trong đức tin và một đời sống đạo đức, ngay từ nhỏ cậu đã nhiều lần ngỏ ý ước ao được dâng mình cho Chúa, theo đuổi lý tưởng linh mục. Tới tuổi trưởng thành cậu được phép cha mẹ dâng mình cho Chúa, vào chủng viện và được Bề trên gửi đi du học tại Pénăng Mã Lai.Tại Pénăng thầy sống một đời sống gương mẫu về lòng đạo đức cũng như chăm chỉ học tập . Cha Thuyết là bạn đồng môn với thầy tại Pénăng nói về thầy rằng tôi thấy thầy Lưu rất chăn học, lại giữ luật lệ rất nghiêm ngặt, sốt sắng đọc kinh và sốt sắng lãnh nhận các bí tích một cách rất đều đặn. Tính tình rất nghiêm thẳng, thích giúp đỡ bạn hữu, không bao giờ ca thán hay làm mất lòng ai. Khi đã học xong chương trình triết và thần học, năm 1844, thầy được Bề trên gọi về cho lãnh các chức nhỏ tại Lái Thiêu và lãnh công tác đi dạy giáo lý cho các tân tòng. Sau đó thầy lãnh chức Phó Tế rồi đi giúp cha Thuyết là bạn học nhưng được chịu chức linh mục trước tại họ Đầu Nước. Cha Thuyết nói rằng trong thời gian giúp Ngài tại họ Đầu Nước, thầy Phó tế Nguyễn văn Lựu luôn là  mẫu gương đạo đức cho mọi người, không ai chê thầy điều gì cả .

Sau đó, thầy Phêrô Nguyễn Văn Lựu lãnh chức linh mục rồi được bổ nhiệm phụ trách mục vụ các xứ đạo như Mặc Bắc Vĩnh Long, Sa Đéc, Mỹ Tho v.v.  Ở đâu cha cũng chu toàn bổn phận một cách hoàn hảo, chu đáo, đáng khen. Cha chú trọng vào công việc giảng dạy giáo lý, đi thăm các gia đình, lui tới thăm viếng và an ủi những người đau ốm hay cao niên trong xứ đạo. Có lần cha dám liều vào nhà tù thăm viếng và khích lệ những tín hữu bị bắt vì theo đạo. Cha khuyên nhủ họ rầng “bằng cách này hay cách khác, chúng ta đều phải chết, vì thế anh em hãy can đảm theo chân Chúa Giêsu. Được chết vì Chúa, vì đạo là điều hạnh phúc nhất:. Anh em hãy cầu nguyện và tin vào lòng xót thương của Chúa. Chúa sẽ ban thêm sức mạnh để chúng ta thắng vượt  mọi khốn khó”.Nhờ lòng nhiệt thành và can đảm như vậy mà giáo dân ai cũng thân quen, gần gũi cha, thương mến và coi cha như người cha trong gia đình.

Năm 1853 đã có lần cha thoát chết một cách rất hi hữu. Lúc đó cha đang là cha sở xứ Mặc Bắc, vừa được lệnh thuyên chuyển đi xứ khác thì quan Trấn phủ Vĩnh Long được mật báo, đem quân đến vây bắt cha. Không bắt được cha, họ bắt cha Philipphê Phan Văn Minh và ông trùm Giuse Nguyễn Văn Lựu để thế mạng.

Đến năm 1860, cha Phêrô Nguyễn Văn Lựu đang coi sóc xứ Ba Giòng thì quan Trấn phủ ra lệnh bắt tất cả những người theo đạo ở Xoài Mút và Ba Giòng gần Mỹ Tho đưa về giam chung ở tỉnh. Trong hoàn cảnh đau thương này, cha đã bỏ tiền đút lót với lính canh và khôn khéo thưa trình với thượng cấp. Cha thường cải trang, lén lút vào thăm viếng an ủi những con chiên bị bắt bớ vì đạo Chúa .Khi thì cha tới khuyên bảo họ giữ vững Đức Tin, khi thì đưa Mình Thánh Chúa cho họ rước lễ. Một hôm vì sơ ý nên quan Thanh Tra trại giam nghi cha là linh mục nên ra lệnh bắt cha. Trước mặt các quan, cha khôn ngoan trả lời để không ai vì cha mà phải phiền lụy. Quan hỏi ngài:

- “Ông theo đạo Công giáo phải không?

Cha thẳng thắn trả lời:

- “Phải, tôi theo đạo Công giáo”

- “Ông có phải là đạo trưởng không?

- “Phải, chính tôi là đạo trưởng.

- “Ông đã ở đâu và trong những làng xóm nào?

- “Tôi không có nơi nào nhất định, đi đây đó, nơi nào có người Công giáo thì tôi lui tới thăm viếng họ.

- “Cha mẹ, anh em ông ở đâu?

- “Cha mẹ anh em tôi chết cả rồi. Tôi chỉ có một mình.

- “Ông có đi du học tây phương không?

- “Tôi không đi du học tây phương nhưng du học tại đảo Pénăng, Mã Lai,

- “Ai đã phong chức đạo trưởng cho ông?

- “Đức cha Dominique

- “Bây giờ ông ấy ở đâu?

-“Ngài theo lệnh vua trở về tây phương rồi.

Sau cuộc phỏng vấn, các quan khuyên cha bỏ đạo. Cha dõng dạc trả lời

- “Thưa các quan, đạo đã ăn sâu vào tận xương tủy tôi rồi, làm sao tôi có thể chối đạo được? Người giáo dân hay thầy giảng còn không dám bỏ đạo, làm sao một đạo trưởng như tôi  lại dám bỏ đạo

Sau đó các quan nói về vụ liên quân Pháp và Tây Ban Nha đến tấn công tại Đà Nẵng và yêu cầu cha Lựu đi gặp họ để xin họ rút quân. Cha Lựu trả lời cha không liện hệ gì tới chiến tranh, lại không có quyền gì để nói chuyện với những người ngoại quốc này. Nghe cha nói, các quan lại trở lại việc khuyên dụ cha bỏ đạo. Các quan dọa nạt cha:

- “Theo luật pháp nhà nước, tội ông rất nặng, hãy bước qua Thánh Giá và bỏ đạo, hoàng đế sẽ gia ơn giảm án và trọng thưởng, bằng không thì tội ông phải chết.

Một lần nữa với giọng cương quyết cha nói:

- “Tôi giữ đạo từ bé, đạo không dạy điều gì trái với luật lệ quốc gia, còn điều các quan khuyên tôi thì lại trái ngược với lẽ phải, tôi không thể nghe theo các quan được”.

Thấy không thuyết phục được cha, các quan cho lệnh giam giữ trong tù, cổ đeo gông, tay chân mang xiềng xích nặng nề. Nhưng cha luôn tỏ ra vui vẻ, tươi cười và mau mắn khích lệ những tín hữu cùng bị giam. Cha luôn sốt sắng cầu nguyện và mỗi khi cầu nguyện thì cha quì trên nền nhà tù ẩm ướt, còn thời giờ thì cha đan giỏ bán lấy tiền giúp các bạn tù. Lâu lâu cha lại bị kêu ra đánh đòn, tra khảo, dọạ nạt cùng với những con chiên của cha. Dù bị đánh đập tàn nhẫn, bị hành hạ, xiềng xích, gông cùm, đói khát, khổ nhục, cha vẫn một lòng cương quyết không bước qua Thánh Giá, không bỏ đạo và luôn xưng mình là linh mục. Quan khuyên và ép buộc Ngài bước qua Thánh Giá,

Ngài lại dõng dạc trả lời như mấy lần trướx:

-“Đạo đã thấm nhập trong xương trong tủy tôi, làm sao tôi bỏ được. Vả lại, một người tín hữu bình thường, một Thầy Giảng còn không bỏ đạo, huống nữa tôi đây là một đạo trưởng, một linh mục”.

Sau một thời gian giam giữ với hy vọng cha sẽ bị lung lạc ý chí mà bước qua Thánh Giá mà bỏ đạo các quan đều thất vọng vì không thể khuyên dụ được. Quan đầu tỉnh Mỹ Tho bực tức liền tuyên án tử hình bằng cách chém đầu.

Nhận được tin sẽ bị chém đầu vì không bỏ đạo, cha vui mừng cảm tạ Chúa đã ban cho cha được đổ máu làm chứng cho đạo thánh Chúa. Cha dọn mình sốt sắng và khuyên bảo những người cùng bị tù đày hãy luôn vững tin và cậy trông nơi Chúa.

Để thi hành án lệnh sáng sớm lúc 8 giờ ngày 7 tháng 4 năm 1861 quan trấn phủ sai một tên lính tới nhà tù tuyên đọc bản án rồi tháo gông, xiềng xích và áp giải cha Phêrô Nguyễn Văn Lựu ra công đường. Tại đó, quan giám sát tên là Thôn Phan Chan cùng với đoàn quân hùng hậu gồm 50 binh lính gươm giáo xếp thành hàng hai tiến ra pháp trường  Pháp trường ở ngoài thành, ngay trên con lộ từ Mỹ Tho đi Saigòn.

Trước khi bị hành quyết, cha Phêrô Nguyễn Văn Lựu quì cầu nguyện chừng 10 phút. Đội lý hình chuẩn bị sẵn sàng, đợi ba hồi chiếng trống nổi lên, dứt tiếng chiêng trống cuối cùng thì tên đao phủ lành nghề vung gươm lên cao chém một nhát đứt đầu, rồi mọi người hoảng hốt bỏ chạy vì sợ hồn người chết nhập vào. Sau một lúc thì chỉ còn lại một tên lính gác xác, từ xa xa một nhóm giáo dân chừng mươi người xông vào thấm máu và xin nhận xác. Thi hài vị chứng nhân Đức Tin được các tín hữu thu lại đem về an  táng chung với gông cùm và một chiếc bình đất vấy đầy máu cha. Sau này giáo dân Mỹ Tho đã cải táng đưa về đặt tại bàn thờ chính thánh đường Mỹ Tho. Tới năm 1960 lại một lần nữa hài cốt của Ngài lại được rước về nhà thờ chính toà Saigòn.

Đức Giáo Hoàng Piô X đã suy tôn Cha Phêrô Nguyễn Văn Lựu lên bậc Chân Phước ngày 2.5.1909 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong Ngài lên hãng ngũ các Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam ngày 19 tháng 8 năm 1988. 

 

14. Ngày 27 tháng 4: Thánh Laurensô Nguyễn Văn Hưởng, Linh Mục. (1802-1850)

Thánh Laurensô Nguyễn Văn Hưởng sinh năm 1802 tại xã Tụy Hiền, xứ Kẻ Sài, tổng Trinh Tiết, tỉnh Hà Nội. Cha là người con thứ bốn trong một gia đình rất nghèo. Hồi còn nhỏ đã bị mồ côi cha mẹ nên phải ở với ông chú ngoại giáo tên là Thang. Ông chú giầu có lại không có con nên ông rất thương mến cháu. Ông muốn vun đắp và sau này lập gia đình cho cháu. Nhưng người cháu mồ côi dễ thương này không cần giầu sang của cải, một lòng quyết chí dâng mình cho Chúa mà thôi. Vì thế cậu đã đến xin cha Duyệt là cha xứ Sơn Miêng giúp đỡ. Cha xứ nhận và cho vào ở trong nhà xứ, nuôi ăn học trong thời gian ba năm. Sau đó, cha gửi cậu Hưởng vào chủng viện Vĩnh Trị học La tinh chuẩn bị học triết và thần học.

Nhưng thời vận không thuận lợi. Năm 1834, vua Minh Mạng ra lệnh cấm đạo rất nghiêm ngặt nên chủng viện Vĩnh Trị phải đóng cửa Thầy Hưởng phải trở về quê làm thuốc bán rong và ở với ông chú ngoại giáo. Thấy hoàn cảnh tu trì học hành của cháu bị giang dở nên ông chú lại thúc ép cháu lập gia đình và hứa sẽ cho tất cả của cải của chú. Ông tổng Phan người có họ hàng với ông chú cũng hứa sẽ làm mai cho một thiếu nữ trong xã và sẽ cho làm việc với làng xã. Nhưng thầy Hưởng vẫn cương quyết theo đuổi lý tưởng tu trì, và tiếp tục làm thuốc bán rong chờ đợi thời cơ có thể trở lại học hành tiến chức..

Khi cuộc bắt đạo đã tạm lắng dịu, Đức Cha mở chủng viện lại thì thầy Hưởng lại trở về tiếp tục việc học cho tới khi mãn trường. Sau đó, thầy được chính thức gia nhập bậc thầy giảng rồi bề trên sai thầy đi giúp cha Tuấn ở Kim Sơn xứ Bạch Bát, rồi trở về giúp cha Duyệt tại Bạch Liên. Sau tám năm giúp xứ, thầy Hưởng được gọi về lãnh chức linh mục. Từ đây, thầy trở nên một linh mục nhiệt thành, đạo đức, được sai đi làm cha phó xứ Giang Sơn, rồi làm cha xứ Lạc Thổ, Yên Lộc, Bạch Bát. Ở đâu cha cũng tỏ ra là một linh mục đạo đức, rất nhiệt tâm giảng dạy giáo lý, săn sóc việc cứu giúp các linh hồn.

Mùa Vọng tháng 11 năm 1855, một hôm cha đi thăm bệnh nhân thì bị bắt trên đường đi. Theo lời một giáo dân đón cha đi kể lại rằng, khi ấy cha đang ở trên thuyền của ông đi ngang làng Vân Ru, Trà Tu thì gặp quan phó tổng Tùy đang đốc công xây cống. Mấy gia nhân thấy thuyền có mui thì nghi là thuyền chở cố đạo nên phó tổng Tùy liền sai quân với gậy gộc rượt theo thuyền của ông ta. Thấy vậy, cha liền nói với người lái thuyền chèo qua bờ bên kia sông để cha xuống, tự nộp mình, không muốn làm phiền lụy tới người chủ thuyền.

Bị bắt, cha bĩnh tĩnh, không sợ hãi vì cha nhận đây là thánh ý Chúa muốn cha hy sinh để làm chứng cho Chúa. Cha vui mừng vì sẽ được thông phần đau khổ vào cuộc tử nạn của Chúa Giêsu, cha sẵn sàng chịu chết vì đạo Chúa.

Sau ba ngày bị giam ở huyện Yên Mô, bị tra vấn và mang xiềng xích như một tù nhân, cha được giải về tỉnh Ninh Bình. Quan đầu tỉnh gặp cha, thấy cha hiền lành dễ thương nên có cảm tình với cha, không muốn làm khổ cha. Quan khuyên dụ và hứa với cha:

- Tướng mạo ông hiền lành, quả là một nhà tu hành. Vậy nếu ông đạp lên Thập Giá, tôi sẽ cho ông tới trụ trì yên ổn ở chùa Non Nước.

Cha nhã nhặn đáp lại:

- Tôi không biết gì về Thần Phật, làm sao ở chùa được?

- Ông không biết gì về Thần Phật. Vậy đạo của ông thờ gì?

- Đạo của tôi thờ kính một Thiên Chúa duy nhất là Đấng dựng nên trời đất muôn vật, là Đấng thông biết mọi sự. Ngài dạy chúng ta ăn ngày ở lành, tránh xa tội ác, phải yêu thương mọi người, kể cả những người ghen ghét hoặc làm khổ mình nữa.

- Vậy ông đọc cho ta nghe kinh của đạo Gia Tô xem sao.

Quan yêu cầu cha đọc kinh thì cha đọc 10 Điều Răn. Quan thấy hay và khen là tốt. Quan lại càng tỏ ra quí mến và cố gắng thuyết phục cha bỏ đạo, bước qua Thánh Giá. Quan lại hỏi cha:

- Tôi nghe đồn rằng các ông khoét mắt bệnh nhân, và không thờ kính tổ tiên. Có thật không? Tại sao lại thế?

Cha cười và ôn tồn trả lời quan:

_ Xin quan lớn đừng nghe những lời đồn thổi sai lầm do một ít người ghen ghét rồi đồn dại những tin thất thiệt đó. Sự thật không phải vậy. Khi thăm viếng bệnh nhân lúc gần chết, chúng tôi chỉ xức dầu trên mắt, mũi, tai, miệng và tay chân để xin Chúa tha cho các tội mà bệnh nhân đã dùng chúng để phạm tội. Còn với tổ tiên, chúng tôi vẫn kính nhớ và hằng cầu nguyện bằng các việc lành cho các ngài. Chỉ có một điều là chúng tôi không cúng hoa quả, xôi oản, vì biết chắc rằng tổ tiên đã chết rồi không thể trở về ăn uống được các thứ đó nữa. Vì vậy chúng tôi không dâng cúng các thứ đó mà thôi.

Nghe cha giải thích xong, quan gật đầu tỏ ý bằng lòng. Rồi ra hiệu cho lính đưa cha trở về nhà giam. Vì cha được quan  trọng nể nên cũng để cho cha được phép tiếp xúc với những người tới thăm nuôi cha. Nhờ sự dễ dãi này mà nhiều giáo hữu được vào thăm viếng an ủi cha. Có nhiều người tới thăm thì thương khóc, thấy cha phải đeo gông và mang xiềng xích; Nhưng cha lại vui vẻ nói:

- Chúng con phải vui mừng cho cha, vì cha được chịu khổ vì Chúa Giêsu, Đấng đã chịu khổ nhục và chết vì chúng ta.

Bà Maria nức nở nói :

- Chúng con thương cha lắm. Nhưng khi về với Chúa, xin cha nhớ đến chúng con, Xin cha cầu cùng Chúa cho chúng con được giữ vững đức tin, để sau này chúng con được theo cha.

Nhưng sau rất nhiều lần gặp gỡ, khuyên dụ nhưng không đem tới kết quả như mong muốn, các quan trong tỉnh đều chán nản và bực tức với cha. Từ lòng yêu thương trọng nể đổi ra lòng bực bội, tức giận, bây giờ các quan tỉnh Ninh Bình cho lệnh đánh đập, kèm kẹp, hành hạ thân xác, đeo gông cùm và xiềng xích rất nặng, hy vọng vì khổ sở đau đớn quá thì cha sẽ thay lòng đổi dạ mà bỏ đạo.

Đã có lần các quan nhận mười nén bạc của giáo hữu để làm án nhẹ cho cha. Họ đề nghị cha khai mình chỉ là tín hữu, nhưng cha nhất định không chịu khai gian như thế, vì cha là linh mục. Biết được việc làm của một số tín hữu như thế, cha đã biên một bức thư cho Đức Cha Retord Liêu như sau:

“Xin Đức cha đừng cho tín hữu chạy tiền chuộc con làm chi. Con sẵn lòng hy sinh để làm chứng đạo Chúa Giêsu là đạo thật. Xin Đức Cha cầu nguyện cho con được vững lòng cho đến chết”.

Nhưng sau một ít ngày đã làm đủ mọi cách mà không thuyết phục được người chiến sĩ kiên trung của Chúa, các quan đã đồng thuận làm án xin vua xử trảm. Cha biết các quan đã đệ trình án lệnh lên vua Tự Đức thì cha hớn hở vui mừng chờ đợi ngày giờ được hạnh phúc lãnh nhận triều thiên tử đạo.

Ngày 25 tháng 4 án lệnh triều đình về tới Ninh Bình. Bản án viết: “Nguyễn Văn Hưởng 54 tuổi, người Hà Nội, không rõ quê quán, đã theo tả đạo Giêsu và xưng mình là đạo trưởng. Đã bị tra khảo nhiều lần nhưng vẫn cố chấp không chịu bỏ đạo và bước qua Thập Giá vì thế phải trảm quyết ngay tức khắc”.

Ông đội canh tù báo cho cha và những người thăm nuôi cha biết án lệnh đã về để chuẩn bị ngày ra pháp trường. Đúng ngày bị xử trảm, cha Khoan vào ngục thăm và trao Minh Thánh Chúa cho cha Nguyễn Văn Hưởng lần cuối cùng. Đến trưa, quan giám sát dẫn 50 người lính tới đưa cha đi xử. Vì cha quá yếu nên quan cho phép giáo dân  thuê người khiêng võng cha tới cánh đồng gần núi Cánh Riêu. Đến nơi xử, ông Phu người lo công tác dọn dẹp nhà thờ Bạch Bát đã trải sẵn một chiếc chiếu, cha quì trên chiếc chiếu cầu nguyện lần cuối rồi chiêng trống vang lên, lý hình chém đứt đầu cha. Dân chúng lương giáo đứng từ xa chứng kiến cảnh hãi hùng thì kêu rú lên khi thấy đầu cha rụng xuống đất. Có tiếng la lớn:

- Giêsu Maria, lạy Chúa tôi! Đầu cha rụng xuống đất rồi!

- Trời đất ơi, sao mà ghê sợ quá vậy! Tàn ác quá !

Người ta xô nhau xông vào thấm máu cha, chẳng còn phân biệt ai là người có đạo hay không có đạo nữa. Ai ai cũng tin rằng thấm được máu vị tử đạo để đem về chữa đủ các thứ bệnh sau này. Một số người tới năn nỉ xin xác Ngài đưa về an táng tại Vĩnh Trị. Thế là đầu cha Laurensô Nguyễn Văn Hưởng đã rơi xuống đất mà hồn đã bay bổng về với Thiên Chúa, Đấng cha đã tôn thờ suốt cả cuộc đời trong 54 năm dài tại trần thế.

Đức Giáo Hoàng Piô X đã suy tôn Ngài lên bậc Chân Phước ngày 2 tháng 5 năm 1909 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn vinh Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988. 

 

 

 

 

15. Ngày 28 tháng 4:Thánh Phaolô Phạm Khắc Khoan, Linh Mục  (1771-1840)

 

Thánh Phaolô Phạm Khắc Khoan sinh năm 1771 tại Thôn Trung, xã Duyên Mậu, tỉnh Ninh Bình, nay  thuộc xứ Phúc Nhạc, là người con duy nhất của gia đình. Sau đó cha mẹ đã di chuyển gia đình xuống Trại Bồ Bồng Hải cũng thuộc xã Duyên Mậu thì mới theo đạo. Cậu có lòng ước ao đi tu từ nhỏ và đã được cố Thạch ở xứ Đông Biên nhận đỡ đầu cho vào nhà trường ăn học làm linh mục.

Ngài được nổi tiếng là một linh mục đạo đức, trực tính, rất thương người nghèo khổ và luôn vui vẻ với mọi người. Ngài tận tụy làm việc không biết mệt mỏi, chuyên cần soạn các bài giảng, bài giáo lý để dạy cho giáo dân. Tới lúc gần 60 tuổi thì Ngài được bổ nhiệm làm cha xứ Phúc Nhạc, kiêm thêm hai họ đạo Đông Biên, Tôn Đạo và nhà Dòng tại Yên Mới nữa. Dù công viêc nặng nhọc nhưng lúc nào cha cũng vui vẻ tươi cười sống thân ái dễ dãi với mọi người.

Năm 1837, một hôm Ngài đi làm phúc tại Đông Biên, có thầy Phêrô Nguyễn Văn Hiếu 60 tuổi, người làng Đồng Chuối, và thầy Gioan Baotixita Đinh Văn Thành 41 tuổi gốc Luốn Khê Phát Diệm cùng đi giúp Ngài thì cả ba cha con đều bị bắt và bị giải về tỉnh Ninh Bình. Lúc bị bắt cha Phaolô Phạm khắc Khoan đã 66 tuổi.

Thời gian bị tù đày của các Ngài kéo dài gần ba năm, ban đêm chân bị cùm, ban ngày bị xiềng xích nặng nề, lại còn bị đánh đập, tra tấn rất đau đớn. Rất nhiều lần các Ngài bị khuyên dụ bỏ Đạo, bước qua Thánh Giá, nhưng không thể thuyết phục được các Ngài. Một hôm quan tổng trấn mời cha đến và hỏi chuyện, vì thấy cha hiền hoà dễ thương lại đã 66 tuổi già yếu nên quan muốn trả tự do cho cha, không muốn làm khổ cha và làm án để xử cha..

Quan ân cần hỏi:

- Tôi muốn kết thân với ông. Tôi chỉ muốn tìm cách cứu mạng sống của ông. Vậy xin ông chịu khó chấp nhận bước qua Thấp Giá thì tôi sẽ tha ông ngay. 

Cha ôn tồn trả lời:

- Mấy tháng qua ở trong tù, tôi đã suy tính kỹ lắm rồi. Càng suy nghĩ, tôi càng xác tín hơn, càng cương quyết giữ vững Đức Tin cho đến chết.

Rồi cha lại nhắc lại câu chuyện đã xẩy ra năm 1802, cha nói:

- Khi đó, Thế Tổ Gia Long phụ thân của Hoàng Đế ra Hà Nội, chúng tôi có đến ra mắt. Ngài hứa cho chúng tôi được tự do giảng đạo, xây nhà thờ và làm các việc bác ái. Ngài yêu cầu chúng tôi cổ động dân chúng sống thuận hoà và chăm chỉ làm ăn. Từ đó đến nay, tôi vẫn vâng lệnh vua, nhắc nhở bà con làm điều tốt, tránh đều xấu. Tôi thờ vua trên Trời và tuân phục vua dưới đất. Tôi vẫn xin vua trên Trời ban ơn cho các quan, để thời các ngài được thái bình thịnh trị. Sao hôm nay quan lại bảo tôi bỏ lệnh tiên đế mà tôi đã tuân hành biết bao năm nay?

Quan thấy cha đặt vấn đề khó giải đáp thì không muốn trả lời cha mà laị hỏi sang chuyện khác. Quan hỏi cha:

- Thế ông không muốn sống à?

- Thưa quan lớn, mọi sinh vật đều muốn sống, huống chi là con người có lý trí. Ai biết giá trị cuộc sống mà chẳng ham sống. Thế nhưng với người tin theo đạo Chúa, chúng tôi tin  chết thân xác đời này nhưng sẽ có sự sống đời đời trên Thiên Đàng, do đó chúng tôi không sợ chết vì đạo Chúa.

-  Ông tin có Thiên Đàng hả? Ai bao ông có Thiên Đàng?

- Đó là chuyện đương nhiên. Như vua thường ban thưởng cho các trung thần, thì Chúa trời đất chẳng lẽ không ban thưởng cho các tôi trung phục vụ Người đến chết sao? Nơi tưởng thưởng đó, chúng tôi gọi là Thiên Đàng đấy.

- Nghe ông nói cũng có lý nhưng ai đã dạy cho ông biết là có Thiên Chúa?

- Thưa quan tổng trấn, không cần phải ai dạy. Chính trời đất vũ trụ là cuốn sách mở ra dạy ta bài học đó. Nhìn ngắm những công trình kỳ diệu của thiên nhiên, tức khắc phải nhận ra có Đấng Sáng Tạo và gìn giữ nó. Chúng tôi gọi Đấng ấy là Đức Chúa Trời và chúng tôi tôn thờ Người

- Vậy còn lệnh vua truyền không được rao giảng đạo Gia Tô nữa thì ông phải tuân theo lệnh vua chứ?

- Vua truyền lệnh cấm rao giảng đạo dậy tôn thờ Thiên Chúa là Đấng tạo dựng trời đất muôn vật thì tôi không thể theo vua. Tôi phải  vâng lệnh Thiên Chúa trước đã. Thiên Chúa là vua trời đất, vua trên hết các vua cơ mà!

Quan Tổng Trấn nghe nói thế thì im lặng một hồi lâu rồi thở dài, thất vọng không nói điều gì nữa. Quan biết cha là một nhà trí thức đáng kính nể nên cố tình giam giữ cha thật lâu với hy vọng thời gian sẽ làm cha thay đổi rồi tha cho cha về. Trong 3 năm, một thời gian khá dài, mong rằng sẽ thuyết phục được cha bỏ đạo, lâu lâu quan lại gọi cha ra công đường để khuyên cha bước qua Thập Giá, lúc đầu thì dùng cách ngọt ngào, thân thiện, sau thì dùng những cực hình để cưỡng ép, nhưng không có cách nào làm cha thay lòng đổi dạ.. Có lần cha thẳng thắn nói với quan chánh án rằng:

- Quan bảo tôi chà đạp Thập Giá là điều chẳng hợp lý chút nào. Xin quan đừng ép buộc chúng tôi làm việc này.

Quan lại hỏi:

- Sao lại không hợp lý? Ta chỉ cho ông con đường sống mà không hợp lý sao. Mong ông hiểu lòng độ lượng của ta .

- Thưa quan lớn, nếu nước nhà có biến, mà quan sợ chết, đào ngũ thì quan là kẻ hèn nhát. Cũng vậy, tôi nhờ ơn vua Cả trên Trời, tôi đâu có quyền sợ chết mà bỏ Người được?

Quan chánh án biết không thể đấu lý với cha được nên cho cha trở về nhà giam. Quan chánh án không được vui vì thâm tâm của quan là tìm mọi cách để cứu cha khỏi chết, vì biết cha là người hiểu biết sâu rộng, có kiến thức đáng qúi. Nhưng luật lệ của vua bắt phải thi hành, quan không biết làm cách nào khác để tha cho cha.  Đã nhiều làn thuyết phục mà đều không được. Không có cách nào bắt cha bước qua Thập Giá được. Quan chánh án thật khó xử!.

Lần khác quan chánh án lại kêu cha tới toà để nói truyện. Lần này  quan lại đổi chiến thuật. Quan cho lệnh đem giam hai thầy riêng một nơi khác, không cho ở chung với cha Khoan vì nghĩ giam chung thì cha Khoan lại khuyên bảo, khích lệ theo cha nên khó mà thuyết phục được hai thầy bỏ đạo. Nhưng dù ở riêng thì hai thầy cũng một lòng cương quyết, dứt khoát không bỏ đạo, không bước qua Thánh Giá

Sau bao lần gặp gỡ khuyên dụ, không thể làm thay lòng ba người chiến sĩ kiên cường của Chúa Kitô, quan rất buồn phải ký án tử hình cả ba gửi về triều đình và được chuẩn y. Ngày 28 tháng 4 năm 1840 cha Phaolô Khoan cùng với hai Thầy Hiếu và Thanh hiên ngang tiến ra pháp trường chịu xử chém. Trên đường ra pháp trường cha xin phép nói đôi lời với những người theo cha.

Tới nơi xử, vì thấy đông đảo người theo, có nhiều tiếng khóc nức nở, cha Phaolô Phạm Khắc Khoan xúc động xin quan chánh án nói mấy lời từ biệt đám đông. Quan chánh án chiều ý cho phép. Cha bình thản nói:

- Thưa anh chị em! Chúng tôi không phạm tội ác, không chống lại vua, không lỗi luật nước. Chúng tôi chết chỉ vì là Kitô hữu, và vì không chịu bỏ đạo Chúa Kitô, là đạo duy nhất chân thật. Anh chị em cầu nguyện cho chúng tôi bền vững đến cùng. Anh chị em hãy trung thành giữ đạo thánh Chúa, hẹn có ngày chúng ta sẽ gặp nhau trong Nước Chúa, Nước Hằng Sống.

Nói xong, quân lính đẩy các cha vào khu trong, dần dần xa dân chúng. Các Ngài giơ tay ngỏ ý cầu nguyện. Từ xa xa người ta còn nghe tiếng các Ngài cầu nguyện vọng lại:

-  Vinh danh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa, Chúa trời đất. Chúng con hiến mạng sống cho Chúa. Xin Chúa chúc phúc cho nhà vua, xin biến đổi trái tim nhà vua, để vua tin theo đạo thật, đạo duy nhất có thể đem lại cho con người hạnh phúc đích thực. 

Sau đó lý hình chờ đợi chiêng trống nổi đổ hồi rồi vung cao gươm lần lượt chém ba chiếc đầu rơi xuống đất, đưa linh hồn ba vị thánh vui mừng về trời lãnh nhận triều thiên tử đạo muôn đời hân hoan ca tụng lòng thương xót của Chúa. Những người tín hữu theo sát ba vị chiến sĩ dũng cảm chứng kiến ba cái chết oai hùng đều run sợ khi thấy ba chiếc đầu tung lên cao. Nhiều người không cầm được sự xúc động đã la lên:

- Trời đất ơi! Họ đã chém đầu các thánh rồi!

- Lạy Chúa tôi, xin nhận các Ngài vào Thiên Đàng.

Tiếng khóc nức nở vang lên. Nhiều người đã xông vào thấm máu các Ngài.

Năm đó cha thánh Phaolô Phạm Khắc Khoan vừa 69 tuổi. Giáo dân đã xin xác của ba đấng đem an táng tại Phúc Nhạc cách long trọng tại nhà thờ Phúc Nhạc..

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã phong các Ngài lên hàng Chân Phước tử đạo ngày 27 tháng 5 năm 1900 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn vinh các Ngài lên bậc Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

 

 

16. Ngày 28 tháng 4:Thánh Phêrô Nguyễn Văn Hiếu, Thầy Giảng  (1783-1840)

 

Thánh Phêrô Nguyễn Văn Hiếu sinh năm 1783 tại làng Đồng Chuối, huyện Bình Lục, tỉnh Ninh Bình. Ngài vào tu trong Nhà Đức Chúa Trời ngay lúc còn nhỏ tuổi. Tính tình vui vẻ, nhanh nhẹn, luôn tỏ ra ngoan ngoãn, vâng lời và chăm chỉ chu toàn công việc trong nhà Chúa. Khi làm Thầy Giảng thầy đã giúp nhiều linh mục Thừa Sai và sau thì về giúp cha Phạm Khắc Khoan ở Phúc Nhạc, thầy thường theo cha Khoan đi làm việc tông đồ mà không sợ bắt bớ. Khi ở nhà, thầy giữ luật rất nghiêm túc, sốt sắng đọc kinh lần hạt Mân Côi dâng kính Đức Mẹ.. Giáo dân rất quí mến và cảm phục về lòng đạo đức thánh thiện của thầy.

Thầy bị bắt lúc 50 tuổi và đang giúp xứ cha Khoan ở Phúc Nhạc. Trong những ngày bị bắt và tù ngục, lúc đầu được giam cùng cha Khoan nhưng sau thì quan lại cho lệnh giam thầy Phêrô Hiếu một nơi riêng, không cho tiếp túc với cha Khoan nữa. Thầy bị tra tấn nhiều lần rất tàn ác, bị đòn vọt rất dã man, bị đeo gông cùm, xiềng xích nặng nề, chịu đói khát. Nhưng thầy vẫn một lòng kiên trì, không chịu bước qua Thập Giá. Thầy cương quyết và sẵn lòng chịu mọi khổ cực một cách can đảm và vui vẻ vì đạo Chúa, không một lời ca thán hay trách móc những kẻ đánh đập hành hạ mình. Có lần quan cho gọi Thầy ra trình diện và khuyên Thầy bước lên Thập Giá với những lời lẽ ngọt ngào, quan nói:

- Tôi rất thương anh nên muốn tha cho anh về với gia dình,

làm ăn. Nếu nghe theo tôi, tôi sẽ giúp đỡ để anh có thể lập nghiệp dễ dàng.

Thầy Phêrô Nguyễn Văn Hiếu khiêm tốn đáp lại:

- Tôi hết lòng cám ơn quan lớn về những lời khuyên dụ và hứa hẹn giúp đỡ tôi. Nhưng tôi không thể bỏ Chúa tôi, là Đấng đã tạo dựng nên trời đất cùng mọi loài thụ tạo trên trần gian này. Ngài là Chúa Trời đất, tôi phải tôn thờ Ngài.

- Anh nói Chúa Trời đất à? Đạo này là do mấy người “tây dương” tới đây tuyên truyền nhảm nhí chứ không phải như vậy đâu. Anh phải vâng lệnh đức vua. Anh đã biêt là đức vua đã nghiêm cấm thứ đạo này không?

- Bẩm quan lớn tôi biết đức vua cấm. Nhưng tôi phải vâng lời Thiên Chúa là Đấng tôi tôn thờ hơn là vâng lời đức vua.

Để lung lạc thầy, quan cho biệt giam hai Thầy trong một phòng riêng, không cho tiếp xúc với cha Khoan vì sợ cha Khoan sẽ khuyến khích và. khuyên bảo nên hai Thầy sẽ theo cha mà không chịu bước lên Thánh Giá. Dẫu thế, dù xa cha, hai thầy vẫn khuyên bảo nhau vững lòng theo Chúa và cam chịu mọi đòn vọt, đánh đập tàn ác. Có lần lính lôi  thầy Hiếu qua ảnh tượng Chúa, Thầy co chân lại nói lớn:

- Các anh kéo tôi đi chứ tôi không chịu. Tôi không dám xúc phạm đến Chúa tôi thờ.  Tôi không dám xúc phạm đến Chúa Trời Đất là Chúa của tôi.

Sau đó thầy ăn chay các ngày thứ Sáu để đền tội xin ơn can đảm chịu mọi sự xỉ nhục đau đớn.

Quan khuyên dụ nhiều lần, nhiều cách mà Thầy vẫn cương quyết không bỏ đạo nên quan lập cách ép buộc hai Thầy bỏ đạo. Mặc dầu không còn được giam chung với cha Khoan nữa, không còn được sự khuyến khích thiêng liêng của cha Khoan, nhưng các Thầy lại khuyến khích nâng đỡ nhau chịu đòn vọt cho đến chết vì đạo Chúa, vì yêu mến Chúa. Giam cầm mãi, đến đầu mùa thu năm 1939 quan lại gọi thầy Hiếu ra dụ dỗ một lần nữa bước qua Thập Giá, và bỏ đạo. Thầy vẫn cương quyết dù có phải chết thì cũng luôn sẵn sàng đón nhận chứ không bao giờ bỏ Chúa, bỏ đạo.

Lần cuối cùng trước khi quyết định kết án hai thầy, quan cho gọi thầy Phêrô Hiếu tới để khuyến dụ. Quan án nghĩ rằng thế nào cũng sẽ thuyết phục được thầy nên quan xử đối với thầy rất nhã nhặn và hiền hoà. Quan án hỏi thăm sức khỏe của thầy, hỏi thấy  có cần gì không. Thầy trả lời xin cám ơn quan thầy không cần chi, thầy chỉ mong được chết cho Chúa. Sau đó quan án hỏi lại:

- Đây là lần cuối cùng, tôi muốn khuyên thầy suy nghĩ lại mà bước qua Thập Giá để được tha. Thực tình tôi muốn tha cho thầy nhưng đây là lệnh của đức vua , nếu thầy không vâng lệnh đức vua thì bắt buộc tôi phải thi hành án lệnh. Giờ đây tôi mong thầy nghĩ lại và làm theo lệnh đức vua.

Thầy Phêrô Nguyễn Văn Hiếu khiêm tốn trả lời:.

- Tôi xin hết lòng cám ơn thiện ý của quan lớn. Nhưng việc bước qua Thập Gía thì nhất định không bao giờ tôi làm. Tôi rất vui lòng và sẵn sàng đón nhận cái chết vì Chúa chứ không bao giờ tôi bỏ Chúa là Đấng tôi tôn thờ.

Thấy sự cương quyết và ý chí sắt đá của thầy, các quan biết không còn cách nào có thể thuyết phục được thầy nên các quan quyết định phải kết án trảm quyết. Án được vua châu phê và ngày thi hành án được ấn định là ngày 28 tháng 4 năm 1840 cùng với cha Khoan và thầy Thành.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong Chân Phước cho Ngài ngày 27 tháng 5 năm 1900 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đâ nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988

 

 17. Ngày 28 tháng 4:Thánh Gioan Baotixita Đinh Văn Thành, Thầy Giảng (1796- 1840) 

 

Thánh Gioan Baotixita Đinh Văn Thành sinh năm 1796 tại Nôn Khê thuộc làng An No huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình. Cha mẹ ngài ngoại giáo, nếp sống gia đình bình thường. Tới năm 18 tuổi, thầy xin vào tu trong Nhà Đúc Chúa Trời để học đạo và sau đó xin được rửa tội tại nhà thờ Phúc Nhạc. Sau khi học đạo và được Rửa Tội, thầy đi giúp cha Jean Bellamy, sau về giúp cha Khoan. Thầy Thành có ơn gọi làm quản lý, tính toán rất giỏi vì thế cha Khoan chỉ định thầy làm quản lý, coi sóc Nhà Đức Chúa Trời ở Đông Biên. Thầy chăm chỉ lo toan mọi công việc trong nhà, lại siêng năng giữ luật nhà, khuyên bảo và dạy dỗ anh em trong nhà cũng như giáo dân rất khôn ngoan. Tính tình hiền lành, rất dễ thương, lại tận tụy với mọi công việc đã lãnh nhận. Đối với giáo xứ, thầy phụ trách Thánh Ca, Xướng Kinh trong nhà thờ và gìn giữ trật tự trong ngoài thánh đường một cách rất chu đáo.

Trong suốt thời gian phục vụ Nhà Chung cũng như giáo xứ, thầy Đinh Văn Thành đã tỏ ra là một tu sĩ trung kiên, hết lòng phục vụ Chúa và Giáo Hội. Từ Cha Xứ tới giáo dân ai ai cũng  khen thầy là một người Quản Lý cần mẫn, một thầy giảng nhiệt thành, luôn luôn phục vụ mọi người một cách vui vẻ, tận tụy, hoà nhã. Rất nhiều người không phải là Công giáo, nhưng sau khi được tiếp xúc với thầy và được thầy giúp đỡ, đã tới xin học đạo với thầy.

Khi thầy bị bắt, nhiều người đã thương khóc và tới xin quan tha cho thầy. Nhưng quan quân nhất định không tha và quyết định giải thầy về Ninh Bình cùng với thánh Phêrô Nguyễn Văn Hiếu và cha thánh Phaolô Phạm Khắc Khoan, Thầy Thành rất bĩnh tĩnh, vui vẻ đón nhận thánh ý Chúa.

Khi bị các quan tra vấn, thầy luôn tỏ ra can đảm, mạnh bạo nhưng khiêm tốn. Các quan hỏi gì thì thầy hiên ngang trả lời:

- Tôi là người giúp việc cho đạo trưởng đây, Ngài định làm sao thì tôi cũng theo như vậy. Chúng tôi cương quyết và chắc chắn một điều là không bao giờ chúng tôi bỏ đạo, bỏ Chúa chúng tôi tôn thờ.

Quan nghiêm nghị nói:

- Nếu anh không bỏ đạo, vâng lệnh đức vua thì anh sẽ phải chém đầu như những người khác. Chết như thế thì uổng quá!

- Tôi không sợ, nếu phải chết vì đạo Chúa, tôi xin sằn sàng lãnh nhận cái chết đó.

- Anh nói như thế có phải điên không? Anh không sợ chết thật à. Anh có điên không?

- Thưa quan lớn, Xin quan lớn đừng hỏi tôi như thế. Tôi đã nói hết rồi. Quan tha thì tôi cám ơn quan lớn. Quan không tha mà kết án tôi vì tôi không bỏ đạo, không bước qua Thập Giá thì tôi xin vui lòng chấp nhận.

Các quan lớn thấy thầy trả lời một cách cuơng quyết và dứt khoát như thế thì ra lệnh cho đội lính đánh 30 roi rồi bắt đeo gông cùm, dẫn giải về nhà giam từ sáng chí tối nhịn đói nhịn khát. Một thời gian các quan đã đem giam hai thầy ra riêng để khuyên dụ, nhưng sau 11 ngày quan thấy không thành công nên lại đem về giam chung với cha Khoan tới ngày bị trảm quyết.

Trước ngày bị kết án, một lần nữa các quan lại gọi thầy ra trình diện trước tòa. Các quan tỏ ra rất thương mến và cảm thông với thầy. Các quan nói:

- Đây là lần cuối cùng, thật tình chúng tôi không muốn kết án anh. Vậy anh hãy nghe chúng tôi bước qua Thập Giá chỉ một lần thôi, để chúng tôi có lý do tha cho anh. Anh biết đây là lệnh đức vua. Đức vua nghiêm cấm thứ tà đạo này. Các anh bị bọn tây dương dụ dỗ mà theo thôi.

Thầy Đinh Văn Thành trả lời một cách mạnh mẽ và đầy vẻ cương quyết:

- Thưa các quan lớn, tôi xin cảm ơn muôn ngàn lần về những lời nói của các quan. Nhưng tôi đã nói, trước sau như một, không bao giờ tôi bỏ đạo, không bao giờ tôi bước qua Thập Giá. Tôi xin sẵn lòng chịu chết vì đạo Chúa tôi. Xin các quan đừng nhiều lời nữa.

Trước thái độ cương quyết mạnh dạn của thầy, các quan quyết định làm bản án gửi về triều đình xin lãnh ý vua. Bản án gửi về kinh đô, sau nhiều ngày chờ đợi thì tới ngày 28 tháng 4 năm 1840 án lệnh từ vua Minh Mạng chuyển xuống. Các quan tỉnh Ninh Bình nhận được án lệnh thì thi hành đem thầy Gioan Baotixita Đinh Văn Thành đi xử trảm cùng với cha Khoan và thầy Hiếu. Các Ngài đã hân hoan tiến ra pháp trường để vui mừng làm nhân chứng cho Đức Tin, tin Chúa và tin Đạo Chúa. Đoàn quân binh hùng dũng đưa các Ngài tiến ra pháp trường dưới bầu trời âm u, thiếu ánh nắng mặt trời. Các chiến sĩ dũng cảm của Chúa đã lần lượt bị chém đầu. Những chiếc đầu rơi xuống, máu vọt lên nhuộm đỏ cả một vùng đất lớn. Thân xác đã nằm xuống nhưng linh hồn các Ngài đã bay bổng về trời lãnh nhận triều thiên khải hoàn trên Quê Trời.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong các Ngài lên hàng Chân Phước ngày 27 tháng 5 năm 1900 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng các Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

 

 18. Ngày 30 tháng 4:Thánh Giuse Tuân, Linh mục  (1811-1861)

 

Thánh Giuse Tuân là linh mục dòng Đa Minh, sinh năm 1811 tại họ Trần Xá, xứ Cao Xá, tỉnh Hưng Yên. Gia đình sống bằng nghề nông, nhà nghèo. Nhưng lại là một gia đình ngoan đạo. Cha mẹ đạo đức và chú trọng vào việc dạy dỗ giáo dục con cái, nhất và về việc học hỏi về đạo và gia đình đua nhau sống đạo tốt lành. Nhờ tinh thần sốt sắng về đạo của cha mẹ như thế mà cậu Giuse Tuân đã được hấp thụ một nền giáo dục tốt, thấm nhuần chân lý Đức Tin và sau này cậu đã trở thành linh mục thánh thiện, tốt lành.

Sau khi xưng tội và rước lễ lần đầu, cậu Giuse Tuân xin vào Nhà Đức Chúa Trời để học tập và sống đời dâng hiến cho Chúa. Thấy cậu học giỏi và ngoan đạo, Bề trên cho cậu vào Chủng viện học La tinh, triết và Thần học rồi sau khi hoàn tất chương trình học tập thì được thụ phong linh mục làm tông đồ rao giảng Tin Mừng của Chúa giữa thời kỳ đạo Chúa đang bị cấm cách ngặt nghèo, nhiều cuộc bách hại tàn khốc đang diễn ra khắp nơi do lệnh của vua Tự Đức.

Trước tình thế khó khăn và muốn hợp tác tích cực hơn với các linh mục Thừa Sai Dòng Đa Minh trong việc truyền bá Đức Tin, Năm 1857 cha Giuse Tuân xin gia nhập Dòng Đa Minh..Sau một năm tức năm 1858 cha được khấn 3 lời khấn của Dòng rồi cùng với các linh mục Thừa Sai Đa Minh âm thầm lo việc truyền giáo. Trong khi đó, những cuộc bách hại tàn bạo của triều đại vua Tự Đức mỗi ngày một gia tăng khắp nơi, các linh mục, trong đó có cha Giuse Tuân phải lẩn trốn để có thể âm thầm làm việc mục vụ trong hoàn cảnh cực kỳ nguy hiểm này.

Năm 1861 cha Giuse Tuân đang lén lút giúp giáo dân xứ Ngọc Đồng thì có một bà cụ già bệnh nặng, hấp hối gần chết. Bà sai người con trai của bà đi mời cha đến cho bà xưng tội và ban bí tích sau cùng cho bà trước khi chết. Người con trai giáo gian này vì ham tiền và lợi lộc nên đã quyết tâm bí mật đi tố cáo với quan huyện để lấy tiền thưởng. Được mật tin về cha Giuse Tuân, quan huyện vui mừng dẫn lính tới vây bắt và giải cha Giuse Tuân về nộp cho quan Tổng Đốc tỉnh Hưng Yên với hy vọng sẽ được quan Tổng Đốc khen thưởng vàng bạc.

Quan tổng đốc Hưng Yên gặp Cha Giue Tuân thì vui mừng. Quan khuyên dụ cha bước qua Thập Giá để có công báo cáo về triều đình lập công. Quan hỏi cha:

- Ông có phải là đạo trưởng ông?

Cha thẳng thắn trả lời:

- Phải, tôi chính là linh mục Giuse Tuân bị quan quân bắt nộp tôi cho quan tổng đốc đây.

Quan tổng đốc nói tiếp:

- Tôi không muốn ông phải chết. Nhưng đây là lệnh của đức vua. Ông biết là đã có lệnh của đức vua nghiêm cấm không cho rao giảng một thứ “tà đạo” của tây phương. Ai cố tình nghe theo đạo này thì sẽ phải chém đầu. Vậy tôi rất quí trọng và thương mến ông, không muốn ông phải chết. Xin ông hãy bước qua Thập Giá để tôi tha ông về.

- Cám ơn quan lớn. Tôi không thể làm theo ý quan lớn. Đây không phài là một thứ tà đạo như quan lớn nói. Đạo dậy chúng tôi thờ kính Thiên Chúa, là Đấng tạo dựng trời đất cùng muôn vật trên vũ trụ này. Đạo không dậy điều gì sai trái.

Quan tổng đốc nghe cha nói như vậy thì tỏ ra bực mình, lắc đầu không muốn nói chuyện nữa, liền ra lệnh tống giam, để hy vọng ngồi trong nhà tù cha sẽ thay lòng đổi dạ mà bỏ đạo. 

Bị tống giam trong ngục của tỉnh Hưng Yên, cha bị hành hạ, đánh đập, tra tấn, gông cùm xiềng xích đủ cách. Nhưng lòng cương quyết của người tôi trung của Chúa luôn sáng ngời, không hề bị nao núng. Ngài luôn tỏ ra vui mừng và sẵn sàng đón nhận diễm phúc được chết vì Chúa. Chết để làm chứng nhân của Chúa. Cha cảm tạ Chúa vì ở ngay trong tù, cha cũng có dịp giảng giải, khuyên bảo, khích lệ những giáo hữu cũng đang bị giam cầm tù tội với cha hay những người lén lút tới thăm viếng an ủi cha.

Trong thời gian bị giam tù, nhiều lần cha bị giải ra toà để các quan dùng lời ngọt ngào dụ dỗ cha. Có những lần các quan tỏ ra rất nhân từ, khuyên dụ cha. Cũng có rất nhiều lần khác các quan tỏ ra cứng rắn, cho lệnh đánh đập cha rất ác nghiệt rồi lại cho lệnh tống vào ngục.

Cuối cùng thời gian hành hạ tra tấn người chiến sĩ anh dũng của Chúa cũng tới ngày kết thúc. Quan Tổng đốc tỉnh Hưng Yên thấy không khuất phục được lòng tin của cha Giuse Tuân nên đã đệ án trản quyết và vua Tự Đức đã chuẩn y..

Ngày 30 tháng 4 năm 1861, cha đã anh dũng tiến ra pháp trường. Trong hồ sơ phong thánh có ghi lại lời nhân chứng của bà Anna Bình như sau:

- “Tôi đã thấy người tôi tá Chúa là cha Giuse Tuân đi lãnh án tử với thái độ trang nghiêm, dũng cảm và hân hoan. Cha phải bước đi khó khăn, chậm chạp vì hai chân bị xiềng xích nặng nề. Khi tới nơi xử, cha quì gối xuống, kêu tên cực thánh Chúa Giêsu, biểu lộ lòng tin yêu và phó thác, rồi bình thản chờ cái chết. Có nhiều người đã chứng kiến cái chết oai hùng của cha. Tôi đến gần và lấy vải thấm máu cha vừa đổ xuồng”.

Sau 90 năm ngày Ngài vinh thắng về với Chúa, Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn cha lên bậc Chân Phước ngày 29 tháng 4 năm 1951. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng cha lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

 

 Tháng 5:

19. Ngày 1 tháng 5:Thánh Augustinô Schoeffler Đông, Linh mục (1822-1851)

 

Thánh Augustinô Schoeffler Đông sinh ngày 22 tháng 11 năm 1822 tại Mittelbornn, Nancy, tỉnh Lorraine nước Pháp trong một gia đình Công giáo có tiếng là đạo đức. Nhờ nếp sống tốt lành của gia đình nên ngay từ nhỏ ai cũng biết cậu Augustinô Schoeffler là một người con ngoan ngoãn, đạo hạnh, chăm học, siêng năng đọc kinh cầu nguyện và có ý nguyện ước mong đi tu. Cha xứ thấy cậu bé ngoan đạo lại chăm học nên nhận đỡ đầu và gửi cậu vào chủng viện của giáo phận Nancy. Khi học xong triết và thần học thì thầy xin phép cha mẹ để gia nhập Hội Thừa Sai Paris, mong rằng sau này sẽ được gửi đi truyền giáo trong các nước Á Châu. Mặc dù cha mẹ Ngài không muốn và cố ý ngăn cản thầy không gia nhập Hội Thừa Sai Paris, vì lúc ấy ai cũng biết đi truyền giáo tại Á Châu là đi vào hang hùm, hang cọp vô cùng nguy hiểm. Nhưng thầy nghĩ rằng theo Chúa thì phải chấp nhận thử thách, gian lao. Tiếng Chúa kêu mời vẫn mạnh hơn, do đó thầy nhất định xin gia nhập Hội Truyền giáo và dâng phó cuộc đời trong tay Chúa

Ngày 9 tháng 10 năm 1846 thầy chính thức gia nhập Hội Thừa Sai Paris và ngày 29 tháng 3 năm 1847.thì thầy lãnh chức linh mục. Sau đó thì quả là cầu được ước thấy, cha đã được Bề trên sai đi truyền giáo tại Việt Nam. Ngày 18 tháng 11 năm 1847 vị tân linh mục đã từ giã Paris, đi Anvers thuộc nước Bỉ để đáp tầu đi Viễn Đông.  Tầu lênh đênh mất 5 tháng thì tới Hồng Kông. Ngay trên tầu vị linh mục trẻ trung đã bắt đầu làm việc tông đồ. Cha khuyên nhủ mấy anh thủy thủ đã bỏ xưng tội lâu năm, xét mình xưng tội và rưóc lễ. Tới Hồng Kông cha chỉ nghỉ vài ngày rồi lại bằng đường thủy, cha đi thẳng tới Việt Nam. Sau bao ngày mong ước và con đường đi tới Việt Nam quả là cam go vất vả, phải lênh đênh hằng tháng trên đại dương, vượt bao sóng gió hiểm nghèo, nhưng người chiến sĩ của Chúa không hề nao núng. Ngài trông cậy nơi Chúa và xin Chúa dẫn lối đưa đường đi tới Việt Nam, để rao giảng Tin Mừng cho bao người chưa biết Chúa. Sau cùng năm 1848 tầu đã cập bến và theo lệnh bề trên thì nơi Ngài hoạt động sẽ là địa phận Tây Đàng Ngoài, dưới quyền Đức Cha Retord Liêu. Đức Cha vui mừng đón nhận vị linh mục Thừa Sai trẻ tuổi được Chúa sai đến để cộng tác với Ngài. Đức Cha rất quí mến Ngài và giữ Ngài bên cạnh Đức Cha, luôn theo Đức Cha đi kinh lý các nơi để Ngài có dịp học hỏi và biết rõ hơn về tình hình mục vụ trong vùng. Tháng 10 năm 1849 Đức Cha bổ nhiệm Ngài coi sóc xứ Đoài giữa lúc vua Tự Đức bắt đầu cấm đạo.

Ngày 1 tháng 3 năm 1851, sau khi giảng tuần đại phúc Mùa Chay cho xứ Bầu Nọ, Ngài tiếp tục đến giảng tuần đại phúc cho giáo dân Bản Mộ, đi len lỏi trong rừng giữa đường thì bị một người phản giáo, ham tiền báo cho quan.lính bắt Ngài giải về huyên rồi áp giải về tỉnh Sơn Tây. Tại đây Ngài bị đánh đập, bị đeo gông, cùm chân xiềng xích và tra hỏi nhiều lần nhưng trước sau như một, Ngài nhất quyết từ chối mọi lời dụ dỗ và luôn sẵn sàng chịu chết, làm chứng nhân cho Chúa.

Trong thời gian bị tù đày ở đây, Ngài bị hành hạ và tra tấn nhiều lần. Có lần bị tra vấn, quan tỉnh Tây Sơn hỏi cha;

- Ông là người ngoại quốc sang đây có ý gì. Phải chăng là muốn xui giục dân chúng chống lại nhà vua?

Cha thẳng thắn trả lời:

- Tôi tới Việt Nam chỉ có một chủ đích duy nhất là rao

giảng đạo Thiên Chúa cho mọi người, tôi không bao giờ xúc giục dân chúng chống lại nhà vua. Xin các quan nghiêm chỉnh điều tra lại cho chắc chắn.

- Ông đã ở những nơi nào. Ông cứ khai rõ ràng. Tôi sẽ làm tờ báo cáo và sẽ cho ông trở về Âu Châu.

- Tôi đã tới Việt nam từ bốn năm nay. Tôi đã ở nhiều nơi khác nhau và hiện tôi không nhớ tên từng nơi. Tôi vẫn còn muốn đi những nơi mà người ta cần sự hiện diện của tôi.

Cha trình bày rất rõ ràng, thưa hỏi tử tế nên quan đốc tỉnh tỏ vẻ kính trọng rồi lệnh đưa cha về nhà giam. Không tra tấn đánh đập.

Vài ngày sau, quan lại triệu cha ra thẩm vấn và yêu cầu cha bỏ đạo. Người chiến sĩ trẻ trung can trường của Chúa cương quyết từ chối. Quan đốc tỉnh nhìn cha một cách đầy cảm tình rồi hạ giọng ôn tồn nói với cha:

- Này ông, thực tình tôi không muốn kết tội ông. Tôi muốn tha cho ông. Nhưng đây là sắc lệnh của vua, tôi không thể nào làm cách khác được. Vậy tôi hãy nghe tôi chỉ bước lên Thập Giá một lần thôi thì tôi sẽ tha cho ông ngay.

Nghe thấy quan đốc tỉnh nói với tâm tình quí mến, cha cảm động nhưng không thể làm theo đề nghị của quan đốc tỉnh được. Cha thành thật thưa lại:

- Tôi xin cảm ơn lòng tốt về những lời chân thành quan lớn đã dành cho tôi. Tôi biết quan lớn thương tôi nhưng tôi không thể làm theo ý quan lớn mà xúc phạm đến Thiên Chúa được. Xin quan lớn cứ theo lệnh của vua mà thi hành, tôi sẵn sàng chấp nhận chết vì Thiên Chúa tôi thờ.

Trước vẻ cương quyết mạnh mẽ của cha, quan đốc tỉnh Tây Sơn rất buồn không nói gì thêm. Ông soạn sẵn bản án như sau: “Ông Au-du-tinh người Tây Dương, mặc dầu đã biết có luật pháp nghiêm cấm mà còn ngoan cố tới đây vào các làng mạc truyền đạo Gia Tô, lừa dối dân chúng. Đã vậy còn ngoan cố nữa. Theo Sắc Chỉ nhà vua ông sẽ bị trảm quyết, đầu sẽ quăng xuống biển hay buông sông, để làm bài học cho dân chúng đừng chạy theo thứ đạo mới này”.

Sau đó, quan lại truyền giải cha về nhà tù. Từ đây cha bị kiểm soát nghiêm nhặt, không cho người lui tới viếng thăm nữa. Mọi thư từ liên lạc tin tức đều bị cắt đứt.

Lần cuối cùng là ngày 5 tháng 3 bị điệu ra tòa, Ngài vẫn nhắc lại những lời đã nói trước, nhất định không bước lên Thánh Giá, nên quan đốc tỉnh Sơn Tây vô cùng giận dữ ra lệnh cho đánh đập một trận nhừ tử rồi gửi bản án mà quan đã soạn sẵn, nay sửa lại rồi gửi về kinh. Bản án viết như sau: “Tên Au-du-tinh là người Tây Dương dám coi thường luật nước, đến đây giảng đạo, dụ dỗ dân chúng. Chiếu theo sắc chỉ Đức Vua, y phải chịu trảm quyết, bỏ đầu trôi sông. Về những kẻ chứa chấp, thần đã tra hỏi nhưng y không chịu nói. Lý trưởng và những kẻ có công xin theo lời truyền, thưởng 30 lạng bạc. Riêng viên tuần phủ, xin thưởng thêm một số nữa”

Bản án gửi về kinh đô đợi tới ngày 11 tháng 4 năm 1851 vua Tự Đức mới phê chuẩn với những lời lẽ ghi như sau: “ Trẫm đã cứu xét hồ sơ Tây Dương đạo trưởng ở Sơn Tây. Luật nước đã cấm đạo Gia Tô. Thế mà tên Ao-du-tinh vẫn cả gan vào nước ta giảng đạo lừa dối dân. Trẫm truyền trảm quyết, đầu y thì bỏ trôi sông để răn dạy kẻ khác”.

Quan Tổng đốc tỉnh Tây Sơn nhận được án lệnh của vua Tự Đức cho thi hành án lệnh. Ngày 1 tháng 5 năm 1851, chính là ngày đầu tháng Hoa dâng kính Mẹ Maria, tự nhiên quang cảnh nhà tù trở nên nhộn nhịp. Các đội quân chuẩn bị voi, ngựa, lính tráng tập trung, quân phục chỉnh tề, báo hiệu sắp có biến cố gì quan trọng. Cha Schoeffler Đông đoán được biến cố sắp tới, cha vui vẻ, nét mặt tươi tỉnh bước theo toán lính ra cửa phía Bắc, thấy quanh cảnh đã sẵn sàng, cha hiểu là giờ hành quyết cha đã tới. Đoàn quan quân khởi hành, cha vừa đi vừa đọc những bài Thánh Vịnh một cách rất bình thản. Dân chúng đứng xem hai bên đường nói với nhau: “ Ông này thật anh hùng, đi chịu chết mà nét mặt cứ tươi vui bình thản. Con người khôi nhô, đẹp trai lại hiền lành như thế này mà nhà vua đem giết đi thật là đắc tội với Trời. Người Tây Dương còn trẻ đẹp thế này mà đem giết đi thật đáng tiếc”.

Tới pháp trường Sơn Tây, nơi mà 14 năm về trước đã xử cha thánh Gioan Carôlô Cornay Tân, cha Schoeffler Đông vô cùng hân hoan xúc động, quì xuống đọc kinh tạ ơn Chúa và Đức Mẹ đã cho Ngài được đổ máu ra làm chứng đạo Chúa vào đúng ngày đầu tháng Hoa dâng kính Mẹ Maria, Đấng mà Ngài hằng kính mến. Cha cầu nguyện ít phút, hôn kính Thánh Giá vẫn đeo ở cổ rồi tự ý cởi áo xuống tới hai vai, giơ cổ cho lý hình. Cha nói: “Xin anh cứ việc thi hành phận sự”. Trước cử chỉ anh hùng, bình thản đó, khiến anh lý hình hoảng sợ, tay chân run rẩy. Anh phải chém tới nhát thứ ba đầu mới rụng xuống vũng máu. Vì lệnh quan cấm ngặt nên không ai dám vào thấm máu và lấy xác, đội lính chôn cha ngay tại chỗ, còn đầu thì bị buông sông. Sáng hôm sau quan quân giải tán hết, giáo dân mới dám lén lút tới lấy xác rước về an táng trong nhà ông lý Ngọc, người Công giáo trong họ đạo Bách-Lộc.

Ông lý Ngọc là người ngoan đạo nhưng đã từ lâu vẫn buồn phiền vì bệnh tật và không có con nỗi dõi tông đường. Ông đã thành khẩn cầu xin với cha thánh được an táng trong nhà mình. Cha thánh đã nhận lời cầu xin của ông, và như lòng tin tưởng cầu xin, chỉ ít lâu sau ông khỏi mọi bệnh tật và sinh hạ được một người con trai để nối dõi tông đường.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn Ngài lên hàng Chân Phước ngày 27 tháng 5 năm 1900, và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên bậc Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

   

20. Ngày 1 tháng 5:Thánh Gioan Louis Bonnard Hương, Linh Mục. (1824-1852)

Thánh Gioan Louis Bonnard Hương sinh ngày 1 tháng 3 năm 1824 tại Saint Christo-en-Jarret, thuộc giáo phận Lyon nước Pháp. Cậu là con thứ 5 của ông Gabriel Bonnard và bà Anna Bonnier. Gia đình Công giáo thuần thành nổi tiếng là ngoan đạo, tốt lành từ nhiều đời. Nhưng gia đình lại rất nghèo khó, nghèo đến nỗi không có tiền cho con đi học. Từ năm 12 tuổi cậu đã ngỏ ý muốn đi học và mong ước làm linh mục Khi xưng tội rước lễ lần đầu, cậu đã phải đi chăn chiên thuê để lấy tiền may áo mới cho ngày rước lễ lần đầu.

Cha mẹ thấy cậu ngoan ngoãn và có lòng ước mong đi tu thì cố gắng làm việc tối đa, lao động vất vả để có tiền cho con vào nhà trường. Sau đó cậu được gửi vào học tại chủng viện của giáo phận Alix. Măc dầu trí khôn học hành không xuất sắc nhưng về hạnh kiểm và đạo đức thì cậu lại được xếp vào hạng nhất. Tính nết hiền hoà, nhu mi, nhanh nhẹn, thích giúp đỡ mọi người, rất dễ thương mến..Tại chủng viện, cậu được nghe Bề trên và các thầy giáo kể truyện về nhiều tấm gương anh hùng đi truyền giáo tại Á đông, nhất là tại Việt Nam, nên cậu cũng mơ ước có ngày được di truyền giáo theo gương của các bậc đàn anh tại những nơi đó.

Một hôm sau khi cầu nguyện sốt sắng, thầy gặp cha linh hướng của đại chủng viện Lyon, bày tỏ ý nguyện của mình, xin cha linh hướng chỉ dẫn. Cha linh hướng biết ý nguyện chính đáng của thầy thì khuyên thầy viết đơn xin gia nhập Hội Truyền Giáo Paris. Ngày 4 tháng 11 năm 1846, khi ấy thầy Gioan Louis Bonnard đã 22 tuổi viết đơn xin gia nhập và được Bề trên Hội Thừa Sai Paris chấp nhận.

Sau khi nhận, Bề trên cho thầy tiếp tục hoàn tất chương trình triết và thần học, ngày 24 tháng 12 năm 1848, được Bề trên gọi lãnh chức linh mục rồi ngay đầu năm 1849 cha được sai đi truyền giáo tại Việt Nam.

Lúc đầu Bề trên định gửi cha đi truyền giáo tại Ai Lao, nhưng sau Bề trên lại đổi ý, sai cha vào làm việc tại điạ phận Tây Đàng Ngoài. Đức Cha Retord Liêu vui mừng đón nhận cha và đặt tên Việt Nam cho cha là Hương.

Sau một thời gian học hỏi, Đức Cha sai cha coi hai xứ Kẻ Trình và Kẻ Báng Mùa Chay năm 1852, giáo dân Họ Bối Xuyên mời cha về giúp tuần đại phúc.cho giáo dân tại đó. cha do dự vì khi ấy vua Tự Đức đã ra chiếu chỉ cấm đạo gay gắt lắm rồi. Sau vì lời mời tha thiết, cha nhận lời. Ngày 21 tháng 3 năm 1852 tại Bố Xuyên, sau khi dâng lễ, cha ban bí tích Rửa Tội cho một số trẻ em thì thấy lính tráng đến bao vây làng. Cha vội cởi áo lễ, chạy băng qua đồng lúa. Nhưng quân lính đuổi theo, bắt được cha giải về nộp cho quan huyện. Sáng hôm sau quan huyện cho đưa cha lên tỉnh Nam Định. Tại đây cha bị đánh đập và tra khảo bốn lần rất tàn nhẫn. Quan Tổng đốc hỏi lý lịch của cha và lý do đến Việt Nam và đã làm những gì, cư ngụ ở đâu v.v..Tất cả cha chỉ trả lời:

-  Tôi đến đây để phục vụ và rao giảng đạo Thiên Chúa cho đến chết. Các ngài sẽ lầm to nghĩ rằng tôi sẽ khai báo những gì có hại đến các tín hữu. Tôi đã nói tôi không sợ đòn đánh lẫn cái chết. Tôi sẵn sàng chịu tất cả… Tôi không đến đây để chối đạo, hay làm gương xấu cho các Kitô hữu. 

Thấy cha trả lời cứng rắn và thẳng thắn. Quan tổng đốc cho lệnh đưa cha về nhà giam.  Hôm sau quan đốc lại cho lệnh gọi cha tới. Quan tổng đốc khuyên cha vâng lệnh vua bước qua Thập Giá. Quan tổng đốc nói:

- Ông đạp lên Thập Giá này. Nếu ông nghe theo, tôi sẽ trả tự do để ông về Âu Châu quê quán của ông, bằng không ông sẽ ăn đòn đẫm máu và bị xử tử.

Cha bình tĩnh trả lời:

-Bẩm quan tổng đốc, tôi đã tuyên xưng nhiều lần rằng tôi không sợ tra tấn, không sợ chết. Trái lại, tôi sẵn lòng chết vì đạo thánh Chúa tôi. Tôi không thể phạm tội như lời khuyên dụ của quan tổng đốc được.

Trong thời gian bị giam tù, cha Phaolô Lê Bảo Tịnh đã lén lút vào ngục giải tội và đưa Mình Thánh Chúa cho cha rước lễ lần cuối.

Qua 4 lần tra vấn không đạt được kết quả mong muốn, quan tổng đốc tỉnh Nam Định làm bản án đưa cho cha ký. Cha đòi giải thích nội dung cho cha hiểu. Sau cùng các quan yêu cầu cha ghi vào bản án một câu chú giải bằng  Pháp ngữ, đại ý viết rõ tên cá nhân, tên quốc tịch và tư cách linh mục đạo trưởng. Ngày 5 tháng 4 năm 1852 bản án được gửi vào Huế  Ngày 8 tháng 4 cùng năm, cha Bonnard viết một thư gửi cho Đức Cha Retord Liêu  trình bày như sau: “Con đã được phúc chịu Mình Thánh Chúa sau khi đã xưng tội. Đã từ lâu được Chúa vào lòng, con cảm nghiệm một sự vui mừng chưa bao giờ từng thấy. Phải ở trong tù, khi tay chân bị xiềng xích và cổ phải đeo gông, lúc đó mới hiều được sự hiện diện Chúa trong linh hồn êm dịu chừng nào. Được chịu khó một chút cho Đấng đã yêu thương chúng ta quả là một hạnh phúc”.

Trong một lá thư khác gửi cho gia đình, trước ngày chịu tử hình, cha viết cho cha mẹ: “Khi thầy mẹ nhận được thư này, chắc đầu con đã rơi xuống đất vì thanh gươm sắc bén. Con sẽ thành lễ vật hy sinh như Chúa Kitô trên Thập Giá và con hy vọng sẽ được hưởng long nhan Chúa trên Thiên Đàng cùng với các Thánh. Do đó xin thầy mẹ và anh chị em thân yêu hay vui mừng vì hồn con sẽ bay thẳng về côi phúc. Nếu con làm được gì bên toà Chúa, con đoan chắc sẽ không quên thầy mẹ và anh chi em đã thương con và đã nhiều công lao với con. Được chết cho Chúa như thế này quả là một hồng phúc lớn lao. Con vui sướng vì được đeo gông và mang xiềng xích. Hồi xưa còn trẻ, con vẫn ôm hoài bão này. Hôm nay Chúa đã cho nên con hôn kính gông cùm xiềng xích và con hết sức hân hoan vì thấy mình như được gắn huy chương Thiên quốc.

Thưa thầy mẹ, con biết nói gì hơn? Muốn được an ủi thầy mẹ, được lau nước mắt cho thầy mẹ và anh chị em, được bày tỏ hết tâm tình con lần cuối cùng ở trần gian này. Nhưng an ủi nào quí giá cho bằng sự an ủi bắt nguồn từ tử đạo cho Chúa. Nếu đọc những giòng chữ này thầy mẹ và anh chị em thương con, thì xin thầy mẹ và anh chị em hãy đinh ninh rằng: lúc mà thư con tới gia đình thì các hình khổ con rất hiên ngang chịu đựng cũng đã qua rồi và hồn con đã vào bên trong quê hương Nước Trời. Xin thầy mẹ và anh chị em hãy lo phần linh hồn mình, chứ của cải trần gian chỉ là phù du. Chúng ta phải ngửa mặt nhìn lên, vì ở đấy mới chính là nơi chúng ta sẽ gặp nhau vĩnh cửu”.

Bản án gửi về triều đã được vua Tự Đức xem xét kỹ lưỡng và châu phê ngày 30 tháng 4 năm 1853 rồi gửi trả về cho quan tổng đốc tỉnh Nam Định.

Trước ngày cha Bonnard Hương tử đạo, với tư cách là Giám mục, Đức Cha Retord Liêu đã gửi cha lá thư để an ủi cha như sau: “Cha xin tôi chúc lành. Phép lành này tôi đã cho từ ngày cha đặt chân trong giáo phận hôm nay vẫn còn giá trị. Và sẽ theo cha sang cõi trường sinh. Phép lành này tôi đã cho từ hôm đặt cho cha tên Việt Nam “cố Hương”. Hương có nghĩa là quê hương, là hương thơm. Phải, quê hương và cha sẽ là một trong những người sẽ định cư trong đó. Phải, hương thơm đó sắp sửa được đốt cháy trên bàn thờ tử đạo và sẽ toả bốc trước toà Thiên Chúa trường cửu. Hương thơm tuyệt diệu khác nào của Maria Madelena hồi xưa đã thành kính xức cho Chúa. Hương thơm này sẽ thiêu hoá đem lại sự mát dịu cho các Thiên Thần và loài người… Phải, cha thân mến, cha đã được chúc lành, và chúng tôi xin khi nào hưởng phúc Thiên Đàng, lúc đó đến lượt cha sẽ chúc lành cho chúng tôi, chúc lành cho giáo phận và giáo đoàn mà cha đã yêu mến. Cha sẽ là trạng sư, là người bảo trợ chúng tôi còn đang vất vả đi trong thung lũng trần gian và đang chờ ngày cùng với cha chúng tôi sẽ đồng hưởng hoan lạc muôn đời”.

Ngày 1 tháng 5 năm 1852 đúng như án lệnh, cha đã hiên ngang tiến ra pháp trường Bảy Mẫu để đón nhận cái chết tử đạo một cách vui mừng sung sướng. Đến nơi, cha quì trên chiếu cầu nguyện khá lâu. Ba hồi chiêng trống nổi lên, lính chém đầu cha rơi trên cát. Dân chúng xô nhau tới thấm máu. Đầu và thân mình cha bỏ trôi sông. Sau đó giáo hữu lén lút vớt được đưa về an táng tại chủng viện Vĩnh Trị.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong cha lên bậc Chân Phước ngày 27 tháng 5 năm 1900 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

21. Ngày 2 tháng 5:Thánh Giuse Nguyễn Văn Lựu, Trùm Họ  (1790-1854).

Thánh Giuse Nguyễn Văn Lựu sinh năm 1790 tai Cái Nhum, tỉnh Vĩnh Long. Từ nhỏ, Ngài đã được giáo dục trong một gia đình nề nếp, đạo đức. Lớn lên, Ngài lập gia đình với cô Marta Thế người xứ Mặc Bắc và cũng là một trưởng gia đình gương mẫu về lòng đạo đức, sốt sắng và nhiệt thành.. Khi được giũ chức Trùm Chánh xứ đạo, Ngài  nhiệt tình phục vụ, chăm lo mọi việc một cách tận tình nên được mọi người quí mến. Nếu các gia đình trong xứ có điều gì bất hoà, cãi cọ hay kiện cáo nhau, Ngài tìm đến, khôn khéo khuyên giải, phân xử phải trái một cách ôn hoà. Nhờ uy tín sẵn có và lòng đạo đức của Ngài mà mọi người đều chấp nhận, nghe theo cách dễ dàng. Ngài cũng hợp tác với các linh mục trong việc giảng dạy giáo lý, coi sóc thiếu nhi, chăm lo giúp đỡ người nghèo và bệnh tật. Ngài cũng  đặc biệt lưu ý tới việc dọn dẹp bàn thờ trước và sau khi cha dâng lễ. Ngài có nhiều ruộng đất, nên đã dâng cúng  nhiều ruộng đất cho nhà thờ nhà xứ, và đã  xây cất luôn một tu viện cho các nữ tu. Ngài thật là một người Công giáo tốt lành, rộng rãi chia xẻ của cải và giúp đỡ rất nhiều người trong  xứ đạo..

Thời kỳ cấm đạo dưới triều vua Tự Đức rất nghiêm ngặt, nhưng ông Trùm Lựu luôn tin cậy vào Chúa. Ông không sợ hãi, luôn tìm mọi cách để  giúp đỡ các linh mục, tìm chỗ để các linh mục ẩn trốn, để các linh mục vẫn có thể dâng thánh lễ, cử hành các bí tích  một cách âm thầm bí mật cho các tín hữu.

Ngày 26 tháng 2 năm 1853,  quan  quân kéo nhau về Mặc Bắc bắt cha Lựu, vì lúc ấy cha Lựu đi vắng chỉ có cha Phan Văn Minh cũng đang ấn lánh tại nhà ông Trùm Lựu . Vì đã được báo cáo là cha Lựu đang ẩn trốn tại nhà ông Trùm Lựu nên quan quân kéo nhau tới xông vào lục soát, lúc ấy ông Trùm Lựu can đảm đến trước mặt quan và nói:

- “Ở đây không có cha Lựu, nhưng có tôi là Trùm Lựu đây, Lựu chính là tên Trùm Lựu Họ Đạo này”

Quan thấy ông bạo dạn xưng mình là Trùm Lựu nhưng   biết ông không phải là đạo trưởng nên ra lệnh lục soát nhà kỹ hơn. Lúc ấy cha Philipphê Phan Văn Minh đang ẩn trốn trong nhà ông, biết không thoát được nên đã can đảm ra trình diện. Quan nghĩ đó là cha Lựu nên ra lệnh cho quân lính bắt trói cha Minh lại cùng với ông Trùm Lựu và sáu người tín hữu khác giải về tỉnh Vĩnh Long.

Áp giải các Ngài từ Mặc Bắc về Vĩnh Long mất ba ngày đường, tất cả đều mệt nhọc, đói khát. Tới Vĩnh Long, các Ngài phải ra tòa trình diện các quan lớn trong tỉnh. Trước toà, ông Trùm Lựu hiên ngang nhận mình đã đón tiếp và chứa chấp các linh mục trong nhà mình. Các quan hỏi tại sao ông lại cho các đạo trưởng ở trong nhà thì ông thẳng thắn trả lời:

- Cha tôi tới nhà thì tôi đón tiếp cha tôi, đó là lòng hiếu thảo của người Việt Nam chúng ta. Ai mà chả làm như thế.

- Nhưng ông phải biết những ông này là đạo trưởng Đạo Gia Tô, đức vua đã ra lệnh cấm đạo Gia Tô và bắt hết các đạo trưởng  thì ông không được phép chứa chấp.

- Vậy nếu là cha mẹ của các quan lớn thì các quan lớn cũng xua đuổi, không đón tiếp à?

- À, ông này không được cãi lại lời của quan lớn. Một tên lính tát ông và nói như thế.

Ông trùm Lựu nghiêm nét mặt và nói lại:

- Này anh, tôi nói để quan lớn hiểu chứ tôi không cãi lại lời quan lớn. Anh nên cân nhắc đàng hoàng, không được hàm hồ, nghe chưa.

Quan nhìn ông, không hỏi gì thêm rồi các quan bắt cha  Minh 

bước qua Thập Giá, cha Minh cương quyết nhất định không bước qua. Quan bắt ông Trùm Lựu bước qua Thập Giá. Ông cũng nhất quyết không bước qua và mạnh dạn nói”

- Cha tôi chết thì tôi chết theo. Tôi nhất quyết không bước qua tượng ảnh Chúa tôi. Xin các quan đừng bắt ép tôi.

Các quan thấy không thuyết phục được cụ già và thấy cụ trả lời lý sự thì các quan quyết định cho trở về nhà giam.

Trong tù, Ngài bị mang xiềng xích, gông cùm nặng nề, bị tra tấn, chịu đòn vọt nhiều lần, Ngài luôn vui vẻ chấp nhận mọi đau đớn vì đạo Chúa. Lúc nào Ngài vẫn cũng tỏ ra cương quyết giữ vững Đức Tin, dù có phải chết thì Ngài cũng sẵn lòng chấp nhận. Vì tuổi già sức yếu, lại phải đeo gông mang xiềng xích năng và chịu nhiều cực hình đến kiệt sức nên vào khoảng 3 giờ sáng ngày 2 tháng 5 năm 1854, Ngài đã lặng lẽ trút hơi thở cuối cùng, để về Thiên Quốc lãnh nhận triều thiên Tử Đạo trong lúc cổ còn đang đeo gông và hai chân vẫn còn bị cùm trong xà lim..

Buổi sáng hôm ấy, các quan tới khám xét thì thấy Ngài đã tắt thở, nét mặt tươi sáng đẹp đẽ. Các quan cho tháo xiềng xích tay chân Ngài rồi trao xác cho gia đình đem về an táng tại Mặc Bắc. Mặc dù đang trong thời cấm đạo rất khắt khe thế mà lễ an táng Ngài được cử hành rất đặc biệt, có 4 linh mục và tới hai ngàn giáo dân tham dự tiễn đưa chôn táng Ngài trong khu thánh đường xứ Mặc Bắc. Mọi người trong xứ đều mến tiếc ông Trùm đạo hạnh, đầy lòng nhiệt tình phụng vụ Chúa và yêu thương giúp đỡ mọi người trong mọi hoàn cảnh kho khăn, nhất là trong thời kỳ cấm đạo này.

Đức Giáo Hoàng Piô X đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước ngày 2 tháng 5 năm 1809 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên  hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

  

22. Ngày 9 tháng 5:Thánh Giuse Đỗ Quang Hiển, Linh mục (1775-1840)

 

Thánh Giuse Đỗ Quang Hiển sinh quán tại làng Quần Anh Hạ, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định nay thuộc giáo phận Bùi Chu. Ngay từ bé, cậu đã được Đức Cha  Delgado Y nhận cho vào sống trong Nhà Đức Cháa Trời. Đức Cha  cho ăn học xong thần học thì khấn trong dòng Đa Minh ngày 13 tháng 10 năm 1812 rồi lãnh chức linh mục và được gửi đi du học tại Manila, Phi Luật Tân. Trở về Việt Nam, cha Giuse Đỗ Quang Hiển được sai đi giúp mục vụ tại nhiều nơi khác nhau, sau thì được bổ nhiệm về coi xứ Cao Mộc.

Là cha xứ của một giáo xứ lớn, Cha Giuse Đỗ Quang Hiển đã hết lòng lo lắng cho con chiên bổn đạo học hỏi giáo lý, nhất là cổ động cho mọi người yêu mến Chúa Giêsu Thánh Thể và siêng năng lần hạt Mân Côi sáng tối. Cha cũng luôn luôn thúc giục con chiên phải năng xưng tội rước lễ và tham dự thánh lễ hằng ngày. Các ngày thứ Sáu hằng tuần cha ăn chay để đền tội và cầu nguyện cho con chiên bổn đạo trong giáo xứ của cha. Nhiều người đã ca tụng và khen rằng cha có biệt tài khuyên giải những bất hoà, những nghi kỵ giữa người này với người khác cũng như những khó khăn của giáo dân thường xẩy ra trong cuộc sống hằng ngày. Mỗi khi gặp những khó khăn và phải giúp giải quyết những trường hợp như vậy, bao giờ cha cũng khuyên họ đọc kinh Mân Côi và cầu nguyện, rồi sau đó mới ngồi lại với nhau để nghe cha phân giải. Nhờ sự cầu nguyện và sự khôn ngoan Chúa ban mà cha đã rất thành công trong sứ vụ là Cha Xứ. Giáo dân rất thương mến cha, coi cha như người cha trong gia đình.

Khi vua Minh Mạng ra sắc lệnh cấm đạo, cha đã khôn khéo trốn lánh nhiều nơi để có thể tiếp xúc với giáo dân thường xuyên. Năm 1818 cha trở về Đất Vượt làng Quần Anh ẩn ở nhà người em gái tên là Thìn một thời gian ngắn, rồi lại trốn sang nhà bà trùm Hảo ở Hưng Nghĩa không lâu thì bị bại lộ, Cha lại phải bí mật trốn về Trung Thành xã Kiên Lao ở trong hầm nhà bếp của ông Mai văn Mới một thời gian khá lâu,  khoảng 9 tháng thì một hôm có một người tên là đội Nhật ở làng bên cạnh đã bỏ xưng tội rước lễ khá lâu nay bệnh nặng có thể chết nên đã nhờ cậy nhiều người tìm mọi cách liên lạc xin rước cha tới để được xưng tội rước lễ trước khi chết.

Khi biết tin có người bệnh gần chết muốn gặp cha để xưng tội thì cha vui mừng, tìm mọi cách để tới thăm bệnh nhân và giải tội cho bệnh nhân. Ngày 7 tháng 11 năm 1839 cha tìm cách lén lút tới giải tội và xức dầu cho người bệnh nhân này. Không ngờ, một người ngoại giáo phát giác liền tức tốc đi tố cáo với quan tổng đốc tỉnh Nam Định là Trịnh Quang Khanh..Quan tổng đốc cấp tốc cho quân lính tới vây kín làng Trung Thành và đi khám xét từng nhà. Cha Giuse Hiển và chủ nhà là ông Mai Văn Mới nghĩ rằng hầm bí mật này chắc chắn lắm, không có ai biết nên cha cứ bình tĩnh dâng lễ và đọc kinh. Nhưng không ngờ vì đã có người theo dõi biết chỗ ở của cha nên họ đã chỉ điểm  quân lính tới bắt cha ngay trong hầm trú, tịch thu đồ lễ và bắt luôn ông Mai Văn Mới là chủ nhà một cách dễ dàng. Hôm ấy là ngày 20 tháng 12 năm 1839.

Cha bị bắt rồi họ giải cha về Nam Định nộp cho quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh. Quan tra hỏi lý lịch của cha và những nơi cha đã phục vụ rồi bắt bước qua Thập Gía, cha chối, không chịu đạp lên Thập Giá, quan bực tức ra lệnh đánh 40 roi giữa lúc trời mùa đông buốt lạnh. Đánh rồi quan lại truyền lấy nước lạnh đổ từ đầu tới chân., làm cho các vết máu trên người cha càng thêm nhức nhối. Sau đó, quan truyền lệnh đeo gông cùm, xiềng xích tay chân nặng nề rồi tống vào ngục. Trước những khổ hình đau đớn ấy, cha vẫn vui vẻ chấp nhận vì yêu mến Chúa, để làm chứng cho Chúa. Ở trong tù, cha vẫn giảng đạo, dạy giáo lý và Rửa Tội cho một số bạn tù. Những bạn tù không phải là người Công giáo cũng thương mến cha. Thấy cha hiền lành, hay giúp đỡ  những người chung quanh, nhất là thấy cha bị đòn đau đớn, bị tra tấn tàn nhẫn quá sức mà cha vẫn kiên trì chịu đựng, không một lời ca  thán, nên nhiều người muốn cha nói về đạo, về Chúa để họ hiểu biết rồi xin trở lại đạo.

Trong thời gian bị giam tù, rất nhiều lần cha phải đối diện với các quan, đối chất với các quan về đạo và lần nào cha cũng thắng lý lẽ các quan. Có lần ra toà, các quan hỏi cha

- Đạo Gia Tô là đạo của Tây, tại sao ông lại nghe theo họ cách dễ dàng như thế?

- Đạo Gia Tô dạy thờ phượng Thiên Chúa, là Đấng tạo dựng trời đất muôn loài muôn vật. Tây hay ta đều là con người được Thiên Chúa dựng nên. Người Tây thờ phượng Thiên Chúa, người ta cũng thờ phượng Thên Chúa. Thiên Chúa là Thiên Chúa của mọi người Đạo Thiên Chúa, không phải là đạo Tây hay đạo ta. Xin các quan suy nghĩ kỹ mà xem.

- Nhưng lệnh vua đã cấm  truyền đạo Gia Tô. Ông phải vâng lênh vua chứ?

- Vua không có quyền cấm chúng tôi theo đạo Thiên Chúa. Chúng tôi phải vâng lời Thiên Chúa trước khi phải vâng lời vua. Điều gì vua dậy mà trái với Thiên Chúa thì chúng ta không buộc phải theo, vì chúng ta phải vâng lời Thiên Chúa trước đã.

Rất nhiều lần cha bị hành hạ, đánh đập tàn nhẫn, khi thì các quan lại giả tình giả nghĩa nói những lời thân thiện, quí mến, khuyên dụ cha bỏ Đạo, bước lên ảnh tượng. Nhưng với lời khiêm tốn, cha cám ơn các quan và xác quyết rằng dầu có phải chết thì cha cũng vui mừng đón nhận chết, chứ dứt khoát là sẽ không bao giờ cha chối bỏ Thiên Chúa, không bao giờ chà đạp trên Thánh Giá và ảnh tượng Chúa.

Sau cùng, biết rằng không thể thuyết phục được cha quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh đã đệ án tử hình và ngày đầu tháng 5 năm 1840 vua Minh Mạng đã chuẩn y án. Quan Trịnh Quang Khanh đã cho thi hành án lệnh tử hình cha Giuse Đỗ Quang Hiển.

Ngày 9 tháng 5 năm 1840, cha đã phải đeo gông rất nặng theo toán quân đông đảo tiến ra pháp trường. Tới nơi, cha quì xuống sốt sắng cầu nguyện, mắt hướng về Trời, nét mặt tươi sáng như muốn bay bổng về trời. Một tên lý hình vung cao gươm rồi chém đầu cha. Giáo dân đứng chung quanh xô nhau tới lấy vải thấm máu cha, lấy còng tay và những dụng cụ của cha. Xác cha được chôn ngay tại pháp trường. Sau ít tháng thì anh Phêrô Dậu là người trước kia cũng bị bắt vì theo đạo và bị giam chung với cha, anh đã cải táng và đưa về an táng tại Chủng viện Lục Thủy, giáo phận Bùi Chu.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước ngày 27 tháng 5 năm 1900. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã suy tôn Ngài lên hàng HIển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

 

23. Ngày 11 tháng 5:Thánh Matthêu Lê Văn Gẫm, Nhà Buôn (1813-1847)

Thánh Matthêu Lê Văn Gẫm sinh năm 1813 dưới thời vua Gia Long tại làng Long Đại, đất Gò Công, tỉnh Biên Hoà, nay thuộc quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định. Ngài là con đầu lòng và có 4 em trai, một em gái. Nhờ lòng đạo đức và đời sống tốt lành của cha mẹ mà ngay từ nhỏ Ngài đã có tập quán tốt, siêng năng đọc kinh, mau mắn giúp đỡ bạn bè lại hay giúp đỡ mẹ những công việc trong gia đình. Khi lên 15 tuổi Ngài xin vào chủng viện Lái Thiêu để tu học làm linh mục.Nhưng vì hoàn cảnh gia đình, người cha già yếu bị lãng trí, lại đông các em, bà mẹ quá vất vả, nên Ngài phải trở về giúp mẹ lo các việc cho gia đình. Tới tuổi lập gia đình, Ngài đã kết hôn với một thiếu nữ ngoan đạo ở Họ Thành, làng Long Điền, Bà Riạ, nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai. Sau khi cưới, Ngài về ở làng quê của vợ..Gia đình sống hạnh phúc trên thuận dưới hoà, được mọi người thương mến. Ngài sinh được bốn người con. Người con trưởng và con út qua đời vì bệnh. Người con thứ hai đứng ra ngăn cản việc đốt nhà thờ Cầu Ngang nên bị đánh chết. Người con thứ ba cũng bị bắt vì đạo và bị chết cháy trong nhà tù cùng với nhiều người khác tại Bà Rịa ngày 7 tháng 1 năm 1862. Trong gia đình Ngài đã có hai người con tử đạo chứng tỏ cho ta thấy về đường lối giáo dục Đức Tin của gia đình Ngài rất vững chắc.

Để nuôi sống gia đình, Ngài làm nghề buôn bán nay đây mai đó, thường phải xa nhà. Do đó đã có lần Ngài yếu đuối bị sa ngã, lén lút yêu thương ngang trái với một cô thiếu nữ. Một thời gian bị lương tam cắn rứt, Ngài nghĩ lại, ăn năn thống hối, cương quyết dứt  khoát từ bỏ mối tình ngang trái này. Để đền bù vì tội lỗi cũ, Ngài đã tỏ ra yêu thương vợ nhiều hơn, chăm chú săn sóc yêu thương và tận tình giáo dục con cái hơn, cố gắng chu toàn bổn phận làm chồng, làm cha và nêu gương đời sống đạo đức hơn, nhất là đối với Chúa, Ngài lại càng sốt sắng đọc kinh cầu nguyện, và luôn nhắc nhủ vợ con phải siêng năng đọc kinh cầu nguyện mỗi ngày...

Vì Ngài có thuyền riêng và rành nghề biển, lại nhiệt tâm phục vụ việc đạo, nên được cha Lợi, quản lý Nhà Chung Bà Rịa tín nhiệm trao cho công tác đưa thuyền vượt biển sang Singapour gọi là Hạ Châu ở  Tân Gia Ba và Pénăng ở Mã Lai đón các nhà Truyền Giáo và đưa rước các chủng sinh đi du học về. Một lần kia, hôm ấy là ngày 23 tháng 5 năm 1846, vâng lời cha quản lý Nhà Chung Bà Rịa, Ngài đưa thuyền sang Singapour đón Đức Cha Đa Minh Lefébre  Nghĩa. Khi thuyền nhổ neo rời bến Singapour về Saigòn thì gặp trở ngại. Trên thuyền có Đức Cha Lefebre Nghĩa, cha Duclos Lộ cùng 5 chủng sinh và các đồ đạo. Thuyền đi được một quãng thì bị gió bão và bọn cướp biển rượt theo nên thuyền không thể đi đúng hẹn như đã tính toán và xếp đặt trước; do đó bị lỡ hẹn. Bị lênh đênh trên biển cả mãi tới ngày 6 tháng 6 thuyền mới vào tới cửa Cần Giờ. Theo như sự xếp đặt trước, thì ông trùm Huy họ Chợ Quán phải có mặt để đón Đức Cha. Ông đã chờ đợi ỏ đó 6 ngày rồi mà không thấy có tin tức gì, ông bèn giả bộ đi lượm củi rồi trở về.

Về tới nơi, ông chủ thuyền Lê Văn Gẫm biết đang bị theo dõi sát nút nên đã  khôn ngoan cho thuyền chờ thêm hai ngày nữa mới cập bến. Chờ mãi mà không thấy ai ra đón, Ngài quyết định cho thuyền vào bến Saigòn. Thuyền đã đi qua được một đồn canh thì không may lại gặp chiếc thuyền đi tuần tiễu chặn lại, Ngài nhanh trí hối lộ cho bọn lính 10 nén bạc, bọn lính vui vẻ nhận. Nhưng sau đó vì bị lộ nên bọn lính quay lại trả tiền rồi áp tải thuyền của ông Lê Văn Gẫm về Bến Nghé.

Tới Bến Nghé, họ bắt Đức Cha Lefèbre Nghĩa và cha Duclos Lộ về giam ở Công Quán. Cha Lộ chết rũ tù ngày 17 tháng 7 năm 1846. Đức Cha Lefèbre Nghĩa  thì họ giải về kinh đô Phú Xuân, vua Thiệu Trị ra án xử trảm, sau vua nghĩ lại, đổi thành án trục xuất về  Singapour, còn những người Việt Nam khác trên thuyền đều bị bắt giải về nhà giam Saigòn. Nhưng chỉ một mình ông Lê Văn Gẫm bị trói và đeo gông vì đã tự nhận là người chủ  thuyền đi đón  Đức Cha và những người trên thuyền.

Bị giam trong ngục ít ngày thì Ngài bị dẫn ra trước mặt các quan để lấy khẩu cung, bị đánh đau đớn và bắt Ngài bước qua Thập Giá. Dù bị đánh đập và làm khổ nhục, Ngài  vẫn hiên ngang chịu đựng, nhất định không chịu bỏ đạo và bước lên ảnh tượng Chúa Trong thời gian bị giam 7 tháng trong tù, cha Thán cải trang vào thăm, giải tội và đưa Minh Thánh Chúa 3 lần, cha Phan Văn Minh sau này cũng được phúc tử vì đạo, cũng vào thăm, an ủi và khích lệ. Các tín hữu Thị Nghè, Chợ Quán, An Nhơn, Họ Lăng Chí Hoà cũng rủ nhau tới viếng thăm người chiến sĩ đồng đạo. Thân phụ Ngài và người em kế là Phaolô Bằng vì liên hệ cũng bị bắt, còn bà mẹ thì cũng phải trốn lén lút và cũng đã tìm đường vào thăm Ngài được một lần. Được gặp gỡ những người thân yêu, Ngài luôn tỏ ra vui vẻ, hiên ngang, tin cậy vào Chúa chứ không hề tỏ ra sợ hãi đòn vọt, tra tấn và ngay cả sự chết.

Trước sự cương quyết và lòng tin sắt đá của Ngài, vua Thiệu Trị phê án tử hình cho Ngài. Ngày 11 tháng 5 năm 1847 Ngài được đưa tới pháp trường Da Còm, nay là xứ Chợ Đũi. Được tin, rất nhiều giáo dân cũng như những người lương kéo nhau tới để chứng kiến cái chết anh dũng của người chiến sĩ Chúa Kitô. Trong số người hiện diện có ba người em của Ngài là Tôma Trọng, Phaolô Bằng, Anê Nguyện. Ông trùm Phước và ông Phaolô Bằng phải vất vả xô đẩy đám đông để cha Thán đến gần giải tội lần cuối cùng cho Ngài.

Khi nghe tiếng chiêng tiếng trống vang lên, và thấy những tiếng gào thét thương tiếc của đám đông chung quanh, tên lý hình không giữ được bình tĩnh nên phải chém tới ba lần, đầu vị tử đạo mới lìa khỏi cổ. Đầu vừa rơi xuống đất thì ba người em và những người tín hữu đã nhanh nhẹn xô vào thấm máu, lấy khăn bọc đầu Ngài rồi đặt xác và đầu Ngài lên chiếc võng, khiêng về an táng tại nhà thờ Chợ Quán. Cha Thán làm lễ an táng còn ông trùm Phước thì mua được xiềng xích, và tấm thẻ trao cho cha Miche.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong Ngài lên bặc Chân Phước ngày 27 tháng 5 năm 1900 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988

Thánh Mathêu Lê Văn Gẫm

Áo dài gấm thắt khăn xanh

Bảng ghi thật rõ tội danh lính cầm

Hãy rao to chớ nói thầm

Rao cho thật đúng, đừng lầm đừng sai

Người mang áo gấm là ai?

Chính Lê văn Gẫm là người như ta

Lời trên thánh Gẫm nói ra

Thẻ ghi Lê Bối đạo tà Gia Tô

Hạ Châu đến Sanh Ga Po (Singapore)

Mã Lai đón đạo trưởng vô nước nhà

Chánh quyền bắt được không tha

Không nghe quá khoá lệnh ra chém đầu

Bị tra Lê Gẫm xưng tâu:

Xưng tên là Bửu quan mau đổi liền

Đổi ngay thành Bối đặt tên

Hai danh Bửu Bối nói lên ý lòng

Hiên ngang tiến giữa đám đông

Ý Ngài lưu lại một dòng máu thiêng

Mai sau rõi bước trung kiên

Theo Cha đừng sợ xích xiềng gươm đao

Nếu cần phải đổ máu đào

Xác tan hồn sẽ được vào Thiên Cung

Gia đình Công giáo đạo dòng

Ngụ làng Long Đại Gò Công Biên Hoà (Trương Hoàng)

 

24. Ngày 22 tháng 5:Thánh Laurensô Ngôn, Giáo dân ( 1840-1862)

 

Thánh Luarensô Ngôn sinh năm 1840 tại giáo xứ Lục Thủy, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, một giáo xứ đã có từ lâu đời của giáo phận Trung, nay là giáo phận Bùi Chu. Cha mẹ Ngài là người Công giáo gương mẫu. Từ nhỏ sống trong gia đình đạo hạnh, lớn lên Ngài lập gia đình với một thiếu nữ Công giáo cùng xứ và là một gia trưởng tốt lành, thương vợ thương con, trung thành với đạo Chúa.

Để nuôi sống gia đình, Ngài làm nghề nông, trồng cấy chăm chỉ như bao người giáo dân trong làng, suốt ngày chỉ biết an vui với ruộng vườn tươi tốt.

Một hôm Ngài đã bị tố cáo là theo đạo Kitô nên đã bị bắt. Nhưng vì thương vợ thương con còn bé dại nên Ngài đã đưa tiền chuộc cho quan để không phải bước qua Thánh Giá và được tự do về với gia đình.

Nhưng sống trong cảnh yên ổn chẳng được bao lâu, tới thời kỳ vua Tự Đức ra lệnh phân sáp khốc liệt bắt mọi người theo đạo Gia-Tô phải bước qua Thánh Giá. Nhiều ngườ tín hữu vì khiếp sợ đã phải miễn cưỡng làm theo Nhưng người tín hữu nông dân trung kiên này cương quyết không chịu bước qua Thánh Giá. Quan nóng giận ra lệnh bắt trói giải về Phủ Xuân Trưòng, tỉnh Nam Định Trong thời gian bị giam tù, Ngài lo lắng cho gia đình vì sợ hãi rồi bỏ đạo nên Ngài đã trốn về nhà để trấn an và khuyến khích cha mẹ, anh em và vợ con hãy bền chí, trung thành với Chúa, rồi Ngài lại trở về nhà giam. Biết được sự việc đã xẩy ra, quan ra lệnh đóng gông, xiềng xích lại và giải Ngài tới nhà tù An Xá, huyện Đông Quan. Tại đây, Ngài bị đòn vọt, tra tấn, làm khổ nhục ghê sợ. Nhưng Ngài vẫn can đảm, vững vàng trong Đức Tin. Ngài ăn chay mỗi tuần 3 ngày để đền bù về các tội trước kia Ngài đã làm mất lòng Chúa và cầu nguyện cho mọi người trong gia đình bên tâm vững chí trung thành với đạo thánh Chúa..

Một hôm Ngài bị điệu ra toà, các quan khuyên dụ:

- Anh là người nhà quê, ít học nên dễ bị lừa đảo. Đạo Gia Tô là tà đạo nên vua mới ra lệnh cấm, vua sợ nhiều người bị cám dỗ làm lạc. Vậy anh hãy tuân lệnh vua buớc qua Thập Giá thì ta sẽ cho anh về với vợ con, làm ăn..

- Bẩm quan lớn! Đạo Gia Tô dạy thờ phượng Thiên Chúa là đạo thật, sao quan lớn lại nói là tà đạo?Thiên Chúa là Đấng tạo dựng trời đất muôn vật, Ngài là Thiên Chúa thật. Thờ phượng Ngài như cha mẹ mình thì là đạo thật chứ?

- Nhưng vua truyền cấm và những người theo đạo Gia Tô phải bước qua Thập Giá. Lệnh của vua, anh phải tuân theo.

- Tôi sẵn lòng tuân theo lệnh vua. Nhưng chỉ tuân theo những điều phải lẽ. Lệnh cấm theo đạo Gia Tô và không được thờ phượng Thiên Chúa là Đấng tạo dựng trời đầt muôn vật thì ngàn lần tôi cũng không thể theo lệnh vua được. Dầu có phải chém đầu thì tôi cũng xin vui lòng chịu chém, còn việc bỏ đạo thì dứt khoát là không.

- À! Anh nông dân nhà quê này mà cũng lý sự, cứng lòng không nghe lời khuyên dụ của Ta. Thật là đáng tội, đáng chết.

- Vâng, xin quan lớn soi xét. Nếu quan lớn thương mà tha cho tôi về với gia đình, vợ con thì tôi muôn vàn đội ơn quan lớn. Bằng không thì xin quan lớn cứ thi hành mệnh lệnh của vua. Tôi xin sẵn sằng chịu chết vì dđ5o thánh Chúa tôi.

Quan thấy một anh nhà quê làm ruộng mà đối đáp thắng thắn, lý luận vững vàngclạị ăn nói lễ phép thì tỏ vẻ suy nghĩ rồi ra lệnh cho lính trả về nhà tù.

Lần sau cùng bị đem ra tra vấn, quan lại bắt Ngài bước lên ảnh tượng Chúa thì Ngài đã kính cẩn quì xuống cung kính thờ lạy và hôn Thánh Giá. Thái độ hiên ngang, trung kiên đó lại làm cho quan bực tức, quan liền cho lệnh đánh đòn nát da nát thịt và tuyên án chém đầu.

Sau tám tháng rưỡi tù tội đầy ải, chịu đòn vọt, tra tấn nhục nhã, ngày 22 tháng 5 năm 1862 Ngài đã hiên ngang theo đoàn quân hùng hậu tiến ra pháp trường An Triêm, Nam Định, nhận cái chết để lãnh triều thiên tử đạo trước sự chứng kiến anh dũng của mẹ và người vợ thân yêu , ngày 22 tháng 5 năm 1862. Trước khi bị chém đầu, Ngài quay về phía mẹ và vợ đứng chứng kiến, giơ tay cúi đầu chào giã biệt rồi quì xuống đất cầu nguyện ít phút và đưa cổ cho lý hình chém để lãnh nhận triều thiên tử đạo vinh quang.

Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước ngày 29 tháng 4 năm 1951 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Thánh Laurensô Ngôn

Lệnh đem trở lại nhà giam

Ít lâu tái diễn việc này trước đây

Bắt ông quá khoá lần này

Thánh Ngôn quì xuống hai tay nhẹ nhàng

Nâng hôn Thánh Giá, trổi vang:

Con tôn thờ Chúa Thiên Đàng quyên uy

Chúa ơi! Lạy Chúa chớ vì

Nghe theo người thế đạp đi trên Ngài

Quan rằng: thôi chẳng một hai

Ngươi không tuân lệnh ngày mai tử hình

Chém đầu một kiếp nhân sinh

Vì tôn thờ Chúa Thiên Đàng toàn năng

Phía ngoài An Xá tên làng

Hăm lăm ngày ấy bàng hoàng bi ai

Tháng năm một tám sáu hai

Xa lìa trần thế ngự ngai thiên tòa

Vào ngày trảm quyết diễn ra

Bà Ngôn là vợ, mẹ là bà Thoa

Chứng nhân suối lệ tuôn trào

Khổ đau, nhưng lại tự hào mừng vui (Trương Hoàng)

 

25. Ngày 22 tháng 5:Thánh Micae Hồ Đình Hy, Quan Thái Bộc (1808-1857)

 

Thánh Micae Hồ Đình Hy sinh năm 1808 trong một gia đình quan lại và đạo đức, tại Nhu Lâm, tỉnh Thừa Thiên, Huế. Ngài là người con thứ 12 trong gia đình và cũng là cậu út ngoan ngoãn. Ngay từ nhỏ, Ngài đã tỏ ra có nhiều điểm đặc biệt về trí thông minh và lòng đạo đức. Khi chưa đủ 19 tuổi Ngài đã được cất nhắc lên làm Thư Lại Cửu Phẩm Hộ Công. Năm 20 tuổi, Ngài kết hôn với cô Lucia Tân người làng Sơn Công, rồi sinh được 5 người con.

Người con cả đi tu, được gửi sang du học tại Pénăng Mã Lai, rồi lãnh chức linh mục, tên là cha Hồ Đình Thịnh.Vì quan Hồ Đình Hy làm việc giỏi lại có đức độ, liêm khiết nên Ngài được thăng chức Tham Tá, hàm Lục Phẩm  rồi tới chức Thái Bộc, hàm Tam Phẩm dưới triều vua Tự Đức. Uy tín Ngài càng ngày càng tăng, được vua tín cẩn. Thấy vậy, một số quan lại sinh lòng ghen tương, dèm pha xin truất chức quan Hồ Đình Hy thì vua Tự Đức nói: “Không thể truất nhiệm quan Hồ Đình Hy được, vì ông đã chu toàn trách nhiệm theo lương tâm. Ta chưa có gì để phải khiển trách ông ta. Có lẽ ta sẽ tăng lương cho xứng với công việc của ông ấy nữa là khác”.

Làm quan trong triều, khi thấy vua bách hại đạo, quan Thái Bộc Hồ Đình Hy không tỏ ra mình là người theo đạo Gia-Tô. Trong nhà Ngài đặt bàn thờ Chúa nơi trang trọng, hằng ngày có hoa nến. Nhưng vì làm việc chung với các quan lại khác nên Ngài bị ảnh hưởng xấu và có nhiều tật bê bối. Ngài quan hệ bất chính với một thiếu nữ trẻ, sinh được ba người con ngoại hôn. Sau Ngài đã chấm dứt cuộc tình ngang trái này và đền bù bằng cách nhận 3 người con này về nuôi dưỡng và Rửa Tội cho chúng. Đồng thời Ngài đã cố gắng làm nhiều việc lành phúc đức để đền bù tội lỗi của mình. Ngài tâm sự với bạn hữu rằng tội Ngài nặng lắm nên phải tìm mọi cơ hội để giúp đỡ những người nghèo khó cùng khốn, cô thân cô thế, nuôi dưỡng những trẻ mồ côi, giúp đỡ địa phận nhiều tiền của và công sức một cách rất rộng rãi để đền bù tội lỗi và xin Chúa tha thứ hết các tội lỗi.

Biết quan Thái Bộc Hồ Đình Hy là người đạo đức, giầu lòng bác ái nên Đức Cha Pellirin Phan coi sóc địa phận Đông Đàng Trong rất tin tưởng, tín nhiệm đặt Ngài làm trùm xứ Đạo và trao cho Ngài việc giúp đỡ các Thầy Giảng đang làm việc ở tỉnh Thừa Thiên cũng như việc trông coi các cơ sở của địa phận và Ngài đã chu toàn nhiệm vụ một cách rất đáng khen.

Đến cuối năm 1856, một số các vị quan vốn ghen ghét Ngài vì thường bị Ngài ngăn chặn trong những việc bất chính, do đó đã âm mưu dâng sớ tâu vua, tố cáo Ngài về nhiều chuyện bịa đặt như việc liên hệ với Tây âm mưu làm loạn, nào là việc Ngài theo đạo Gia Tô trái lệnh nghiêm cấm của vua. Vua Tự Đức đang nghi ngờ và ghét Đạo, nên dù quí mến Ngài thì cũng ra lệnh cách chức và bắt Ngài. Vua bắt Ngài nhận tội và bước qua Thánh Giá, Ngài bị tran tấn rất đau đớn nhưng Ngài nhất định không bước qua Thánh Giá và không tố cáo nơi Đức Giám mục cũng như các linh mục Thừa Sai đang ẩn trú. Có lần chính vua Tự Đức xét xử và vì thương mến, vua khuyên dụ Ngài nghĩ lại, ít là bước qua Thánh Giá thì vua sẽ tha và phục hồi chức tước cho Ngài. Nhưng với thái độ khiêm tốn và dứt khoát Ngài thưa: “Tâu bệ hạ, đã 30 năm làm việc dưới triều vua, lúc nào hạ thần cũng hết lòng yêu nước và là tôi trung Hạ thần cam chịu mọi cực hình để đền bù tội lỗi và được nên giống Chúa Giêsu. Hạ thần xin sẵn sàng lãnh nhận cái chết vì Đức Tin. Hạ thần xin đội ơn vua”.

Thấy sự cương quyết của Ngài, vua Tự Đức không hy vọng có thể thuyết phục được Ngài bỏ đạo nên ngày 30 tháng 4 năm 1857 vua kết án như sau: “ Khinh luật nước, theo tả đạo, lại gửi con đi Singapour liên lạc với các đạo trưởng nước Pháp, chứng tỏ Hồ Đình Hy hai lòng. Nay Ta truyền phải chém đầu làm gương”.

Thế là một số quan trong tirều đình vốn có lòng ghen tị với Ngài vui mừng hớn hở vì đã loại được địch thủ của mình. Về phần thánh Micae Hồ Đình Hy thì vui mừng tạ ơn Chúa vì Chúa đã thương ban cho Ngài được vinh dự đổ máu mình ra để làm chứng cho Tin Mừng của Chúa.

Sáng ngày 22 tháng 5 năm 1857 Ngài bị đem ra pháp trường An Hoà, có nhiều người lương giáo đi theo rất đông. Nhiều người khóc lớn tiếng la lên: “Chúng tôi thương tiếc vị quan thanh liêm đã thương giúp chúng tôi rất nhiều. Chúng tôi xin ghi ơn Ngài”. Tới pháp trường quân lính cũng trọng kính vì Ngài là vị quan nổi tiếng nên đã để Ngài ung dung rửa chân tay, rồi cho ngồi trên chíếc chiếu đã trải sẵn, bình tĩnh hút một điếu thuốc cuối cùng. Sau đó đứng lên sửa soạn lại đầu tóc, quần áo rồi quì xuống sốt sắng cầu nguyện, trong  khi đó có hai linh mục Việt Nam đứng chen lẩn trong đám đông giơ tay làm dấu Thánh Giá tha tội cho Ngài. Ngài vui mừng tươi cười, và rất bình tĩnh, hiên ngang đưa cổ cho lý hình thi hành bổn phận một cách lúng túng và run sợ.

Đức Giáo Hoàng Piô X đã long trọng phong Ngài là Chân Phước ngày 2 tháng 5 năm 1909 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong Hiển Thánh Tử Đạo cho Ngài ngày 19 tháng 6 năm 1988.

 

 

26. Ngày 25 tháng 5:Thánh Phêrô Đoàn Văn Vân, Thầy Giảng (1780-1857)

 

Thánh Phêrô Đoàn Văn Vân sinh năm 1780 tại làng Kẻ Bói, xứ Kẻ Sông, tỉnh Hà Nam. Khi còn nhỏ Ngài ở với cha Thi vừa học vừa giúp việc trong Nhà Chung. Sau  một thời gian thì được gửi về nhà trường học La tinh và các môn về đạo đức. Tới năm 25 tuổi thì Ngài trở thành Thầy Giảng, được sai đi giúp các xứ đạo, sau cùng thì được gọi về giúp xứ Bầu Nọ, tức làng Nỗ Lực bây giờ. Về Bầu Nọ Ngài được trao phó cho  việc quản lý Nhà Chung và lo giúp các việc truyền giáo, luôn đi sát với các linh mục. Ngài được nổi tiếng là đạo đức, sống nghèo khó, và nghiệm ngặt với chính mình nhưng lại rộng rãi dễ thương với những người khác. Ngài chăm lo chu toàn công việc của một Thầy Giảng như thăm viếng các bệnh nhân, an ủi, khuyên bảo và nâng đỡ tinh thần lúc bệnh nhân phải chịu đau đớn vì bệnh tật. Nhất là lúc bệnh nhân gần giờ hấp hối. Thầy sốt sắng lo dàn xếp những vụ xô xát bất hoà của các gia đình và xóm đạo. Thầy giảng dậy giáo lý cho những người tân tòng, phân phát bố thí gạo thóc cho những gia đình túng thiếu. Giáo dân ai ai cũng thương mến Thầy. Người dân trong xứ mỗi khi muốn khen tặng ai, người ta thường nói:“Nhân đức như thầy Giảng Vân vậy”.

Trong làng Bầu Nọ khi ấy có hai chức sắc tên là lý Tương ngoại giáo và một người Công giáo tên Hướng lấy tiền thuế dân nộp đem đi đánh bạc thua  hết. Hai người dẫn nhau tới xin vay thóc Nhà Chung để nộp thuế cho quan. Ngài  từ chối vì tội đánh bạc nên không cho vay. Thế là từ đó hai người này sinh lòng oán ghét Ngài. Để trả thù, họ đi tố cáo với quan phủ Lâm Thao là “làng Bầu Nọ có đạo trưởng và đạo quản. Quan phủ Lâm Thao liền cho quân đến vây làng nhưng không bắt được ai. Mấy ngày sau hai ông Tương và Hướng đón đường bắt được thầy Giảng Đoàn Văn Vân trói lại rồi giải về nộp cho quan phủ Lâm Thao, tố cáo Thầy Giảng Đoàn Văn Vân là đạo trưởng đang lén lút giảng đạo vùng đất này. Khi bị bắt Thầy đã 77 tuổi.

Mấy ngày sau khi bị bắt, Ngài phải ra hầu toà trước mặt quan, quan thấy Ngài quá già yếu nên không đánh đập, quan chỉ hỏi:

- Ông có phải là đạo trưởng không

Thầy khiêm tốn trả lời:

- Tôi không phải là đạo trưởng. Nhưng tôi không bao giờ bỏ đạo, không bao giờ bước lên ảnh tượng Chúa tôi.

-  Ông nói dối! Ông già và đã tu nhiều năm rồi. Nếu ông không phải là đạo trưởng thì tại sao ông lại giảng tà đạo Gia Tô?

- Tôi không phải là đạo trưởng nhưng tôi vẫn giảnh đạo Chúa tôi thờ. Đạo Gia Tô dạy thờ kính Thiên Chúa, không phải là tà đạo như quan nói.

Mâc dầu Thầy đã giải thích và trình bày rõ ràng nhưng quan vẫn không tin vì quan nghe nói đi tu từ nhỏ, tới nay đã 77 tuổi rồi mà sao lại không phải là đạo trưởng. Quan cố ý buộc cho là đạo trưởng để quan có công lớn hơn với triều đình.

Thấy Thầy đã già yếu nên quan không cho lệnh tra tấn, đánh đập như những người khác. Quan ra lệnh đưa về nhà giam.

Sau bốn tháng giam giữ tại Phủ, giáo dân sợ hãi không ai dám tới thăm nuôi, chỉ có cha Nghiêm lén vào được hai lần để giải tội và an ủi thầy và một lần khác ông Lê Văn Giáp lén vào đưa  Mình Thánh Chúa cho thầy. Trong nhà tù vì quá già yếu nên không bị đánh đập nhiều nhưng đói khát và  rất khổ sở vì ruồi muỗi, bọ rệp. Nhiều lần thầy bị tra vấn, bị bọn canh tù hành hạ và qua nhiều lần các quan ép buộc bước qua Thánh Giá, nhưng với thái độ cương quyết thầy đều không chịu.

Thấy khuyên dụ không thành, quan phủ Lâm Thao làm án rồi cho giải về tỉnh Sơn Tây. Để tâng công với vua, quan phủ Lâm Thao làm án như sau “Tên phạm Đoàn Văn Vân là Gia Tô đạo trưởng. Nó quyết chí thà chết hơn là bỏ đạo. Vì thế nó phải chém đầu”.. Vua châu phê y án,  gửi trả về để thi hành án lệnh cấp tốc.

Ngày 25 tháng 5 năm 1857 đoàn quân lính đông đảo kéo nhau trên đường ra pháp trường. Dân chúng vì thương mến Thầy nên kéo nhau đi theo để chứng kiến cái chết anh dũng của Thầy Giảng Phêrô Đoàn Văn Vân rất đông. Trên đường đi tới nơi xử người ta chứng kiến có một ông già 77 tuổi, nét mặt tươi vui bình thản, yếu sức, đeo gông ngã lên ngã xuống, một tên lính phải quàng giây vào cổ ông già tử tội kéo đi, trông vô cùng thê thảm. Tới pháp trường Ngài quì xuống chiếc chiếu sốt sắng cầu nguyện rồi đưa cổ cho lý hình chém. Tên lý hình vung  gươm lên tay run run chém một nhát chưa đứt nên phải chém nhát thứ hai đầu rơi xuống đất rồi lấy đầu tung lên cao cho mọi người thấy. Dân chúng xô tới lấy vải thấm máu và cuốn xác Ngài. Giáo dân làng Bách Lộc an táng người chiến sĩ Đức Tin ngay tại pháp trường, lấy một viên đá chôn làm dấu. Sau này khi tình thế đã lắng dịu, ông Tam và ông Mão cải táng chuyển thi hài Ngài về đặt tại nhà thờ Bách Lộc.

Ngày 2 tháng 5 năm 1909, Đức Giáo Hoàng Piô X đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn vinh Ngài lên hàng HIển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988. 

 

 

27. Ngày 26 tháng 5:Thánh Gioan Đoàn Thanh Hoan, Linh mục (1798-1861)

 

Thánh Gioan Đoàn Thanh Hoan sinh tại làng Kim Long, huyện Huơng Trà tỉnh Thừa Thiên, thuộc giáo phận Huế. Cha Ngài là ông  Bartôlômêô Sương và  mẹ là bà Isave Diễm. Cả hai đều là người đạo đức, giáo dục con cái về Đức Tin rất nghiêm túc . Gia đình có 5 người con: 3 trai 2 gái, Ngài là con thứ tư. Hai người con gái đi tu trong Dòng Mến Thánh Giá, hai người anh trai tên là Cung và Chiên sau này cũng bị bắt giam trong ngục tù, đeo gông cùm, bị ánh đập và chết trong tù.

Nhờ sự giáo dục đạo hạnh của gia đình nên ngay từ nhỏ Ngài đã ước ao được dâng mình cho Chúa trong đời sống tu trì. Lúc đầu Ngài ở với cậu tên là linh mục Gioan Kiệt để học tập chữ nghĩa và đời sống tu, sau Ngài được Bề trên gửi đi du học tại Pénăng Mã Lai do Hội Thừa Sai Paris phụ trách. Năm 1836 Ngài hoàn tất chương trình học vấn và được lệnh trở về nước giúp các Đức Cha  Taberd và Đức Cha Cuénot rồi lãnh chức linh mục tại Saigòn giữa lúc tình thế cấm đạo do lệnh vua Minh Mạng đang gay gắt. Sau đó trở về quê hương phục vụ trong giáo phận Huế. Ngài lần lượt được sai đi coi họ Kẻ Sen Quảng Bình rồi họ Bãi Trời Quảng Trị. Khi tình thế mỗi ngày trở nên khó khăn hơn, Đức Cha gọi Ngài về giúp dân Thừa Thiên nhưng lại bị tố cáo nên Ngài phải ra Quảng Tri, rồi Hương Mỹ Quảng Bình là nơi cuối cùng khi Ngài bị bắt.

Hôm ấy nhân dịp lễ Hiển Linh, Ngài tới họ Sáo Bùn, Mỹ Hội, trọ nhà ông Trùm Phượng để giải tội và dâng lễ cho giáo dân thì bị một người ngoại giáo biết, bí mật tố cáo với quan án Đồng Hới. nên quan cho lệnh quân đến bao vây truy bắt. Biết tin, Ngài vội chạy trốn ra bờ sông thì không may lại gặp một toán quân đi tới. họ bắt được Ngài, trói và bắt đeo gông giải về Đồng Hới.

Trước toà án, quan tra hỏi thì Ngài trả lời: “Tôi là đạo trưởng 64 tuổi, sinh tại Thừa Thiên. Tôi sẵn sàng chịu chết chứ không theo lệnh vua bước qua Thánh Gía, chối Chúa”. Quan biết Ngài không khai thêm tên những người giáo dân theo Ngài nên quan ra lệnh trói chân tay vào cọc, bắt nằm sấp xuống chịu đánh đòn đến ngất xỉu. Ông Trùm Phượng và 7 người tín hữu khác cũng bị bắt ở Sáo Bùn theo gương Ngài, không một người nào chịu tiết lộ một điều gì nguy hại tới các linh mục hay người nào khác. Sau rất nhiều lần bị tra tấn rất dã man, đánh đập tàn bạo, Ngài và ông Trùm Phượng bị kết án tử hình, còn những người khác phải lưu đày chung thân.

Trước khi bị lên án, quan đốc cho gọi Ngài tới, dùng lời lẽ ngọt ngào, đánh vào tình cảm để thuyết phục Ngài bỏ đạo. Quan tươi cười hỏi thăm sức khỏe của Cha, mời cha uồng trà rồi thân thiện nói với Cha:

- Hôm nay tôi muốn nói với Cụ một vài điều xuất phát từ tâm tình chân thành của tôi rằng: Tôi rất muốn tha cho Cụ về, vì tôi biết có nhiều người còn thương mến Cụ. Đàng khác, tuổi Cụ cũng đã ngoài lục tuần rồi. Tôi không muốn Cụ phải chết theo lệnh của vua. Vậy tôi xin Cụ nghĩ lại, chiều theo lệnh của vua bước qua Thập Giá để tôi có bằng chứng mà tha cho Cụ về. Cụ hãy nghĩ tới bao người thương mến Cụ, đang mong muốn Cụ được tự do trở về với họ.

Nghe quan đốc nói Cha tỏ ra vẻ bị xúc động. Cha ngước mắt nhìn quan lớn tỏ lòng biết ơn và cha nhẹ nhàng nói:

- Bẩm quan lớn! Nghe những lời chân tình của quan lớn, tôi rất xúc động. Tôi biết quan lớn thương mến tôi. Tôi biết còn rất nhiều người thương mến tôi nữa, mong muốn cho tôi được trở về. Chính tôi cũng muốn được trở về vì tôi biết còn rất nhiều người cần đến sự giúp đỡ của tôi nhưng với tư cách là một linh mục, một đạo trưởng, chứ không ai cần đến tôi là người đã chối đạo, bỏ Chúa. Tôi có thể vâng lệnh vua cũng như vâng lệnh quan lớn làm bất cứ việc gì tốt lành. Nhưng vâng lệnh vua mà bước qua Thập Giá, chối Chúa, bỏ đạo thì nhất định là dù có phải chết dứt khoát không bao giờ tôi làm theo vua quan. Nếu phải vâng lệnh vua mà bị chém đầu tôi thì xin quan lớn cứ việc thi hành, tôi hoàn toàn sẵn sàng chịu chết vì đạo Chúa tôi. Tôi xin hết lòng đội ơn quan lớn.

Quan đốc tỉnh Đồng Hới nghe cha nói cũng tỏ ra vẻ cảm động. Quan biết là không còn cách nào có thể thuyết phục được cha nữa nên quan cũng không nói thêm điều gì. Quan lặng lẽ đứng dậy và cho lệnh đưa cha trở về nhà giam.

Ngày 25 tháng 5 năm 1861, án lệnh tử hình Cha Gioan Đoàn Thanh Hoan và ông Trùm Mathêu Nguyễn Văn Phượng được vua Tự Đức phê chuẩn gửi tới Đồng Hới. Ngày hôm sau 26 tháng 5, hai Ngài gặp nhau trên đường ra pháp trường và cùng chịu trảm quyết tại một nơi. Ngay tối hôm trước đó, vị linh mục chiến sĩ Đức Tin của Chúa đi thăm những người bạn tù, khuyên bảo họ: “Giờ cuối cùng của tôi sắp tới. Phần anh  em còn ở lại trần gian đau khổ này. Anh em hãy trung thành với Chúa tới cùng. Hãy cầu nguyện mỗi ngày để Chúa ban thêm sức mạnh mà chịu mọi hình khổ tạm bợ ở đời này. Chúa nhân lành vô cùng, thương yêu chúng ta vô cùng. Chúa sẽ trọng thưởng cho chúng ta tùy theo công đức của chúng ta. Chúa đã nói: “Ai chối bỏ Ta trước mặt vua quan thế gian thì Ta cũng chối bỏ nó trước mặt Cha Ta trên Trời”. Chúa nói như thế nên chúng ta phải can đảm xưng tụng Chúa trước mặt thế gian để Chúa sẽ nhận chúng ta trước mặt Thiên Chúa là Cha của Ngài. Xin anh em cầu nguyện cho tôi hoàn thành thánh ý Chúa cho trọn. Tôi tử biệt anh em nhé”.

Ngày 26 tháng 5 năm 1861 đoàn quan quân hùng hậu áp giải cha tới pháp trường. Cha không tỏ dấu gì lo sợ nhưng nét mặt hân hoan, quay nhìn những người theo sau bằng nụ cười hớn hở. Những ngưòi chứng kiến đều bàn tán với nhau: “Cụ già ngoài lục mà bị đưa ra pháp trường chém đầu mà cứ tươi cười, tay cầm tràng hạt, miệng lẩm bẩm cầu kinh. Cụ bình tĩnh quá. Mà đạo của Cụ là đạo thờ Đức Chúa Trời, có gì sai quấy  đâu mà lại đem giết Cụ. Thật là một điều khó hiểu! Người khác nói xen vào: “Đó là lệnh của vua mà! Không tuân lệnh của vua thì phải chết. Thương thì thương Cụ thật đấy nhưng ai dám trái lệnh của vua? Thôi, miễn bàn tán kẻo tới tai các quan thì phải chết không chừng!”

Đoàn quân đã từ từ bước vào pháp trường Đồng Hới, Cha Gioan Đoàn Thanh Hoan quì gối ngước mắt lên trời cầu nguyện: “Con tạ ơn Chúa đã cho con biết trước giờ được đổ máu vì danh Chúa” rồi đưa cổ cho lý hình chém. Ba hồi chiếng trống vang lên, tên lý hình vung gương chém nhát thứ nhất trúng vai, nhát thứ hai vào má, nhát thứ ba trúng cổ đầu rơi xuống đất. Giáo dân được phép vào thấm máu và tẩm liệm đem xác về an táng tại nghĩa trang của các nữ tu ở Mỹ Hương.

Đức Giáo Hoàng Piô X đã tôn Ngài lên bậc Chân Phước ngày 2 tháng 5 năm 1909 và ngày 19 tháng 6 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã suy tôn lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo trong một thánh lễ vô cùng long trọng tại quảng trường thánh Phêrô của thủ đô Giáo Hội.

 

 

28. Ngày 26 tháng 5:Thánh Matthêu Nguyễn Văn Phượng, Trùm Họ ( 1808-1861)

 

Thánh Matthêu Nguyễn Văn Phượng, tên thật là Kế, hồi nhỏ cha mẹ gọi là Đắc còn tên Phượng là tên người con gái đầu lòng. Ngài sinh năm 1808 tại làng Kẻ Lái cũng gọi là Lý Nhơn, Tam Tòa tỉnh Quảng Bình Cha là Cai Bường, là người Công giáo đạo hạnh. Ngài mồ côi cha lúc 12 tuổi, mồ côi mẹ lúc 14 tuổi. Ngài phải tự lực mưu sinh rất sớm, theo thầy lang Nhu học nghề thuốc, được thầy lang Nhu truyền cho nhiều bài thuốc gia truyền rất quí. Nhưng sau ba năm Ngài gặp cha Điểm, được Ngài giúp đỡ đem về nuôi, cho ăn học. Tới năm 22 tuổi thì cha Điểm giúp đỡ để lập gia đình với cô Agnès hiền hậu con ông đội Khiêm ở Sáo Bùn. Rồi dọn về ở nhà bố mẹ vợ tiếp tục làm nghề y sĩ. Sau ít năm Ngài bỏ nghề làm thuốc chuyển sang nghề buôn bán, nhờ đó mà gia đình làm ăn phát triển, đời sống sung túc hơn.

Ngài sinh được tám người con Người con gái lớn đi tu trong Dòng Mến Thánh Giá. Lúc Ngài 50 tuổi thì người vợ qua đời để lại cho Ngài một đàn con đông đảo, nhưng Ngài đã cố gắng buôn bán để có tiền bạc nuôi nấng con cái. Ngài siêng năng cầu nguyện, xưng tội rước lễ, nhắc nhở con cái vâng giữ luật Chúa. Hằng ngày ngoài thời giờ lo lắng cho con cái, Ngài còn đi thăm bệnh nhân, những người già yếu để an ủi, nâng đỡ đời sống Đức Tin của họ. Giáo dân họ Sáo Bùn đều kính phục đời sống và lòng đạo đức của Ngài nên bầu Ngài làm Trùm Họ

Đầu năm 1861 cha Gioan Đoàn Thanh Hoan về làm phúc tại Họ Sáo Bùn, Ngài lo chỗ ăn ở cho cha tại nhà mình. Bị  một người ngoại giáo biết, đi tố cáo với quan nên ngay tối hôm sau quân lính về bao vây làng bắt cha Hoan, và cũng bị tên tố cáo chỉ điểm nên Ngài cũng bị bắt, bị trói xích hai tay, đeo gông giải đi. Lúc ấy Ngài đã 60 tuổi.

Bắt được Ngài cùng với cha Hoan và bảy người khác, đoàn lính giải các Ngài về Đồng Hới, giam cách biệt với cha Hoan  Trong tù, quan đã áp dụng đủ mọi cách thức để tra tấn xét khảo ngày này qua ngày khác, nhưng Ngài và các bạn tù khuyên bảo nhau nhất định không khai báo điều gì làm hại tới những người khác. Truớc mặt quan toà Ngài nhận là đã mời cha Hoan về nhà nhưng bắt Ngài bỏ đạo, bước qua ảnh tượng Chúa thì dù có phải chết Ngài cũng nhất định là không.

Trong chuyện về Ngài có kể rằng, một hôm viên Lục Sự tòa án nói với Ngài rằng: Nếu ông bằng lòng gả cô con gái của ông cho tôi thì tôi sẽ tìm mọi cách để tha ông. Ngài trả lời: “Không thể được. Nếu anh không theo đạo của chúng tôi. Tôi không thể gả con gái tôi cho một người ngoại đạo, dù anh là ông Ký hay Quan đi nữa. Tôi sợ con tôi không giữ mãi được Đức Tin. Nếu vì lý do đó mà phải chết, tôi sẵn lòng chết”.

Vì bị biệt giam nên không ai có thể vào để báo cho Ngài biết là ngày 26 tháng 5 năm 1861 Ngài sẽ phải xử trảm cùng với cha Hoan, nên sáng sớm Ngài còn nấu cơm ăn sáng. Tới khi thấy bọn lính đến nhà giam gọi cha Hoan và ông Phượng ra pháp trường, khi ấy ông mới biết. Ông vui mừng đón nhận tin vui này và hiên ngang bước theo cha Hoan. Trên đường ra pháp trường Đồng Hới Ngài bước đi trang nghiêm, cúi mặt để thầm thĩ cầu nguyện. Tới nơi xử, Ngài xin chịu xử qùi như cha thánh Hoan. Chiêng trống nổi lên từng hồi, lý hình vung gươm chém một nhát thì đầu rơi xuống đất ngay. Những người đứng chung quanh xô nhau vào lấy vải thấm máu, bọc xác Ngài đưa về an táng tại Mỹ Hương. Khi được tôn lên bậc Chân Phước, giáo dân Phú Xuân cải tảng đem về nhà trường Phú Xuân Huế. Khi cải táng người ta còn thấy bản án viết trên tấm gỗ, ghi như sau: “Năm Tự Đức thứ 14, ngày 17 tháng 4. Tên Nguyễn Văn Đắc, tự Phượng, là người theo đạo Gia-Tô, đã chứa chấp đạo trưởng Hoan, tội đáng  chém”.

Nhiều người đến cầu xin với Ngài đã nhận được rất nhiều ơn, đặc biệt với những người đông con và nghèo nàn, đến cầu xin với Ngài cho con cái ngoan ngoãn, chừa bỏ cờ bạc, rượu chè, hút xái, Ngài đã cầu bầu cùng Chúa ban nhiều ơn  được như ý khấn xin.

Đức Giáo Hoàng Piô X đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước ngày 2 tháng 5 năm 1909 cùng với cha thánh Hoan và ngày 19 tháng 6 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phalô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam.

 

29. Ngày 28 tháng 5:Thánh Phaolô Hạnh, Giáo dân ( 1827-1859)

 

Việc Chúa làm thật lạ lùng! Tình thương Chúa thật bao la Trí khôn loài người không thể hiểu thấu. Từ một tên trộm cướp khét tiếng phải mang án tử hình cùng chịu đóng đanh với Chúa. Thế mà chỉ một lời kêu xin, Chúa đã tha ngay và hứa “Ngay hôm nay, anh sẽ lên Thiên Đàng với tôi”. Trường hợp cuộc đời của thánh Phaolô Hạnh cũng là một điều thật lạ lùng, không ai hiểu được. Phaolô Hạnh đang là một “tay anh chị”, một tên đầu đảng cướp giật khét tiếng, thế mà Chúa đã ban ơn để chỉ trong một thời gian đau đớn vì Chúa mà Phaolô Hạnh đã trở nên một chứng nhân Đức Tin kiên cường giữa thời cấm đạo tàn ác dưới triều vua Tự Đức, một ông vua khét tiếng là ghét đạo Thiên Chúa giáo..

Thánh Phaolô Hạnh sinh tai Tân Triều, tỉnh Biên Hoà trong khoảng thời gian 1826 hay 1827 trong một gia đình Công giáo bình thường. Khi lớn lên theo hai người anh tên là Thanh và Ngãi về Chơ Quán làm ăn. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, hai người anh này đã trở thành những tay chuyên nghề trộm cướp, nổi tiếng trong vùng Gia Định Sàigòn Chợ Lớn. Theo gương hai người anh, Phaolô Hạnh cũng qui tụ một nhóm đàn em choai choai lang thang đây đó để lập thành một nhóm sai đi cướp giật khắp vùng. Hạnh sống ung dung, rượu chè trai gái với tiền của do nhóm đàn em cướp giật đưa về. Vì số đàn em theo Hạnh rất đông nên ai ai cũng đều khiếp sợ và nể nang mỗi khi nói tới Hạnh.

Một lần kia, theo lời bà Lucia Nguyễn Thị Vang tại Chợ Quán kể lại rằng một lần bọn đàn em của Phaolô Hạnh tới nhà bà Hồng ăn cướp, lấy sạch không một chút thương tiếc. Bà Hồng lại là chỗ quen biết của Hạnh nên bà đến gặp Hạnh khóc lóc. Hạnh nhìn bà khóc thì xúc động và hứa là sẽ điều tra bọn đàn em như thế nào rồi sẽ nói chuyện lại với bà. 

Ngày hôm sau khi bọn đàn em hớn hở trở về khai báo những đồ đã cướp giật được và nộp cho Hạnh. Hạnh hói bọn đàm em là cướp của ai. Bọn đàn em khai là cướp của bà Hồng thì Hạnh vội vàng bắt đàn em đem trả hết những đồ đã ăn cướp được của bà. Hạnh bắt phải trả lại hết cho bà. Bọn đàn em tiếc lắm nhưng phải vâng theo mà trong lòng thì ấm ức lắm. Từ đó bọn chúng nuôi căm thù và tìm cách phản lại Hạnh. Thế là bọn đàn em tìm cách đi tố cáo với ông Tri là Xã Trưởng rằng Hạnh có liên lạc với người Pháp. Xã trưởng Tri sợ anh em Hạnh không dám bắt. Ông báo cáo  với quan tỉnh Gia Định. Thế là Hạnh bị bắt đưa về nộp cho tòa án ở Bà Quẹo. Khi đứng trước toà án, quan hỏi:

- Có phải anh đã liên lạc vói người Pháp âm mưu làm loạn ?

 Hạnh trả lời dứt khoát:

- Tôi không bao giờ liên lạc hay giúp bọn người mọi rợ Âu Châu. Không bao giờ liên lạc với họ, ai đã nói với quan lớn như thế?

Quan lại hỏi:

- Anh và nhiều người ở Chợ Quán theo đạo Gia-Tô phải không?.

Anh biết mình không giữ đạo tử tế nhưng cũng ngang nhiên công nhận:

- Phải, tôi là người theo đạo Gia-Tô..

Quan liền cho lệnh  bắt anh đạp Thánh Giá nhưng anh cương quyết không chịu. Sau đó, quan trao anh cho bọn lính đánh đập dữ tợn, kìm kẹp xé thịt, cháy da, Anh vẫn một mực không bỏ đạo, không bước lên ảnh tượng Chúa. Thấy anh can đảm và cương quyết như thế, quan truyền đưa về giam trong ngục. Quan hy vọng giam giữ ít ngày anh sẽ thay lòng đổi dạ. Ít tuần sau, quan lại gọi anh ra toà. Quan thấy những vết thương còn đẫm máu thì thương. Nhưng một lần nữa quan lại truyền tra khảo bằng cách nung kìm đỏ kẹp da thịt. Mùi da thịt khét bốc lên, máu rỉ ra như nước chảy. Người anh hùng Đức Tin Phaolô Hạnh vẫn một lòng trung thành với Chúa, cương quyết chịu mọi hình khổ để làm chứng cho đạo. Biết rằng rất đau đớn nhưng vẫn cắn răng chịu mọi hình khổ quái ác, vô cùng tàn nhẫn  để đền bù tội lỗi của tuổi thanh xuân.và để tạ tội với Chúa. Khi bị đau đớn quá anh đã than thở với Chúa: “Lạy Chúa xin tha tội cho con. Con đã bỏ đạo, không sống lề luật Chúa lại còn lập bè đảng, lôi cuốn bảo thanh thiếu niên đi vào đàng tội lỗi, đi ăn trộm ăn cướp, làm hư hỏng bao tâm hồn trẻ trung ngây thơ. Con thật đáng tội với Chúa. Nay con xin chịu mọi đau đớn phần xác này để đền tội con và đền tội cho bọn đàn em du đãng của con. Xin Chúa thương tha tội và ban cho con có nhiều cơ hội được chịu đau đớn vì Chúa. Giờ đây con quyết chí xưng đạo Chúa ra trước mặt vua quan, dù có phải chết vì đạo Chúa, con cũng vui lòng được chết vì đạo Chúa”.

Sau nhiều lần tra tấn hành hạ, ép buộc Phaolô Hạnh phải bước qua Thập Giá để bỏ đạo nhưng dù bị kìm kẹp đau đớn, đánh đập tàn nhẫn nhưng cương quyết một lòng Phaolô Hạnh nhất định không bỏ đạo và sẵn lòng chấp nhận mọi hình khổ để làm chứng đạo thánh Chúa.

Thấy không còn cách nào để ép buộc Phaolô Hạnh bỏ đạo. nhất là khi thấy những hình khổ nhục nhã đau đớn như thế mà Phaolô Hạnh vẫn cương quyết không bỏ đạo thì quan làm án buộc Phaolô Hạnh về tội theo đạo Gia-Tô nên phải chém đầu. Vua Tự Đức châu phê bản án và  ngày 28 tháng 5 năm 1859 vị anh hùng Đức Tin trẻ trung 32 tuổi Phaolô Hạnh đã hiên ngang tiến ra pháp trường lãnh nhận triều thiên tử đạo. Những người chứng kiến cái chết anh dũng của Phaolô Hạnh đều ngỡ ngàng nói với nhau rằng: “Chàng thanh niên này chọc trời, quấy nước thế mà bây giờ lại chấp nhận đánh đập, bị kìm sắt nung đỏ kẹp thịt cháy xèo xèo như bị nướng thế mà cũng không chịu bỏ đạo. Bây giờ lại vui vẻ tiến ra pháp trường chịu chém đầu. Thật là lạ lùng, có những con người can đảm xưng đạo một cách oai hùng như thế đáng chúng ta cảm phục! Ngày trước chàng thanh niên Hạnh này cũng là tên đầu trộm đuôi cướp thế mà bây giờ dám can đảm đổi sự sống mình vì đạo. Anh Phalô Hạnh thật là vị anh hùng Đức Tin, xứng đáng để chúng ta noi gương mà sống tốt lành, thờ phượng Chúa.”.

Ngày 2 tháng 5 năm 1909 Đức Giáo Hoàng Pio X đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước và ngày 19 tháng 6 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam.

  

Tháng 6:

 30. Ngày 1 tháng 6:Thánh Giuse Túc,Giáo dân (1843-1862)

Thánh Giuse Túc sinh 1843 tại họ đạo Hoàng Xá, xứ Ngọc Đồng, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình nông dân đạo đức. Cha là ông Giuse Cẩn và mẹ là bà Maria Trí. Gia đình nghèo nhưng cần cù miệt mài với nghề nông, sáng tối ngoài đồng chăm lo ruộng lúa. Ông bà luôn an phận vui vẻ với nếp sống hiền hòa thân thiện với mọi người và thúc giục con cái sáng tối đọc kinh cầu nguyện, sống trọn vẹn với niềm tin nơi Chúa.

Tuy nhiên ông Giuse Cẩn cũng là người có tinh thần cầu tiến. Ông thấy làm nghề nông thật là cực nhọc vất vả, ông không muốn cho cậu con trai của mình mãi mãi sống vất vả như thế, nên ông đã khuyên nhủ con phải chăm lo học hành chữ nghĩa để hy vọng sau này sẽ có đời sống thoải mái hơn. Ông quyết tâm và khuyến khích, lo liệu cho cậu con trai theo đuổi học hành khoa cử.

Nhưng lúc đó là thời gian vua Tự Đức ra lệnh bách hại đạo Thiên Chúa vào thời kỳ khốc liệt nhất. Những gia đình Công giáo sống trong hồi hộp lo sợ có thể bị bắt bớ và phân sáp bất cứ lúc nào theo như chiếu chỉ của vua ban hành ngày 5 tháng 8 năm 1861. Nhiều tín hữu đã bị bắt, bị tàn sát và bị ghép vào những tội trạng đáng ghê sợ.

Hôm ấy vào khoảng đầu tháng 2 năm 1862, chàng thanh niên hiền lành Giuse Túc đang làm ruộng thì bị một toán quân kéo đến bắt, còng tay  xích chân và giải về Hưng Yên, sau đó bị biệt giam bốn tháng tại Đông Khê, phủ Khái Châu. Tại đây anh bị đánh đập, kìm kẹp, ban ngày phải mang gông nặng nề, ban đêm hai chân bị xích  và cùm trong xà lim cực khổ. Cũng trong thời gian này, anh bị dụ dỗ, khi thì thân thiện, lúc lại đe dọa, phải bỏ đạo và bước qua Thánh Giá. Nhưng với tinh thần bất khuất, lúc nào anh cũng tỏ ra kiên cường, sẵn sàng chấp nhận mọi hình phạt, mọi tra tấn hay kìm kẹp chứ nhất định không bao giờ bỏ đạo, không bao giờ chiụ bước lên Thánh Giá. Cùng bị giam với anh trong tù còn có mấy thanh niên khác như Phêrô Kiên, Phêrô Ngân, Phêrô Lương sau này những thanh niên anh dũng này cũng được phúc đổ máu mình ra vì đạo Chúa và được kể vào số tôi tớ của Chúa. Một người bạn tên là Đa Minh Hùng dụ dỗ vượt ngục, nhưng anh không đồng ý. Sau lại bỏ tiền lo lót quân canh ngục để tạo cơ hội cho anh ra, nhưng anh đã nói với người bạn tốt là anh Đa Minh Hùng rằng: “Tôi sẽ không bao giờ trốn thoát bằng bất cứ cách nào, vì nếu tôi trốn thì sẽ làm khổ cho các bạn tù của tôi. Chúa muốn thế nào thì  tôi xin vâng theo như vậy. Tôi chấp nhận mọi hình khổ vi đạo thánh Chúa. Xin Chúa giúp tôi đủ sức chịu đựng, đủ can đảm tuyên  xưng Đức Tin của mình”.

Trong thời gian bị biệt giam bốn tháng tại Đông Khê, anh  Giuse Túc phải chịu đày đọa rất khổ cực và nhục nhã. Ban ngày anh phải mang gông và làm các việc cực nhọc, ban đêm bị cùm kẹp, bị đánh đập, lại phải nhịn đói nhịn khát, chỉ vì anh nhất định không chịu bỏ đạo, không chịu bước lên Thập Giá. Trong suốt thời gian biệt giam này anh không được ai thăm nuôi cũng không nhận được tin tức gì của gia đình.Nhiều lần anh được quan gọi tới để khuyên dụ anh bỏ đạo để được tha về. Nhưng trước sau như một, anh nhất định không bỏ đạo, không bước lên Thập Giá và anh luôn tuyên bố sẵn lòng chịu chết vì đạo Chúa. Nếu vì theo đạo Gia Tô mà phải chết thì anh xin vui lòng chịu chết chứ không bao giờ bỏ đạo. Mặc dầu ban ngày anh phải làm việc cực nhọc nhưng ban đêm anh đọc kinh cầu nguyện suốt đêm, hình như mỗi đêm anh chỉ ngủ chừng một tiếng đồng hồ trong khi hai chân vẫn bị cùm trong xà lim! Nhiều lần quan đã phải thốt lên:

- Ta không thể hiểu được anh chàng thanh niên nhà quê  hơn 30 tuổi đời này. Anh ít học nhưng lý luận vững chắc và thật khôn ngoan. Chỉ có việc bước lên cây Thập Giá để được tha chết mà cũng không chịu bước lên. Anh chàng thanh niên này thật là anh hùng, dũng chí! Ta không muốn giết anh nhưng lệnh vua thì ta phải tuân hành!

Trong cuốn Lịch Sử Truyền Giáo tại Bắc Kỳ của M.Gispert, tác giả có ghi lại lá thư của cha Estévez Nam đề ngày 2 tháng 8 năm 1862 mô tả cuộc bắt đạo ghê gớm tại Hưng Yên lúc bấy giờ như sau: “Trong tỉnh Hưng Yên, các quan còn dữ tợn hơn. Cuối tháng 5 rất nhiều tín hữu bị bắt rồi dẫn lên tỉnh. Ngày 1 tháng 6 các quan giết 100 người, hôm sau giết 600 người, ngày mùng 3 giết nhiều hơn nữa. Các làng ngoại giáo được lệnh giết hết các tù nhân có đạo, và họ đã  triệt để thi hành, nên tôi không biết được con số phải chết vì đạo Chúa trong kỳ này là bao nhiêu…”.(Theo M. Gispert trong cuốn Historia las Missiones Dominicas en Tonkin, Avila 1928, tr.510-512).

Sau một thời gian khá lâu, khuyên dụ bước qua Thánh Giá để bỏ đạo không thành công, quan làm án tử hình và được vua Tự Đức phê chuẩn, ngày 1 tháng 6 năm 1862 quan ra lệnh điệu ra pháp trường Nam Định xử chém đầu. Một số đông dân chúng chứng kiến, trong đó có anh Đa Minh Hùng là người bạn thân thiết của Ngài kể lại rằng: “Tôi theo Ngài ra pháp trường và tôi thấy Ngài sốt sắng cầu nguyện, miệng luôn kêu tên Giêsu. Sau khi lý hình vung gươm chém, đầu rơi. Lý hình lấy đầu vung lên cao để cho các quan thấy mình đã thi hành trọn bổn phận. Anh Đa Minh Hùng và một số đông người khác đã vào thấm máu và xin xác người chiến sĩ Đức Tin anh dũng 19 tuổi an táng ngay tại chỗ. Sau một thời gian thì được cải táng rước về nhà thờ xứ Ngọc Đồng, tỉnh Hưng Yên.

Ngày 29 tháng 4 năm 1951 Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

 

31. Ngày 2 tháng 6:Thánh Đa Minh Ninh, Giáo dân (1841-1862)

 

Thánh Đa Minh Ninh sinh năm 1841 tại làng Trung Linh, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, thuộc điạ phận Trung, nay là giáo phận Bùi Chu. Trung Linh là một làng Công giáo toàn tòng trong công cuộc truyền giáo tại miền Bắc Việt Nam thời kỳ đầu, Trung Linh là một giáo xứ lớn sinh hoạt rất sầm uất đông đảo giáo dân, nơi đây trước kia có toà Giám mục và có trường đào tạo các chủng sinh.

 

Gia đình thánh Đa Minh Ninh cũng là một trong những gia đình sống bằng nghề nông, nên ban ngày thì anh siêng năng cần cù với công việc ruộng vườn, tối về thì cố gắng chuyên hơn. Vì là con nhà Công giáo thuần thành, ngoan đạo nên anh cũng được hấp thụ một nền giáo dục đạo đức vững chắc.Trong làng ai ai cũng khen anh là một thanh niên chăm chỉ làm ăn lại đạo đức gương mẫu trong giới thanh niên trẻ trung.

 

Đến 20 tuổi cha mẹ sắp xếp cho anh lập gia đình. Mặc dầu anh chưa muốn, nhưng vì cha mẹ ép buộc quá, anh sợ cha mẹ buồn nên anh đã kết hôn với một thiếu nữ hiền lành trong xứ. Sau khi cưới, anh vẫn không chịu chung sống với cô nàng, Anh vẫn tiếp tục sống như người độc thân, chỉ biết chăm lo đọc kinh, làm các việc giúp đỡ bà con lối xóm. Tuy không chung sống nhưng anh vẫn luôn hoà nhã, lịch sự, săn sóc và cư xử với cô nàng như một người em thân thương trong gia đình. Cuộc sống gia đình vẫn êm đềm trôi qua với những công việc canh nông, chăm sóc ruộng vườn. Sáng trưa tối thì cùng với dân làng tới nhà thờ đọc kinh cầu nguyện. Anh Đa Minh Ninh rất sốt sắng lần hạt Mân Côi và có lòng sùng kính Đức Mẹ cách rất đặc biệt. Nhiều người trong xứ khi gặp anh thì nói anh Ninh giống như người đi tu vậy. Thanh niên gì mà hiền khô à! Rượu chè không biết uống, cờ bạc cũng không chơi, thanh niên như vậy thì giống ông thầy tu quá rồi! Nghe bà con nói, anh chỉ mỉn cười rồi lẩm bẩm nói: “Tôi mà tu tác gì! Tôi nhiều tội lắm đấy!

 

Năm 21 tuổi tức năm 1862, anh bị bắt cùng với một số đông các tín hữu khác giải về huyện Xuân Trường, bị đày đọa, dụ dỗ, tra tấn, khuyên bỏ đạo. Nhưng dù bị đòn vọt, xiềng xích kìm kẹp, tra tấn đau đớn kinh hoàng vô cùng thì anh vẫn vững mạnh, cương quyết, dứt khoát không bao giờ bỏ đạo, không bước qua Thánh Giá.

Khi phải đối diện với quan toà thì anh luôn tỏ ra không sợ hãi trước nhưng hình khổ như bị tra tấn, đánh đập, kìm kẹp, đe dọa. Trước toà quan hỏi:

- Tôi biết anh còn trẻ tuổi, dễ bị dụ dỗ. Đạo Gia Tô là đạo của mấy ông Tây đưa vào nước ta nên vua đã ra lệnh cấm. Vậy anh hãy vâng lệnh vua bước qua Thập Giá và bỏ đạo ấy thì anh sẽ được tha về với gia đình.

- Thưa quan lớn, đạo Gia Tô dạy thờ phương Thiên Chúa là Chúa trời đất, đấng đã dựng nên loài người và vạn vật. Tôi thờ kính Ngài. Tôi không thể chối bỏ Ngài.

-  Nhưng đức vua đã cấm đạo này, anh phải vâng lệnh vua chứ?

- Thưa quan lớn, xin quan lớn thương xét. Nếu quan lớn thương thì tôi được tha về với gia đình, bằng không thì tôi sẵn lòng chết vì đạo thánh Chúa tôi.

- A, anh này cứng lòng quá! Ta muốn tha cho anh vì anh còn quá trẻ lại đã có vợ, Ta không muốn giết người trẻ tuổi này.

Nói xong, quan lắc đầu, thở dài. Vẻ buồn dầu, ra lệnh đưa anh về nhà tù. Hy vọng anh sẽ suy nghĩ lại mà bỏ đạo.

Lần sau cùng đối diện trực tiếp với quan Tổng đốc Nguyễn Đình Tân, quan dụ dỗ và hứa hẹn đủ điều nhưng anh Đa Minh Ninh vẫn một mực từ chối. Quan Tổng đốc thất vọng, không thuyết phục được chàng thanh niên trẻ tuổi bỏ đạo, nên quan buồn lòng lên án chém đầu. Án lệnh được thi hành đúng ngày 2 tháng 6 năm 1862. Cuộc đời người chiến sĩ anh hùng Đức Tin được kết thúc đúng lúc 21 tuổi đời tại pháp trường An Triêm tỉnh Nam Định ngày 2 tháng 6 năm 1862 dưới triều vua Tự Đức.

Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn phong anh Đa Minh Ninh lên bậc Chân Phước ngày 29 tháng 4 năm 1951. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Thánh Đa Minh Ninh

Vào ngày mười sáu cùng thời

Thuộc về tháng chín tại nơi quê nhà

Bắt cùng chung với thánh Đa

Tuổi đời ba tám hiền hòa hiếu trung

Bị chung cùng với anh Hùng

Tuổi vừa hăm sáu, thủy chung khiêm nhường

Vững tin thề quyết noi gương

Giải giao đến phủ Xuân Trường cả ba

Mặc tình hầu hạ cung tra

Quyết không đạp ảnh để mà yên thân

Cho nên quan chẳng tần ngần

Khắc ghi: “Tả Đạo” in hằn đớn đau

Cả hai bên má đậm sâu

Bắt Ngài chối đạo một niềm quyết không

Tin theo Chúa đã dốc lòng

Trăm cay nghìn đắng chớ hòng đổi thay

Làm chi quan muốn cứ làm

Tử hình máu đổ vẫn cam một bề

Đừng khuyên phạm đến Gia Vê

Những lời ông nói quan nghe bao lần

Chẳng còn trì hoãn phân vân

Truyền đem đi chém đường trần vĩnh ly

Theo Thầy đã trọn đường đi

Tấm gương anh dũng tạc ghi muôn đời (Trương Hoàng)

 

32. Ngày 3 tháng 6:Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng (Dương) Thủ Bạ  (1802-1862)

Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng sinh năm 1802 tại Vực Đường, họ thánh Tôma Tông Đồ thuộc xứ Cao Xá, tỉnh Hưng Yên. Cao Xá là một xứ đạo có từ lâu đời, có truyền thống đạo đức, dân làng hiền hoà hầu hết là theo đạo Thiên Chúa, thuộc địa phận Trung nay thuộc giáo phận Thái Bình. Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng tuy là người dân quê chất phác hiền lành,  đạo đức nhưng lại rất trực tính mà thật thà và ngay thẳng. Vì vậy Ngài rất có uy tín và được các cha cũng như mọi người trong xứ đạo tín nhiệm, bầu Ngài làm Thủ Bạ coi giữ sổ sách và quản lý tài sản họ Đạo trong nhiều năm, lúc đó đang là thời kỳ cấm đạo vô cùng độc ác của vua Tự Đức nên để chu toàn công việc được giao phó lại càng khó khăn. Ý thức được điều đó nên Ngài lại càng phải kín đáo xếp đặt mọi công việc một cách khôn ngoan.

Tới khi vua Tự Đức ra lệnh bắt các đầu mục trong làng, quan cho lệnh về Cao Xá vây bắt mọi người phải ra tập trung trong đình làng, lấy lý do là để kiểm tra dân số. Nhưng chủ ý của quan là bắt các Kitô hữu phải bước qua Thánh Giá. Quan truyền đặt tượng Thánh Giá trên cửa đình, bắt mọi người phải bước qua. Những người không tuân lệnh đều bị trói, bắt đeo gông rồi giải về huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Ông Phaolô Vũ Văn Đổng cũng là một trong số đông những người bị bắt trong hoàn cảnh này, vì ông cương quyết không chịu bước lên tượng Chúa và ông lớn tiếng xưng mình là người theo đạo Chúa, sau đó ông liền bị bắt, hôm đó là ngày 25 tháng 11 năm 1861.

Tại huyện Ân Thi quan khuyên dụ và hứa nếu ông bỏ đạo quan sẽ thưởng cho nhiều tiền bạc, nhưng Ngài luôn từ chối. Ngài luôn khẳng định với quan là dù phải chết Ngài luôn trung thành với Chúa, với đạo. Thấy một ông già đã 60 tuổi đứng trước những khổ hình mà vẫn cứng lòng, quan  nổi giận truyền lệnh đánh nát thịt rồi đeo gông rất nặng, xích chân tay rồi giải về tỉnh Hưng Yên.

Khi áp giải Ngài về tỉnh, lúc tới cổng thành Ngài thấy tượng Thánh Giá Chúa đặt ngay giữa lối đi, lính bắt Ngài bước qua. Chẳng những không bước qua, Ngài lại còn qùi xuống hôn tượng Chúa. Quân lính thấy thế liền đánh dúi đầu Ngài xuống đất. Bọn lính thay nhau đánh một cách tàn nhẫn nhưng vẫn không thuyết phục được người chiến sĩ anh hùng của Chúa bước qua Thánh Giá. Cuối cùng bọn lính phải nhốt Ngài vào chiếc cũi nhỏ, chất hẹp rồi khiêng Ngài đi qua.

Trong nhà tù gần một năm Ngài phải chịu trăm ngàn cực hình đau đớn. Theo lệnh vua Tự Đức ban hành ngày 5 tháng 8 năm 1861, mỗi tín hữu Kitô phải chịu khắc chữ Tả Đạo vào hai bên má. Người ta khắc chữ bằng một thanh sắt nung lửa thật đỏ vào má, để khi vết thương lành thì vết sẹo  vần còn, làm như thế là để hành hạ tội nhân và cũng để dễ nhận diện mỗi khi bắt bớ. Thánh Phaolô Vũ Văn Đổng mỗi khi bị khắc vào má như vậy Ngài lại lấy dao gạch nát hai chữ Tả Đạo ấy. Bị đánh đòn quá nhiều lần, lại còn bị hành hạ bằng đủ mọi cách ác nghiệt nhưng Ngài vẫn luôn trung thành và bền bỉ xưng đạo Một lần khác, bị quan tra khảo và bực tức vì Ngài đã gạch nát hai chữ Tả Đạo đã khắc trên hai má. Quan truyền quân lính phải khắc lại hai chữ ấy trên trán. Ngài xin quan để Ngài nhờ bạn tù khắc giúp. Quan đồng ý. Sau đó, Ngài nhờ mấy bạn tù khắc cho hai chữ Chính Đạo trên gò má thay vì chữ Tả Đạo.

Quan thấy hành động khẳng khái và dũng cảm này làm quan rất bực, nên ra lệnh cấm không cho ăn đúng một tuần lễ. Vì bị cấm không ăn, không uống nhiều ngày lại còn bị hành hạ đánh đập, đeo bông, đeo xiềng xích nên Ngài dần dần  mất sức, rũ liệt. Người lính canh gác thầy Ngài đã già yếu 60 tuổi rồi nên thương lén lút cho Ngài một nắm cơm và một chén nước. Nhưng Ngài không ăn uống, lai nhường phần ăn ấy cho người bạn cùng bị giam bên cạnh Ngài.Bị giam đói khát trong 8 ngày và bị đánh đòn khủng khiếp nên Ngài mê man bất tỉnh, những người lính có trách nhiệm canh gác phải vất vả làm đủ cách Ngài mới hồi tỉnh lại được.

Sau cùng quan nhìn thấy hành động khắc hai chữ Chính Đạo trên gò má như thế, chắc chắn không thể thuyết phục bước lên Thánh Giá và bỏ đạo được nữa nên quan làm án trảm quyết Ngài. Án lệnh được thi hành ngày 3 tháng 6 năm 1862.

Trên đường tiến ra pháp trường, Ngài sốt sắng dọc kinh Phó Dâng Linh Hồn (kinh này đọc giúp người hấp hối gần chết). Tới pháp trường Ngài xin lý hình một phút để đọc tên cực trọng Chúa Giêsu 3 lần rồi cúi đầu cho lý hình vung gươm chém đứt đầu. Những người đứng chung quanh chứng kiến cái chết anh hùng của người chiến sĩ can trường tuyệt vời của Chúa Kitô đã ngậm ngùi thương khóc và kính cẩn khâm phục một cụ già 60 tuổi dũng cảm đến thế!

Ngày 29 tháng 4 năm 1951 Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước và ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn vinh Ngài vào hàng Hiển Thánh Tử Đạo Việt nam.

 

 33. Ngày 5 tháng 6:Thánh Luca Vũ Bá Loan, Linh mục (1756-1840)

Nói về cha thánh Luca Vũ Bá Loan thì có rất nhiều điều để nói. Trước hết Ngài là vị thánh niên trưởng trong số 117 vị Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam. Lúc bị tử hình vì đạo Chúa Ngài đã 84 tuổi.

Ngài sinh năm 1756 tại họ Bút Quai thuộc xứ Bút Đông, địa phận Tây Đàng Ngoài, nay thuộc về giáo phận Hà Nội.. Ngay từ lúc còn nhỏ, Ngài đã dâng mình cho Chúa, xin tu học ở Phú Đa và Kẻ Bào rồi về học triết và thần học ở Sở Yên Duyên gần Thăng Long. Sau khi hoàn tất chương trình triết và thần học, Ngài lãnh chức linh mục dưới thời Tây Sơn. Lãnh chức linh mục rồi thì Đức Cha sai đi giúp xứ Nam Sang sáu tháng, xứ Song Nương mười năm  rồi về giúp cha già Liêm xứ Kẻ Vồi cho tới năm 1828 khi Đức Cha Longer Gia chia xứ Kẻ Vồi làm hai thì Ngài nhận xứ mới là Kẻ Sở cho đến ngày bị bắt. Trong suốt thời gian dài phục vụ Giáo Hội và.thi hành mục vụ tại nhiều nơi, đâu đâu người ta cũng đều ca ngợi Ngài là một linh muc thánh thiện rất đặc biệt, tính tình ôn hoà, hiền lành vui vẻ, dễ thương, lại có lòng bác ái, thương yêu những kẻ nghèo khó, ốm đau bệnh tật. Ngài thường đi thăm viếng những người già yếu, ốm đau hay gia đình có những chuyện buồn phiền. Ngài không hề làm mất lòng ai bao giờ, với hết mọi người lúc nào Ngài cũng đều tỏ ra khiêm tốn, kính trọng. nên dù người lương hay giáo tất tất đều kính phục và trọng vọng Ngài. Quả thật Ngài đã nêu gương sáng chói chang về nghĩa vụ phục vụ của một linh mục, về lòng đạo đức, về nếp sống thanh bạch, về sự nhiệt tâm phục vụ các linh hồn và lòng kính yêu đặc biệt đối với Thiên Chúa và Đức Mẹ.

Những nhân chứng đồng thời với Ngài kể lại rằng lúc cầu nguyện Ngài ngửa mặt lên trời như xuất thần. Khi dâng lễ Ngài rất trang nghiêm, khoan thai và cung kính đặc biệt. Ngài thường khuyên bảo giáo dân rằng: “Cử hành thánh lễ Misa là một việc cao trọng nhất trên trần gian. Không có gì đáng để chúng ta phải cử hành thánh lễ cách vội vã. Việc thờ phượng Chúa cần phải làm cho trang nghiêm sốt sắng”.

Nhờ lòng đạo đức sốt sắng và những nhân đức đặc biệt của Ngài mà làm việc mục vụ ở đâu Ngài cũng thành công, lôi cuốn được nhiều người đến với Chúa và ở đâu Ngài cũng chiếm được sự quí mến và trọng kính nơi mọi người

Trường hợp Ngài bị bắt cũng là một chuyện đặc biệt và bản án tử hình vì đạo cũng là một điều từ quan tới quân rất nhiều người ái ngại và lo sợ. Bởi vì trước tuổi tác và phong cách “chững chạc” của Ngài, mọi người đều kính phục Ngài như người cha trong gia đình. Quan cũng như lính phải canh gác Ngài đều xưng hô gọi Ngài là C. Nhưng họ miễn cưỡng phải xử Ngài, chỉ vì sắc lệnh của vua và bản án của triều đình truyền xuống.

Sự việc Ngài bị bắt đã diễn ra như sau:  Tại phố Vồi lúc bây giờ có hai người ngoại giáo tên là bá hộ Kiểng ở làng Bún và  ký lục Cang đang chờ ngày xử vì phạm pháp. Họ muốn lập công để chuộc tội nên đi tố cáo bắt cha Loan, mong sẽ được xóa án. Thế là tối ngày 10 tháng 1 năm 1840 lúc cha đang ở Kẻ Chuôn vừa dùng cơm tối xong thì bá hộ Kiểng và ký Cang giả làm khách đến thăm cha. Cha pha trà mời uống rồi họ ngon ngọt mời cha xuống thuyền để về làng Kẻ Bún. Cha đồng ý xuống thuyền, thế là họ bắt được Cha. Biết tin bá hộ Kiểng và ký Cang đã bắt Cha, giáo dân liền đến xin chuộc bá hộ Kiểng đòi hai ngàn quan. Nhưng ký Cang không chịu vì muốn đem nộp Cha để chuộc tội với quan. Thế rồi hai người bàn tính giải Cha lên huyện Phú Xuyên nộp cho quan huyện. Vì không muốn làm khổ Cha nên quan huyện không nhận. Họ lai phải đưa Cha về Hà Nội. Vừa tới công đường, quan đầu tỉnh chỉ thẳng mặt hai ông và mắng: “Quân dại dột. Sao bay đang tâm bắt người hiền lành đạo đức, già nua đáng tuổi cha ông chúng bay thế này”. Nhưng vua ra lệnh cấm đạo và việc Cha Loan bị bắt đã công khai nên quan đành phải ra lệnh giữ Cha lại. Khi trao Ngài cho bọn lính, quan dặn họ phải xử sự tử tế, không được phép đánh đập, gông cùm, xiềng xích, người nào tới thăm nuôi,  phải để Ngài được tự do tiếp nhận.

Khi ra hầu toà, các quan xử sự với Ngài rất lịch sự, kính trọng mái râu tóc trắng bạc, rất chững chạc của Ngài. Không hề đánh đập, tra tấn hay nói những lời lẽ xúc phạm tới Ngài. Các quan chỉ hỏi sơ về lý lịch và dụ ngài bước qua Thánh Giá mà thôi. Đáp lại, Ngài cũng khiêm tốn, nhã nhặn thưa lại:

- Các linh mục nuôi dưỡng giúp đỡ tôi và Đức Cha truyền chức linh mục cho tôi thì già và chết cả rồi. Địa chỉ thì tôi nay đây mai đó, nơi nào không chứa, tôi ẩn vào chùa nọ đình kia. Riêng viêc quá khóa thì thưa các quan, tôi là đạo trưởng làm sao tuân hành điều đó được? .

Khi quan hỏi sao lại theo đạo ngoại quốc thì Ngài trả lời:

- Tôi chẳng theo Chúa của nước nào cả. Tôi chỉ thờ Chúa trời đất, Chúa của muôn dân mà thôi.

Trong nhà giam, Ngài được tự do gặp gỡ những người tới thăm. Thấy Ngài già yếu hay ốm đau, viên cai ngục trình và xin phép quan cho một người tín hữu họ đạo Chuôn Trung được phép tự do ra vào giúp đỡ Ngài. Biết chắc là thế nào Ngài cũng phải xử vì tội không chịu bước qua Thánh Giá và bỏ đạo nên mấy giáo xứ Ngài đã coi sóc trước đến xin Ngài làm tờ di chúc cho phép họ được nhận xác Ngài về an táng tại xứ đạo của mình. Nhưng Ngài cười và nói:

- Xác tôi cũng là tro bụi, chết rồi cũng tanh hôi cho giòi bọ rúc rỉa, các ông xin làm chi.

Thế rồi Ngài cũng ký giấy trao thi thể cho họ Chuôn Trung, xứ Kẻ Chuôn theo ý họ xin.

Mặc dầu rất quí trọng và thương mến Cha nhưng lại sợ vua Minh Mạng và biết chắc chắn Cha Vũ Bá Loan không bao giờ bỏ đạo nên quan đau buồn làm án xử trảm và vua Minh Mạng phê chuẩn.

Thế là đúng ngày 5 tháng 6 năm 1840, quan lính thấy Ngài già yếu và cũng vì quí mến Ngài nên đã tình nguyện cáng Ngài ra pháp trường. Nhưng Ngài chân thành cám ơn từ chối không ngồi cáng. Quan Giám Sát cỡi ngựa thấy Cha đi bộ cũng xuống ngựa đi bộ với Cha tới cửa Ô Cầu Giấy là nơi thi hành án lệnh vua.

Tới pháp trường, quan nhã nhặn nói với Cha:

- Cụ muốn làm gì thì làm.

Người chiến sĩ Đức Tin can trường bình tĩnh quì gối sốt sắng cầu nguyện rồi sẵn sàng đưa hai tay cho lý hình trói vào cọc. Nhưng một chuyện hy hữu xẩy ra khiến mọi người vô cùng bỡ ngỡ. Đó là đôi lính 10 người được chỉ định thi hành việc trảm quyết Ngài đều sợ hãi bỏ trốn hết! Có lẽ vì uy tín của Cha, vì tuổi tác của Cha và nhất là vì phong cách thánh thiện hiền hoà của Cha mà họ sợ sau khi chết,  hồn Cha sẽ về trả thù họ. Sau cùng viên quan Giám Sát phải chỉ định một người lính gốc Miền Nam tên là Minh thi hành án lệnh. Anh lý hình Minh vì miễn cưỡng phải tuân lệnh quan nên anh đã run rẩy đến quì lạy Cha và nói:

- Cháu lạy Cụ, việc vua truyền chúng cháu phải làm, xin Cụ tha lỗi cho, cháu sẽ cố giúp Cụ chết êm ái. Khi Cụ về Trời, xin Cụ nhớ đến cháu nhé!

Chiêng trống nổi lên, anh lý hình bất đắc dĩ vung gươm chém một nhát đứt cổ. Vị thánh anh hùng hân hoan về với Chúa. Các tín hữu đứng đông đảo khóc lóc, chen chúc nhau vào thấm máu đấng thánh và dân xứ Kẻ Chuôn đến xin nhận xác rước về an táng tại xứ Đạo của mình như tờ di chúc của Ngài.

Ngày 27 tháng 5 năm 1900 Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước và ngày 19 tháng 6 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam.

  

34+35: Ngày 5 tháng 6:Thánh Đa Minh Toại, Ngư Phủ (1812-1862)

Thánh Đa Minh Huyên, Ngư Phủ (1817-1862)

Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã phải chịu trăm ngàn hình khổ rất tàn bạo khác nhau do những cuộc cấm đạo ác nghiệt của các vua Thiệu Trị, Minh Mạng và Tự Đức. Những án phạt kinh hoàng như phải phanh thây, chặt đầu, chặt chân, chặt tay, mổ bụng, có những vị phải giam chung với rắn rết, nhịn đói nhịn khát đến chết rũ tù, có những vị phải thiêu sống, phần đông các vị phải án chặt đầu. Lịch sử còn ghi trong số 117 vị Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam, có 6 vị bị án thiêu sống dưới triều vua Tự Đức.Thánh Đa Minh Toại và thánh Đa Minh Huyện là hai vị thánh bị án thiêu sống đầu tiên trước sự chứng kiến của vợ con và bạn hữu. Các vị đã trở nên của lễ toàn thiêu đúng nghĩa dâng lên Thiên Chúa, để chứng minh sự trung thành tuyệt đối với đạo thánh Chúa. Hai Ngài đã vui mừng được biết án lệnh thi hành trước ba ngày. Các Ngài không sợ hãi, nhưng vui mừng từ giã gia đình, bạn bè và thân hữu trong sự an bình, hoan lạc..

Sở dĩ hai Ngài cùng bị chung một án như nhau và được cùng nhau đổ máu đào để làm chứng Đức Tin là vì cả hai đều là người sinh trưởng ở làng Đông Thành, tỉnh Thái Bình. Thánh Đa Minh Toại con ông Đa Minh Phiệt và bà Maria Mạch, bị bắt lúc 51 tuổi. Thánh Đa Minh Huyện con ông Phêrô Thiên và bà Maria Duyên, bị bắt lúc  45 tuổi. Các Ngài làm nghề ngư phủ, ngày ngày đi đánh cá đánh tôm trên sông Nhị Bình gần cửa Ba Lạt. Cả hai Ngài đã lập gia đình và đều là con chiên của Chúa thuộc Khu Thánh Danh Chúa Giêsu, họ Đông Thành, xứ Kẻ Mèn, thuộc địa phận Trung Đàng Ngoài, tỉnh Nam Đinh, nay thuộc về giáo phận Thái Bình.

Khi vua Tự Đức ra chiếu chỉ Phân Sáp hồi tháng 8 năm 1861 thì mọi gia đình người Công giáo đều bị phân tán, dân ngoại giáo được phép tràn vào những nơi có người Công giáo cư ngụ bắt người, lấy của, vơ vét  hết của cải một cách không cần thương xót! Những người Kitô hữu bị bắt thì bị giải lên huyện nộp cho quan rồi bị khắc hai chữ Tả Đạo trên má bằng chiếc kìm nung đỏ, sau đó tống vào ngục.

Làng Đông Thành cũng bị chung một số phận ấy do chiếu chỉ của vua ban ra. Quân lính đến vây chung quanh làng Đông Thành, nhiều người trốn thoát được. Nhưng ông Đa Minh Huyên và ông Đa Minh Toại thì họ đã bắt được ngay từ đầu. Cả hai bị giải nộp cho quan huyện Quỳnh Côi. Ông Đa Minh Toại vì chân đau không thể đi bộ được nên họ đề nghị nộp tiền chuộc. Nhưng Ngài không muốn mất cơ hội may mắn đổ máu mình ra để làm chứng lòng Tin và sự trung thành tuyệt đối với Thiên Chúa. Do đó Ngài đã xin quan cho phép đi xe tới huyện và sẽ tới nộp mạng để được chia xẻ hạnh phúc “chết cho Chúa” với các bạn tín hữu đã bị bắt đồng cảnh ngộ.

Ngày hôm sau tới huyện Quỳnh Côi, cả hai ông phải ra trước toà án lấy cung rồi  bị tra khảo. khuyên dụ bỏ đạo, bước qua Thánh Giá thì quan sẽ tha cho trở về với vợ con. Nhưng hai Ngài đã cương quyết xác định lập trường của mình:

- Nhất quyết không bao giờ bỏ đạo, không bao giờ bước qua ảnh tượng Chúa. Sẵn lòng chịu mọi hình khổ ở đời này để giữ một lòng trung thành yêu mến Chúa.

Quan hy vọng dần dần với thời gian hai ông sẽ thay đổi lập trường Đức Tin, nên quan truyền tống giam vào ngục Tăng Già . Các Ngài bị giam ở đây  chín tháng. Trong chín tháng này, hai ông bị tra tấn dã man, bị kìm nung đỏ kẹp da cháy thịt, bị nhịn đói nhịn khát, bị hành hạ khốn khổ. Trước những khổ hình này, hai ông vẫn vui mừng chịu vì Chúa, vẫn một lòng kiên cường, can đảm, miệng luôn xưng đạo Chúa. Lần cuối cùng hai ông bị điệu ra công đường, quan nhất quyết ép hai ông đạp lên Thánh Giá. Nhưng hai ông đã cương quyết chống lại một cách rất kịch liệt. Thấy sự cứng lòng của hai ông, quan biết không thể lay chuyển được lòng tin của các ông nên kết án phải thiêu sống.

Biết bản án sẽ bị thiêu sống, các Ngài hân hoan vui mừng, trở lại gặp gỡ và nói với các bạn tín hữu cùng tù:

- Anh em hãy cam đảm lên! Chúng ta chịu khổ hình vì Chúa Kitô, nên chúng ta phải đón nhận đau khổ cách nhẫn nại. Chúng ta phải bền chí đến cùng và nếu cần chúng ta phải sẵn sàng hy sinh mạng sống vì Chúa nữa.

Sáng ngày 5 tháng 6 năm 1862, hai ôngi hân hoan theo đội lính tiến ra pháp trường Nam Định. Nét mặt hân hoan, miệng sốt sắng đọc kinh cầu nguyện. Hai ông bình tĩnh một cách rất tự nhiên tiến tới dàn hỏa thiêu đang sẵn sàng chờ đợi các ông. Các ông bình thản bước vào cũi tre. Đội lính thi hành phận sự khóa chặt cũi tre lại. Những người hiện diện, trong đó có người vợ của thánh Toại và một bà  tên Anna Ngư cùng một số thân hữu trong xứ đạo, tất cả đều xúc động khóc nức nở khi nghe rõ các ông cất tiếng cầu nguyện thật lớn trong khi ngọn lửa đang bừng bừng bốc cháy thiêu đốt hai chứng nhân kiên cường tuyệt vời của Chúa Kitô

Viết tới đây, chúng tôi nhớ lại lời nguyện cầu của thánh Polycarpô cũng lớn tiếng khẩn cầu với Chúa trên dàn lửa lúc bị thiêu sống như sau:

- “Lạy Chúa các Thiên Binh, Chúa trời đất, Đấng bênh vực kẻ công chính và những ai bước đi trong sự hiện diện của Người. Con là một kẻ hèn mọn trong các tôi tớ của Chúa đây, xin tạ ơn Người đã cho con vinh dự được đau khổ, được cầm trong tay triều thiên tử đạo và được kề môi đón nhận chén thương khó. Này đây lạy Chúa, hiến tế con sắp hoàn tất trong ngày hôm nay, con sẽ được thấy lời hứa của Người thể hiện. Amen”.

Sau khi ngọn lửa dần dần hạ xuống thì xác hai vị thánh anh hùng tử đạo cũng dần dần ngã gục xuống đất. Đợi cho tới khi khi ngọn lửa tàn, quan cho phép thân nhân nhận xác đem về an táng. Sau này được cải táng đưa về nhà thờ Thánh Danh Chúa Giêsu, họ Đông Thành, xứ Kẻ Mèn, nay thuộc giáo phận Thái Bình.

Ngày 29 tháng 4 năm 1951, Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn hai Ngài lên bậc Chân Phước và ngày 19 tháng 6 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng hai Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo Việt  Nam. Xin các Ngài cầu cùng Chúa cho chúng con. Amen.

  

 

36+37:  Ngày 6 tháng 6:Thánh Phêrô Đinh Văn Dũng,Giáo dân (1800-1862)

Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần,Giáo dân (1802-1862)

Tháng 8 năm 1861 vua Tự Đức ra lệnh cấm đạo với sắc chỉ Phân Sáp được áp dụng một cách triệt để đối với tất cả mọi người Công giáo. Các quan quân đua nhau đi lùng bắt tất cả các vị Thừa Sai Giám mục. Linh mục, Thầy Giảng, Nữ Tu và các Kitô hữu. Các quan còn cho phép dân làng lương dân tràn vào các làng Công giáo, phá phách, lấy của, bắt người một cách vô cùng tàn bạo, gây nên cảnh xô bồ hỗn loạn đến cực độ trong các làng Công Giáo. Những người Kitô hữu cực kỳ hoang mang, phải xô nhau bỏ chạy lẩn trốn vào những khu rừng hẻo lánh hay trà trộn vào những làng lương dân. Tuy chạy trốn như thế nhưng rất nhiều người đã bị bắt và giải về giam giữ tại các công đường. Hai thánh Phêrô Đinh Văn Dũng và Phêrô Đinh văn Thuần đã bị bắt trong những trường hợp thê thảm đau thương này.

Lúc bị bắt thánh Phêrô Đinh Văn Dũng đã 62 tuổi. Cha ngài là ông Phêrô Đinh Văn Mẫn, mẹ ngài là bà Maria An. Ngài và thánh Phêrô Đinh Văn Thuần đều là anh em con chú con bác, sinh quán tại họ thánh Phanxicô Xavier Đông Hào, thuộc giáo xứ  Kẻ Mèn, điạ phận Trung Đàng Ngoài, tỉnh Nam Định, nay là giáo phận Thái Bình. Thánh Phêrô Đinh Văn Thuần sinh năm 1802 là anh em bà con với thánh Phêrô Dũng. Cả hai đều là gia trưởng một gia đình đạo hạnh hiền hoà. Các Ngài cùng làm nghề chài lưới để nuôi sống già đình. Tuy nghèo, đời sống thanh bạch, của cải chẳng bằng ai nhưng gia đình các Ngài lại êm ấm, hạnh phúc, điểm nổi bật nhất là lòng đạo đức và gương mẫu trong sự tham gia những sinh hoạt của họ Đạo. Chính vì thế mà dân chúng đã tín nhiệm và bầu ông Phêrô Đinh Văn Thuần làm Trùm Khu, lo việc đạo đức trong khu xóm

Vì chiếu chỉ Phân Sáp của vua đã ban ra, nên đầu năm 1862 dân làng Công giáo Đông Phú bị bao vây .Lính tráng lùng bắt các đạo trưởng và các Kitô hữu. Ông Phêrô Dũng và Phêrô Thuần cùng bị bắt với một nhóm đông đảo người khác . Tất cả  bị trói điệu lên phủ, đem đi đày ở làng Ngọc Chi, sau lại chuyển tới làng Lương Mỹ là các làng ngoại giáo. Tại đây sau những cuộc thẩm vấn, một số người được tha, số còn lại bị giải về huyện Quỳnh Côi nộp cho quan huyện.

Bị giam 9 tháng trong nhà tù, các Ngài phải chịu nhiều trận đòn, nát xương nát thịt, ép buộc phải bước qua ảnh tượng Thánh Giá. Nhưng trước mọi hình khổ cực kỳ tàn bạo, các Ngài vẫn luôn cương quyết giữ vững một điều là không bao giờ bỏ đạo, bỏ Chúa. Quan thấy dùng sức mạnh tra tấn, cổ đeo gông, chân tay xiềng xích, cùm kẹp mà vần không thuyết phục được hai Ngài, quan đổi chiến thuật là dùng tình cảm ngọt ngào khuyên dụ các Ngài, cho phép các Ngài được về thăm vợ con và anh em họ hàng lối xóm. Được gặp lại các Ngài, người cha cũng như vợ con trong gia đình được chứng kiến những cực hình các Ngài phải chịu thì động lòng thương xót, không cầm được sự xúc đồng, đều nức nở than khóc. Trước cảnh xum họp gặp gỡ vô cùng cảm động này, các Ngài không nản chí anh hùng mà còn khẳng khái khuyên bảo, khích lệ mọi người rằng:

- Xin mọi người. đừng khóc nhưng hãy vui mừng vì chúng tôi được hy sinh mạng sống cho Chúa Kitô.  Được chết vì đạo thánh Chúa là một ơn phúc lớn lao lắm. Xin mọi người trong gia đình đừng khóc, nhưng hãy vui mừng tạ ơn Thiên Chúa đã thương ban cho chúng tôi được ơn trọng đại này. Khi về với Chúa chúng tôi sẽ nhớ và cầu nguyện cho từng người. Bây giờ thì xin cầu nguyện cho chúng tôi bền chí theo Chúa đến cùng.

Sau đó, các Ngài từ giã mọi người trong gia đình rồi vui vẻ trở lại nhà tù để tiếp tục chịu những hình khổ diễn ra mỗi ngày với các bạn tù cùng bị nhốt trong căn phòng chật hẹp hôi hám đã dành sẵn cho các Ngài. Cả hai Ngài đã có một thời gian bị biệt giam đưa về Lương Mỹ, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình để dụ dỗ các Ngài bỏ đạo. Tại đây có lẽ một  phần vì khổ cực quá, một phần vì chờ đợi lâu ngày lại bị dụ dỗ và được hứa hẹn nhiều điều cho nên ông Phêrô Đinh Văn Thuần đã liều lĩnh nghe lời quan khuyên bước lên Thánh Giá và bỏ đạo! Nhưng ngay sau đó, được ơn Chúa thúc đẩy và nhờ những lời khuyên của bạn hữu trong tù ông lại xin hủy bỏ những lời đã nói và việc đã làm, đồng thời tuyên xưng Đức Tin và thề hứa dù phải chết cũng không bao giờ bỏ đạo, bỏ Chúa nữa.

Sau những ngày tháng dài giam giữ, tra tấn bằng đủ mọi hình phạt nhưng hai Ngài vẫn một lòng cương quyết theo Chúa. Quan thấy giam mãi cũng vô ích nên làm án thiêu sinh. Án lệnh được vua Tự Đức phê chuẩn. Thế là ngày 6 tháng 6 năm 1862, quan quân điệu các Ngài ra pháp trường Nam Định, nhốt hai Ngài vào cũi tre nhỏ hẹp, khóa cẩn thận rồi chất củi chung quanh, đổ dầu, châm lửa đốt thiêu sống hai Ngài. Trong đống lửa bập bùng bốc cháy, những người đứng chứng kiến cảnh hãi hùng, tàn ác, vẫn nghe thấy tiếng các Ngài lớn tiếng cầu nguyện, kêu tên cực trọng Chúa Giêsu. Ngọn lửa mỗi lúc một cháy to, bốc lớn, tiếng cầu nguyện của hai vị chiến sĩ Đức Tin lịm đi dần dần. Đống lửa cháy đã tàn, mùi khét của da thịt bị đốt bốc lên, dần dần để lộ ra hai xác thánh bị cháy đen ngã gục trên đống tro còn đang âm ỉ leo lắt cháy.

Đến khi đống lửa đã tàn hẳn, những thân nhân trong gia đình của hai vị thánh xin thi thể các Ngài, rước về mai táng ngay tại chỗ gần nơi hai Ngài vừa bị thiêu sống. Sau này khi việc cấm đạo đã lắng dịu, giáo dân trong xứ đạo đã cải táng rước về đặt tại nhà thờ thánh Phanxicô Xavier ở Đông Phú, quê hương của hai Ngài.

Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn phong các Ngài lên bậc Chân Phước ngày 29 tháng 4 năm 1951 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng các Ngài lên hàng Hiển Thánh tử đạo Việt Nam ngày 19 tháng 6 năm 1988.

  

38. Ngày 6 tháng 6:Thánh Vinh Sơn Dương, Thu Thuế (1821-1862)

Thánh Vinh Sơn Dương sinh năm 1821 tại Doãn Trung sau này đổi là Phương Yên, thuộc xứ Kẻ Mèn, điạ phận Trung, tỉnh Thái Bình, con ông Gioan Thăng và bà Maria Thao. Tới tuổi trưởng thành anh đã lập gia đình với cô Agnès Tịnh và đã có ba người con. Anh làm nghề nông chăm lo cầy cấy như phần đông những người trong làng. Ngoài việc canh tác ruộng vườn, anh còn giữ nhiệm vụ thu thuế trong làng nên dân chúng thường gọi anh bằng tên Quĩ Dương. Vì lãnh nhận chức vụ này nên nhiều người biết tới anh và vì vậy mà khi bắt đạo quan quân đã biết đích xác về anh.

Anh sống đồng thời và cũng bị bắt cùng thời với các thánh Toại, thánh Huyên, thánh Dũng, thánh Thuần, dưới triều vua Tự Đức bởi chiếu chỉ Phân Sáp của nhà vua. Lich sử cho chúng ta biết vua Tự Đức làm vua trong vòng 15 năm đã ra tới tám chiếu chỉ cấm đạo, mỗi ngày một khắc nghiệt tàn ác hơn. Chiếu chỉ ban hành tháng 8 năm 1961 là chiếu chỉ Phân Sáp là một trong những chiếu chỉ ghê sợ độc ác nhất. Vì chiếu chỉ này mà những người Kitô hữu chết đứng chết ngồi trong đau buồn tủi nhục. Gia đình bị phân tán, làng mạc bị đốt phá và hàng trăm hàng ngàn người Kitô hữu bị bắt, bị tra tấn, bị hành hạ muôn vàn khổ nhục.

Vào khoảng cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm 1861 thánh Vinh Sơn Dương bị bắt cùng với một số đông anh em đồng đạo và phân sáp vào làng Mỹ Nhuệ, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình. Bị giam cầm trong tù, hằng ngày cổ mang gông nặng, tay chân bị xiềng xích, đêm bị nhốt vào cùm xà lim. Ngài bị tra tấn, đánh tập cách tủi nhục. đôi khi bị hành hạ không cho ăn cho uống. Thế nhưng Ngài vẫn can đảm vui vẻ chịu mọi hình khổ, quan quân khuyên dụ bước lên Thánh Giá, Ngài  nhất định từ chối, không bao giờ xúc phạm đến ảnh tượng Chúa,  không bao giờ bỏ đạo.

Khi phải đối diện với các quan toà Ngài luôn tỏ ra bình tĩnh và can trường.  Có lần quan hỏi:

- Anh là người làm việc về quan thuế cho Nhà Nước. Anh phải nêu gương tuân phục lệnh vua mà bỏ tà đạo Gia Tô mới phải. Vậy tại sao anh lại ngoan cố chống lại lệnh của vua?

- Thưa quan, tôi luôn tuân phục vua quan trong những điều phải lẽ, cỏn việc bắt tôi phải từ bỏ việc thờ phượng Thiên Chúa la Đấng tạo dựng mọi loài như đạo Gia Tô dậy thì tôi không thể

vâng lệnh vua mà chối bỏ Chúa tôi được.

- Nhưng nếu anh không vâng lệnh vua thì anh sẽ phải chết. Anh nghĩ sao?

- Nếu không vâng lệnh vua bỏ đạo Gia Tô mà phải chết thì tôi xin sẵng lòng chịu chết chứ tôi không thể bỏ Chúa tôi được. Tôi phải vâng lệnh Chúa tôi hơn là vâng lệnh vua mà bỏ đạo.

- À, anh này ngoan cố, bướng bỉnh quá! Tôi muốn cứu anh, muốn tha cho anh để trở về với gia đình, vợ con. Nhưng anh cứng lòng quá, tôi không thể tha được. Anh sẽ phải chết.

Quan thấy lòng tin sắt đá của anh vào Chúa Kitô và không còn hy vọng khuất phục được con người anh hùng Đức Tin này, quan làm án  tử hình bằng cách thiêu sống. Buổi chiều hôm trước Ngài được quan cai tù báo tin cho biết sáng mai sẽ bị án thiêu sinh nên Ngài phấn khởi vui mừng dọn mình sốt sắng để được về với Chúa.

Theo lệnh quan trên, sáng sớm ngày 6 tháng 6 năm ấy lính phát lửa đốt cháy luôn chòi giam Ngài. Ngài cùng các bạn tù đều bị đốt cháy. Mùi khét bởi da thịt cháy bốc lên, những người chứng kiến đều ngao ngán và sợ hãi. Thế là người thanh niên chiến sĩ oai hùng của Đức Tin đã bị chết cháy. Xác cháy chết gục bên đống tro tàn nhưng linh hồn Ngài đã bay bổng về Trời lãnh nhận cành lá vạn tuế chiến thắng oai hùng vì Đức Tin, vì lòng tin yêu Thiên Chúa, Đấng đã thương yêu dựng nên cả hồn lẫn xác của chúng ta.

Giờ phút kinh hoàng của những ngọn lửa bừng bừng bốc cháy thiêu đốt người chiến sĩ anh hùng của Chúa đã dần dần tàn, thân nhân và gia đình đã tới xin xác an táng Ngài ngay nơi lãnh phúc tử đạo. Sau khi bình an trở lại, giáo dân của giáo xứ Ngài đã cải táng rước về đền thánh Vinh Sơn nơi Ngài sinh trưởng.

Để vinh danh Người chiến sĩ Đức Tin của Chúa, ngày 29 tháng 4 năm 1951, Đức Giáo Hoàng Piô XII đâ tôn phong Ngài vào bậc Chân Phước và  Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Thánh Vinh Sơn Dương

Thánh Dương bắt với thánh Tuyên

Vinh Son thánh hiệu lời nguyện thề đoan

Thánh Cung với cả thánh Thoan

Kẻ Mèn là Xứ, giáo đoàn Doãn Trung

Quan Nam Định thật tàn hung

Lệnh Phân Sáp bắt kiếm lùng Gia Tô

Xuân Trường phủ bị điệu vô

Nơi làng Mỹ Nhuệ, dày vò xác thân

Huyện Quỳnh Côi ở cõi trần

Tuổi đời bốn mốt, song thân vẫn còn

Cha là Thăng, thánh hiệu Gioan

Bà Thao tên mẹ sắt son một lòng

Bà Anna Tịnh vợ ông

Ba con cùng với vợ chồng hiếu trung

Gia đình xum họp trùng phùng

Siêng năng giữ đạo, khiêm cung, kiên cường

Trôi theo về phủ Xuân Trường

Bởi không đạp ảnh theo đường hướng vua

Bao lần quan ép đều thua

Quyết không đạp ảnh a dua theo thời

Sáng chiều đều đặn những lời

Say sưa dâng Mẹ Chúa Trời tràng kinh

Vui tươi chẳng sợ cực hình

Chẳng sợ,  vì Đấng uy linh đang chờ (Trương Hoàng)

 

39.Ngày 12 tháng 6:Thánh Augustinô Phan Viết Huy, Quân nhân (1795-1939)

Thánh Augustinô Phan Viết Huy sinh năm 1795 tại làng Hạ Linh, thuộc xứ Liên Thủy, phủ Xuân Trường, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, nay thuộc giáo phận Bùi Chu, trong một gia đình Công giáo ngoan đạo. Ngài đã lập gia đình và khi bị bắt vì đạo Chúa Ngài đã 44 tuổi.

Ở tuổi thiếu niên Ngài đã dâng mình vào Nhà Đức Chúa Trời để xin học làm Thầy Giảng sau này. Trong thời gian tu trì, Ngài đã được học rất nhiều về thần học và tu đức nên khi phải nói về đạo Ngài trình bày rất mạch lạc và rất giỏi về giáo lý, về Đức Tin. Sau khi học, Ngài cảm thấy đời tu trì không hợp với ơn gọi của mình nên Ngài đã xin ra, trở về với cha mẹ rồi sau đó ít lâu đã lập gia đình. Sau khi lập gia đình Ngài xin gia nhập quân ngũ và phục vụ trong quân ngũ được mười năm thì bị bắt vì đạo theo chiếu chỉ cấm đạo của vua Minh Mạng.

Hồi đó là năm 1838 Tổng đốc tỉnh Nam Định là Trịnh Quang Khanh. Vị quan này đã bị triệu về kinh và bị vua khiển trách là lơ là không tích cực trong việc thi hành lệnh cấm đạo của vua. Ông run sợ trở về dinh Tổng đốc Nam Định quyết chí lập công để đền tội, ông đã hăng say tích cực bằng mọi cách ra tay bắt bớ hết từ giám mục, linh mục, nữ tu, giáo dân, quân nhân, công chức v.v. mọi người phải bước lên Thánh Giá và bỏ đạo. Ai không tuân lệnh thì chém đầu hết, không dung thứ cho bất cứ một ai. Ông đã thề thốt một cách mạnh bạo rằng: “Ta thề quyết không đội trời chung với Gia Tô tả Đạo, ta truyền cho quân lính trong tỉnh này phải diệt hết bọn tả đạo..”

Riêng trong hàng ngũ quân nhân của tỉnh, Tổng đốc Trịnh Quang Khanh đã bày kế tổ chức một bữa tiệc chiêu đãi tất cả các quân nhân Công giáo thuộc tỉnh Nam Định. Số người tham dự bữa tiệc hôm ấy có tới 500 quân nhân Công giáo. Mọi người ngồi vào bàn tiệc rồi, quan Tổng đốc vui vẻ nói lời chào mừng và nói chủ đích là khuyên mọi người phải tuân theo lệnh vua, bước qua Thánh Giá, bỏ đạo thì quan sẽ trọng thưởng tiền bạc cũng như sẽ thăng quan tiến chức cho một cách xứng đáng. Nếu không tuân theo lệnh vua thì sẽ bị hình phạt nặng nề. Sau bữa tiệc, quan Tổng đốc đưa mọi người vào dinh, đi qua cửa, quan đã để sẵn một bên là tượng Chúa Chịu Nạn bị đóng đinh trên Thánh Giá, một bên là xiềng xích, roi, kìm, gông cùm, những dụng cụ để tra tấn tội nhân. Quan Tổng đốc nói: bây giờ mọi người được tự do lựa chọn. Bước qua tượng Thánh Giá thì được tự do và được thưởng, không bước qua thì hình phạt đã sẵn sàng đang chờ đợi đó. Sau lời tuyên bố của quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh, thật là đau đớn và tủi nhục! Đám quân nhân Công giáo đông đảo ấy đã lần lượt bước lên tượng Chúa! Quay đi quay lại chỉ còn 15 người vững vàng chấp nhận hình khổ, nhất định không chịu bước lên tượng Chúa. Quan Tổng đốc bực bội với những người “gan lì” này, liền ra lệnh tống giam và đánh đòn cho tới khi bỏ đạo.

Bị giam trong ngục tối, bị xiềng xích, gông cùm và bị đánh đến bắn máu, nát thịt nhưng 15 chiến sĩ trung kiên vẫn một lòng cương quyết không bước lên tượng Chúa. Ngày hôm sau, 15 người anh hùng Đức Tin bị đưa ra công đường, quan lại dọa nạt, ra lệnh đánh đập đến mềm cả người. Sáu người vì đau đớn quá và cũng vì những lời dụ dỗ của quan Tổng đốc nên đã mềm lòng, dại dột bỏ cuộc, bước lên Thánh Giá. Còn lại chín người, tiếp tục bị những trận đòn chí tử rồi lại đưa về ngục để hành hạ tiếp. Trong số chín người còn lại này có ông Augustinô Phan Viết Huy, ông Nicôlao Bùi Đức Thể và ông Đa Minh Đinh Đạt. Ông Phan Viết Huy tuy có học và đã có vợ con ở nhà quê, nhưng khi đi lính trên tỉnh ông lại tằng tịu với một thiếu nữ trên tỉnh, ông cưới làm vợ lẽ. Trong hoàn cảnh này lương tâm của ông bị cắn dứt nên ban đêm ông đã hối lộ cho bọn lính canh rồi  âm thầm trốn ra ngoài, tìm đến gặp cha Năng cũng gọi là Thiều đang làm phúc ở họ Phúc Đường bên cạnh nhà ông để xưng tội và làm tờ cam kết bỏ cô vợ nhỏ trên tỉnh. Sau đó, ông trở lại nhà tù chịu mọi khổ nhục với các bạn cùng chung một niềm tin.

Thế rồi chín người chiến sĩ kiên trung này lại bị điệu ra công đường, quan Tổng đốc vui vẻ hứa hẹn, khuyên dụ hãy bỏ đạo quan sẽ trọng thưởng. Tất cả chín người đều một lòng cương quyết không tuân lệnh vua đề bỏ đạo. Quan Tổng đốc tức giận ra lệnh đánh đòn chí tử. Đánh nát xương thịt, đánh trên các đầu ngón tay mỗi người. Bị đau đớn quá, nhất là đau buốt trên các đầu ngón tay quá, lại thêm bốn người nản chí, bỏ cuộc, bước lên Thánh Giá! Còn lại năm người vẫn vững tin, quyết một lòng chết vì Chúa.

Để tăng cường áp lực tiêu diệt Đạo, vua Minh Mạng gửi thêm tướng Lê Văn Đức cùng với hai ngàn quân tăng viện về Nam Định hợp tác với Trịnh Quang Khanh tận lực tiêu diệt cho bằng hết bọn Gia Tô Tả Đạo.

Ngày 25 tháng 6 năm 1838 thi hành án lệnh trảm quyết Đức Cha Henares Minh và Thầy Giảng Phanxicô Đỗ văn Chiểu tại Nam Định, tướng Lê Văn Đức cho dẫn năm binh sĩ gan dạ, vững lòng này ra pháp trường, chủ ý để các Ngài chứng kiến cuộc chém đầu đổ máu thì sợ hãi và bỏ đạo. Nhưng phản ứng ngược lại, các Ngài không sợ hãi mà còn hân hoan tưởng mình cùng được chết như hai vị anh hùng tử đạo kia. Bực mình, quan lại cho giải về nhốt trong ngục ngục, đánh thêm rồi bắt đeo gông, xiềng xích tay chân để chờ đợi những lần tra tấn tiếp.

Sau đó ít ngày, quan truyền đưa năm người chiến sĩ can trường này ra công đường. Quan tỏ lòng thương xót, khuyên dụ ngọt ngào và hứa sẽ trọng thưởng nếu vâng lời vua bước lên Thánh Giá. Các Ngài vẫn cương quyết một lòng, nhất định không bỏ đạo, không bước lên Thánh Giá. Không thành công, quan bực bội, truyền cho lính khiêng hai đầu gông kéo lê từng người trên Thánh Giá. Các Ngài co chân lại, nhất định không chịu. Bọn lính dùng roi sắt đánh đau đớn quá. Lại thêm hai chiễn sĩ nữa thối chí, bỏ cuộc! Thế là chỉ còn ba người, đó là ông Huy, ông Thể và ông Đạt. Trả lại trong nhà giam, các Ngài lại bị đánh đòn chí tử, khi thì 25, lúc thì 150 roi. Khi bị quan tra hỏi, ông Phan viết Huy vì trước đã đi tu học hành nhiều về đạo nên ông đã thay anh em trong tù trả lời cho quan lý lẽ rất minh bạch và giảng đạo cho quan nữa. Biết mình đuối lý, quan bỏ cuộc rồi lệnh cho giam chung ba vị này với cha Giacôbê Năm, ông Lý Micae Nguyễn Huy Mỹ và ông Trùm Antôn Nguyễn Đích.

Quan Tổng đốc làm án tử hình gửi về triều đình, nhưng vua không châu phê. Vua truyền phải ép buộc các ông bỏ đạo, bước qua Thánh Giá. Nhận được lệnh của triều đình, các quan cho lệnh đóng gông thật nặng rồi đưa ba người chiến sĩ kiên trung của Chúa ra nơi công cộng phơi nắng hè nóng như cháy suốt 21 ngày liên tiếp, ông Huy và ông Thể ở cửa Đông, còn ông Đạt ở cửa Nam. Những người đi qua lại trông thấy, kẻ thì thương xót an ủi, người thì hành hạ xỉ nhục. Sau 21 ngày phải phơi nắng cháy da cháy thịt, bọn lính lại đưa các Ngài trở lại nhà tù. Lần này thì các quan gọi thân hữu, bạn bè, vợ con tới dinh trách móc, dọa nạt, rồi hứa hẹn sẽ trọng thưởng, phải khuyên dụ ép buộc các Ngài bỏ đạo. Quan cho phép vào nhà tù dùng những lời lẽ tình cảm để khuyên dụ các Ngài. Nhưng tất cả đã trở thành vô ích, các Ngài cương quyết theo Chúa. Sau cùng, quan gọi các viên chức trong làng Hạ Linh, Kiên Trung và Phú Nhai tới, ra lệnh trong một tháng phải thuyết phục ba ông bỏ đạo, nếu không sẽ bị trừng phạt nặng nề. Các ông run sợ nên đã tìm mọi lời lẽ ngọt ngào, tình cảm để ra sức thuyết phục các ông bỏ đạo. Không thành công, các quan truyền bắt các viên chức đánh đòn rất đau đớn trước mặt các ông. Nhìn thấy vị bô lão làng Kiên Trung vì mình mà phải đòn đau đớn quá sức thì động lòng thương xót nên ông Bùi Đức Thể xin tha cho cụ già và bằng lòng bước lên tượng Thánh Giá. Sau đó ông Đa Minh Đinh Đạt cũng bước qua, chỉ còn lại người chiến sĩ kiên trung duy nhất không chiụ khuất phục là ông Augustinô Phan Viết Huy. Thế rồi ngay đêm hôm ấy, quan cho người vào tỉ tể khuyên dụ ngon ngọt. Hai người bạn đã khuất phục rồi, còn gan lì làm gì nữa.Thôi, hãy bước qua tương Thánh Giá một lần thôi, quan sẽ tha và trong thưởng cho để trở về với vợ con, gan lì quá làm gì. Nghe những lời dụ ngọt ông xiêu lòng. Sáng hôm sau ông cũng theo chân hai bạn bước qua Thánh Giá. Ba người binh sĩ được thưởng nhiều tiền bạc và trả tự do trở về với gia đình. Nhưng lại bị lương tâm cắn dứt dày vò, chịu không nổi. Ba ông gặp nhau đi xưng tội rồi âm thầm bàn nhau, quyết định cùng nhau lên tỉnh cương quyết xưng đạo tiếp.

Tới tỉnh, ba ông vào thẳng gặp qun Tổng đốc Trịnh Quang Khanh xin tiếp tục xưng đạo, không bỏ đạo. Quan bực tức chửi măng thậm tệ rồi lệnh giam ngục. Vì quan đã báo cáo triều đình là các ông đã bỏ đạo nên bây giờ quan chỉ giam ít ngày rồi cho về, còn tiền các ông trả lại thì quan trao cho các viên chức trong làng của ba ông.

Lần này quan cho về, các ông đau khổ, ăn chay đền tội, cầu nguyện xin Chúa tha tội đã chối Chúa.rồi bàn tính với nhau quyết định làm đơn tuyên xưng Đức Tin, không bỏ đạo, đem vào tận kinh đô dâng lên vua. Đơn viết xong, cả ba cùng ký. Tới ngày vào kinh đô thì ông Đinh Đạt phải theo đội binh đi công tác, chỉ có ông Huy, ông Thể và người con của ông Huy mới 16 tuổi cùng đi để thăm dò tin tức. Đi bộ mất 20 ngày mới tới kinh đô Huế. Hai ông nghe ngóng biết hôm đó vua Minh Mạng ngự giá đi dạo trong thành phố, hai ông liều mạng đón đường để dâng đơn trực tiếp lên vua. Vua nhận đơn và đọc xong, vua nóng mặt, bừng bừng nổi giận, lệnh tống giam ngay hai ông vào ngục.

Sau đó vua trao cho quan Bộ Hình xét xử. Quan khuyên dụ và hứa hẹn rất nhiều điều. Thấy không xuôi, quan ra lệnh dùng đòn vọt, khổ nhục. Một lần khác vua, quan bày trước mặt hai ông 10 nén vàng, một tượng Thánh Giá và một  thanh gươm rồi phán: - - - “Ta cho lựa chọn, bước qua tượng thì được vàng, không thì thanh gươm sẽ chặt đầu tụi bay, xác sẽ chặt đôi ném xuống biển”.

Hai Ngài đều chọn thanh gươm. Vua Minh Mạng nổi giận liền viết bản án:

- Tội phạm Phan viết Huy và Bùi Đức Thể phải cho lính đem ra biển lấy rìu lớn chặt ngang lưng rồi bỏ xác xuống biển, để ai nấy biết rõ điều răn cấm.

Ngày 12 tháng 8 năm 1839 quân lính giải hai Ngài ra cửa Thuận An thi hành bản án vua Minh Mạng đã truyền. Đội lính đưa hai Ngài xuống thuyền, chèo ra biển, đặt một Thánh Giá ngay giữa thuyền để hy vọng vào giờ thứ hai mươi lăm các Ngài sẽ đổi ý mà bước qua. Nhưng lòng tin sắt đá của các Ngài không hề lay chuyển. Đội lính thất vọng liền trói hai Ngài vào cột chèo, thay vì chặt ngang lưng như bản án thì đội lính chặt đầu trước sau đó bổ thân ra làm bốn. Tất cả buông xuống biển theo giòng nước cuốn trôi dạt trên mặt nước biển. Xác các Ngài được  trôi dạt trên biển nhưng hồn các Ngài đã bay bổng về Trời lãnh nhận cành lá tử đạo chiến thắng, để lại cho hậu thế tấm gương anh hùng muôn đời tuyệt vời, đáng chúc tụng.

Ngày 27 tháng 5 năm 1900, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong các Ngài lên bậc Chân Phước và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng các Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

  

40. Ngày 12 tháng 6:Thánh Nicolao Bùi Đức Thể, Quân nhân (1792-1839)

Hạnh tích thánh Nicolao Bùi Đức Thể tử đạo gắn liền với sự tích tử đạo của thánh Augustinô Phan Viết Huy, vì cả hai cùng bị bắt trong hoàn cảnh giống nhau, cùng bị tù đày, tra tấn, chịu những cực hình kinh hoàng giống nhau và cùng tuyên xưng Đức Tin cách can đảm phi thường giống nhau, cuối cùng cả hai bị lãnh án chặt đần, phân xác ném xuống biển cùng một ngày như nhau.

Ở đây chúng tôi chỉ ghi lại một đôi nét riêng biệt của Ngài mà thôi. Thánh Nicolao Bùi Đức Thể sinh tại làng Kiên Trung, phủ Xuân Trường, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định năm 1792. Ngài làm nghề nông, chăm lo vun tưới mảnh vườn, ruộng lúa. Tới năm 47 tuổi Ngài mới nhập ngũ, phục vụ trong quân đội. Mới chỉ nhập ngũ được một tháng thì vua Minh Mạng ra chiếu chỉ bắt tất cả mọi quân nhân Công giáo phải bỏ đạo.Tổng đốc Trịnh Quang Khanh lúc đó đang là Tổng đốc tỉnh Nam Định vừa bị triều đình khiển trách vì lơ là thi hành mệnh lệnh của vua, nên để lập công ông đã trở nên “con hùm xám” truy lùng bắt bớ không thương tiếc những người Kitô hữu. Riêng với hàng ngũ quân nhân, ông đã khôn khéo tổ chức một bữa tiệc linh đình mời mọi quân nhân Công giáo trong tỉnh tới tham dự, sau đó ông đã ngọt ngào khuyên dụ và hứa hẹn sẽ ban cho nhiều bổng lộc, nếu không sẽ bị tù tội, tra tấn và sẽ bị giết. Trước những lời đe dọa hãi hùng ấy, 500 quân nhân Công giáo đã theo lời dụ của quan bước qua Thánh Giá, bỏ đạo! Còn lại 15 người nhất định chịu chết chứ không bỏ đạo. Trong số 15 người này có ông Nicolao Bùi Đức Thể.

Thế rồi qua nhiều cuộc tra tấn, đánh đập, không cho ăn cho uống và nhất là vì những lời thuyết phục ngọt ngào của các quan, 15 người chiến sĩ này cũng đã bị ngã guc thêm 12 người. Sau cuộc chiến cam go và ác nghiệt chỉ còn lại ba vị anh hùng cũng đã có lần ngã lên ngã xuống. Nhưng nhờ ơn Chúa sau cùng ba vị này đã bước tới chiến thắng, trở thành chiến sĩ tử đạo làm môn đệ Chúa Kitô khải hoàn. Ba vị chiến sĩ cuối cùng của 500 quân nhân Công giáo tỉnh Nam Định hồi ấy chính là thánh Augustinô Phan Viết Huy, thánh Nicolao Bùi Đức Thể và thánh Đa Minh Đinh Đạt.

Phải chịu rất nhiều đòn đánh, kìm kẹp, đói khát, phơi nắng nóng như lửa cháy và muôn vàn hình khổ ê chề khác, thánh Nicolao Bùi Đức Thể đã vui lòng chấp nhận vì lòng tin yêu Chúa. Thấy không thể thuyết phục được Ngài, vua Minh Minh đã lên án cùng với thánh Augustinô Phan Viết Huy phải chặt đầu, mổ xác ném xuống biển.

Bản án được thi hành ngày 12 tháng 6 năm 1839 tại cửa biển Thuận An Huế. Ngày 12 tháng 6 năm 1839 cũng là ngày vinh quang khải hoàn của. người môn đệ trung thành với Chúa, hiến mạng sống mình để làm chứng cho Chúa.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong Ngài vào bậc Chân Phước tử đạo ngày 27 tháng 5 năm 1900, và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh tử đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Thánh Đa Minh Đinh Đạt

Sinh năm một tám lẻ ba

Tỉnh Nam Định, chốn quê nhà Phú Nhai

Tuổi binh được trọn mười hai

Năm hăm bốn tuổi, năm ngài tòng quân

Vua Minh Mạng lệnh quần thần

Bắt bỏ Chúa, Đấng quân nhân tôn thờ

Quan tổng Nam Định bấy giờ

Quang Khanh họ Trịnh lập tờ kiểm tra

Quân nhân Công Giáo phân ra

Số người có đạo khoảng là năm trăm

Ai theo đạo bị tồng giam

Hứa rằng ai biết sai lầm sẽ tha

Quá lo hầu hết lìa xa

Mười lăm còn lại thật là trung kiên

Thánh nhân trong số chí bền

Quyết tâm giữ đạo Chúa trên không sờn

Thánh Huy lược chuyện rõ hơn

Vì: Huy, Thể, Đạt chung nguồn thánh ân

Cùng chung tử đạo một lần

Chuyện Đinh Đạt kể đôi phần liên quan

Bị đưa về tỉnh tống giam

Bỏ cho đói khát vẫn cam chịu đòn

Đức tin lòng mến yếu non

Sáu người chối đạo chỉ còn chín thôi

Chín người bị đánh tơi bời

Bốn người nữa chối, năm người kiên tâm

Vào năm ba tám hăm lăm

Giữa năm có lệnh trên ban tử hình

Chịu cùng thánh Chiếu thánh Minh

Dọa đem cả đến pháp đình xử luôn

Để ba ông thấy, sẽ sờn

Nhưng nào kinh hãi chẳng buồn, sắt son

Chẳng hề sợ hãi, mừng hơn

Mong mau tử đạo là ơn tuyệt vời

Sớm về hưởng phúc quê trời

Điệu đi cứ nghĩ đến nơi tử hình

Mừng vui tưởng đến phiên mình

Bị đem trở lại thình lình ngẩn ngơ

Sự đời nhiếu lúc chẳng ngờ

Quan tìm kế độc mong chờ các ông

Nghe quan, bỏ đạo đổi lòng

Dã man tàn ác chẳng hòng đổi thay

Thế nhưng cũng đến một ngày

Ông Siêu, ông Dụ chối Thầy nghe quan

Bởi không chịu nổi gian nan

Ba ông còn lại bền gan kiên cường

Các ông xin: nếu ai thương

Cầu Chúa thêm sức can trường trung kiên

Bị đòn liên tiếp, liên miên

Suốt ba ngày chẳng được yên lúc nào

Một trăm ba chục cây sào

Đánh vào thân thể sức nào chịu đây

Đánh không một chút nương tay

Đầu đem cạo trọc phơi ngày nắng hanh

Khổ đau nào cũng chẳng đành

Chối tử Đấng đã tạo thành ra ta

Điều đau tê tái chính là:

Người thân khuyên dụ lìa xa đạo Trời

Vợ ông khóc lóc thêm lời

Khuyên ông bỏ đạo sống đời bình an

Thánh nhân được Chúa thương ban

Cấm bà lần tới chẳng cần vào thăm

Hằng tuần vẫn giữ âm thầm

Bốn ngày chay tịnh yên tâm chịu đòn

Vẫn kiên cường, vẫn sắt son

Ơn Cha tuôn đổ chẳng còn sợ chi

Đánh thêm cũng chẳng ích gì

Đeo gông đứng giữa đường đi cổng thành

Mưu sâu của Trịnh Quang Khanh

Nhục hình làm mất thanh danh con người.

(Trương Hoàng)

 

 

41. Ngày 12 tháng 6:Thánh Đa Minh Đinh Đạt, Quân nhân (1803-1839)

Hoàn cảnh dâng hiến sự sống của mình để làm chứng cho Chúa của thánh Đa Minh Đinh Đạt cũng giống như hai thánh Augustinô Phan Viết Huy và Nicôlao Bùi Đức Thể đã nói ở trên. Vì cả ba đều là quân nhân phục vụ trong quân đội tại tỉnh Nam Định thời bấy giờ. Cả ba cùng bị bắt, bị giam cầm, bị nhục hình, tất cả giống nhau, tại cùng một nhà giam và cùng bị hành hạ như nhau. Do đó đọc truyện hai thánh Huy và Thể thì thánh Đạt cũng đã phải trải qua mọi hình khổ đớn đau như nhau.

Riêng về thánh Đạt có những chi tiết khác với hai thánh Huy và thánh Thể là ở chi tiết việc xưng đạo lần thứ hai. Sau khi cả ba đã bước lên tượng Thánh Giá để bỏ đạo, được trở về với gia đình thì cả ba đều cảm thấy xấu hổ với dân làng, nhất là bị lương tâm cắn rứt nên đã gặp nhau âm thầm tìm cách trở lại dinh Tổng đốc Trịnh Quang Khanh xưng đạo và xin trả lại 10 nén vàng quan đã trọng thưởng khi đồng ý bỏ đạo. Ba ông đã dẫn nhau lên tỉnh, đi thẳng vào dinh trực tiếp gặp quan Tổng đốc Trinh Quang Khanh. Ba ông xin trả lại số vàng đã nhận và xin rút lại việc đã làm vì sự yếu đuối của mìinh. Quan Tổng đốc bừng bừng nổi giận, không muốn nghe ba vị dài lời. Quan truyền đem tống ngục rồi suy nghĩ tìm cách giải quyết. Vấn đề thật khó xử vì quan đã  đệ trình vua là ba ông đã bỏ đạo và đã tha về. Nay trở lại, quan phải thưa trình với triều đình làm sao? Do đó quan cho gọi các ông, khuyên bảo rồi cho về và trao những nén vàng này lại cho các viên chức trong làng để khuyên bảo và canh giữ các ông. Sự việc xưng đạo bất thành, trở về các ông đồng tâm quyết chí làm một lá đơn tuyên xưng đạo, cả ba ông cùng ký rồi lên đường vào kinh đô Huế tìm cách trực tiếp dâng lên vua Minh Mạng để tuyên xưng Đức Tin vào Chúa, vào đạo của mình.

Ngày lên đường tới kinh đô thi ông Đa Minh Đạt phải thi hành nghĩa vụ quân đội nên ông không thể cùng đi với ông Huy và ông Thể. Nhưng đã căn dặn hai ông rằng: ”các ông thế nào tôi xin theo như vậy”. Tới khi hai ông Huy và Thể dâng đơn tuyên xưng Đức Tin thì vua hỏi: trong đơn có ba người vậy tên Đinh Đạt đâu? Hai ông liền tâu với vua rằng ông Đạt cũng xin được tử đạo như hai ông nhưng vì bận công vụ không thể cùng đi tới kinh đô bệ kiến vua được. Tuy nhiên ông đã dặn nếu vua xử hai chúng tôi thế nào thì cũng xin vua xử cho ông ấy như vậy. Do đó khi vua Minh Mạng làm án cho hai ông Huy và Thể vua Minh Mạng còn viết thêm: “Còn tên phạm Đinh Đạt cũng can án này. Nếu nó bỏ đạo thì tha, bằng không thì cũng phải xử như hai tên này”. Khi ông Đạt biết tin là hai ông Huy và Thể đã bị án tử hình rồi. Ông Đa Minh Đinh Đạt mừng rỡ thu xếp công việc gia đình, rồi sốt sắng cầu nguyện dọn mình chịu chết vì Chúa. Mấy ngày sau, có  lính từ tỉnh xuống báo tin cho Ngài biết:

- “Quan Tổng đốc đã truyền bắt anh đem đi xử tử”. 

Nghe tin này, bà vợ muốn khuyên chồng bỏ đạo. Bà nức nở khóc:

- “Anh đành bỏ tôi cùng con gái nhỏ này côi cút sao?”.

Ngài nghe mủi lòng và xúc động rồi ôm lấy vợ con và nói:

-“Tôi không thể yêu quí bà và con hơn Chúa được. Nếu vậy thì tôi không xứng đáng làm môn đệ Chúa Kitô. Tôi dâng phó bà và con cho Chúa. Chúa sẽ lo liệu cho bà và con gái của chúng ta”.

Ngài bị bắt giải về tỉnh và lần cuối cùng quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh nói với Ngài:

- Tên Huy và Thể ngoan cố đã phải bổ làm tư, ném xuống biển cho cá ăn rồi. Vậy hôm nay là ngày cuối cùng, anh có bước qua Thánh Giá để bỏ đạo không?

Ngài mạnh bạo đáp:

- Hai anh tôi đã được phúc trọng chết vì đạo, còn tôi xin quan cho bổ ra làm tám. Việc bước qua ảnh tượng thì nhất quyết là không.

Quan nghe xong liền truyền đóng gông rồi giam vào ngục.Tới ngày 18 tháng 7 năm 1939 án lệnh vua gửi về truyền xử giảo tên phạm Đinh Đạt. Một lần nữa quan khuyên dụ nhưng thất bại, quan nóng giận viết thẻ theo bản án như sau:

- “ Tên phạm Đinh Đạt sinh năm 1803 tại làng Phú Nhai, thuộc phủ Xuân Trường, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, đã phục vụ trong quân ngũ 12 năm. Y  cố chấp theo Gia Tô Tả Đạo, bất tuân lệnh vua bỏ đạo, lập tức phải đem đi xử giảo theo lệnh vua truyền”.

Ngay sau đó, quan Giám Sát cùng đội binh dẫn ông Đinh Đạt ra pháp trường. Trên đường đi, Ngài vui vẻ, đọc kinh cầu nguyện. Vợ con và thân quyến cùng nhiều người đi theo thương khóc. Khi thấy người vợ theo sau khóc nức nở thì Ngài quay lai nói:

- Em hãy vui mừng cám đội ơn Chúa thay cho anh, vì Chúa đã thương ban cho anh được phúc tử vì đạo. Em hãy trở về nuôi dưỡng và dạy dỗ các con thay cho anh. Khi anh chết, anh sẽ xin Chúa nâng đỡ và phù giúp em và cac con.

Ngài còn đang nói thì một tên lính cầm đầu gông đầy Ngài đi. Tới nơi xử, người ta đã trải sẵn một chiếc chiếu hoa, Ngài quì trên chiếu tiếp tục cầu nguyện. Quan truyền tháo gông, tháo xiềng xích, bắt Ngài nằm xuống trên chiếc chiếu, đội lính buộc giây sẵn sàng vào cổ Ngài. Quan phát lệnh, lý hình kéo giây thắt cổ, Ngài tắt thở!

Mọi việc đã hoàn tất, dân làng Phú Nhai xin nhận xác đưa về an táng trọng thể trên phần đất của người anh cả của thánh Đạt. Đến khi tình hình bắt đạo đã lắng dịu, giáo dân xin cải táng rước về đặt tại nhà thờ Phú Nhai thuộc giáo phận Bùi Chu, tỉnh Nam Đinh.

Ngày 27 tháng 5 năm 1900, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong Ngài vào bậc Chân Phước và ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam cùng với hai thánh Augustinô Phan Việt Huy và thánh Nicôlao Bùi Đức Thể.

 

 

42-46:  Ngày 16 tháng 6:

Thánh Đa Minh Nguyên, Chánh Trương (1800-1862)

Thánh Đa Minh Nhi, Nông dân (1822-1962)

Thánh Đa Minh Nguyễn Đức Mạo, Nông gia  (1818-1862)

Thánh Vinh Sơn Tưởng, Chánh Tổng (1814-1862)

Thánh Anrê Tường, Nông gia (1812-1862)

Chiếu chỉ Phân Sáp của vua Tự Đức ban hành ngày 5 tháng 8 năm 1861 gồm 5 điểm sau đây:

. Phân tán các gia đình, làng mạc những người Công giáo, không cho chung sống quần tụ với nhau thành xứ đạo hay làng mạc toàn những người Công giáo. 

. Phải phân tán và cho sáp nhập các gia dình Công giáo vào các làng lương dân. 

. Tịch thu hết tài sản, ruộng vườn

. Phải lấy dùi sắt nung đỏ rồi khắc hai chữ Tả Đạo trên gò má những người Công giáo

. Rồi giao những người Kitô hữu này cho lương dân quản thúc.

Đây là chiếu chỉ cấm đạo tàn ác nhất dưới triều vua Tự Đức.

Chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi chiếu chỉ này, có lẽ giáo dân thuộc địa phận Trung Đàng Ngoài phải chịu đau đớn nhất.

Lúc ấy, Lục Thủy thuộc phủ Xuân Trường, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định là một xứ đạo rất lớn, thuộc điạ phận Trung Đàng Ngoài, nay là giáo phận Bùi Chu. Lục Thủy có 13 Họ Đạo nằm rải rắc trong chín làng xã của huyện mà Ngọc Cục, nay gọi là Ngọc Tiên và Phú Yên là hai họ đạo thuộc xứ Lục Thủy bị quan quân tích cực  truy lùng bắt bớ nhiều người nhất.

Tại họ Ngọc Cục hàng loạt người đã bị bắt giải về huyện. Trong số những người bị bắt phải đặc biệt lưu ý tới những anh hùng Đức Tin rất đáng kính phục. Đó là ông Đa Minh Nguyên và ông Đa Minh Nhi. Ông Đa Minh Nguyên con ông Đa Minh Duệ làm Xã trưởng. Khi bị bắt ông đang làm Chánh trương xứ Lục Thủy. Ông đã có gia đình, vợ con. Người con trai của ông tên là Đa Minh Trình 35 tuổi cũng bị bắt và được phúc tử đạo sau ông chỉ có một ngày. Còn ông Đa Minh Nhi người anh hùng trẻ tuổi, làm nghề nông nhưng cũng can đảm, cương quyết, đầy khí phách, không thua kém ai. Ngài là con ông Đa Minh Vương và bà Catarina Vân. Cha mẹ đều là những người chất phác, hiền lành, đạo hạnh.

Truy nã và bắt bớ những người Kitô hữu họ Ngọc Cục rồi thì quan quân và lính tráng lại ào ào xông vào vây kín họ Phú Yên. Tại họ Phú Yên nhiều người cũng bị bắt, trong đó có ông Đa Minh Nguyễn Đức Mạo làm nghề nông, con ông Đa Minh Giỏi làm Xã trưởng và bà Maria Nhiên, lúc bị bắt ông đã 44 tuổi và đang làm Hương quản lo an ninh trong làng. Ông Anrê Tường, ông Vinh Sơn Tương là hai anh em ruột thịt, con ông Đa Minh Tiên làm trùm họ và mẹ là bà Maria Gương. Ông Vinh Sơn Tương là em, kém ông Tường là anh hai tuổi nhưng đã từng là Chánh Tổng được nhiều người quí mến và trọng vọng.

Có lẽ vì năm vị giáo dân anh hùng này đều là đồng hương, đồng cảnh, cùng bị bắt trong một thời gian nên quan ra lệnh tống giam chung trong một ngục. Các Ngài vui mừng được sống chung trong một căn nhà tù, các Ngài khuyến khích nhau can đảm chịu khó vì Chúa, các Ngài chung nhau đọc kinh Các Thiên Thần, Kinh ăn năn tội, nhất là kinh Mân Côi sáng tối.  Trong suốt  chín tháng bị giam tù, bị đánh đập, gông cùm, xiềng xích, bị trói rồi đem phơi nắng giữa mùa nắng hè nóng như thiêu như đốt, bị hành hạ tủi nhục, ban ngày cổ đeo gông nặng nề, chân tay bị xiềng xích, đêm bị cùm trong xà lim, trên gò má mỗi vị cũng phải khắc hai chữ Tả Đạo bằng chiếc dùi sắt nung đỏ. Nhưng với sức mạnh của Chúa phù trợ, các Ngài đã chiến thắng một cách vinh quang, sáng chói. Các Ngài đã hiên ngang tiến lên lãnh nhận cành lá vạn tuế, cành lá chiến thắng của người chiến sĩ Chúa Kitô khải hoàn.

Trước sự cương quyết của năm người chiến sĩ Chúa Kitô này, quan Tổng đốc vẫn kiên tâm nhân nhượng, hy vọng rằng với thời gian lâu dài và những cực hình giáng trên các Ngài như thế thì trước sau các Ngài cũng phải đầu hàng chấp nhận bước qua Thánh Giá.

Ngày 15 tháng 6 năm 1862, lại một lần nữa quan gọi các Ngài ra dụ dỗ bằng những lời ngon ngọt và hứa hẹn trọng thưởng nhiều vàng bạc. Quan ép các Ngài bước lên Thánh Giá. Ông Đa Minh Mạo, dù thân xác bị đánh đau đớn, bị phơi nắng cháy da cháy thịt, bị đói khát mệt mỏi, ông đã nói thay anh em bạn tù bằng những lời lẽ khẳng khái rằng:

- “Sao quan lại dụ dỗ chúng tôi như vậy?Quan tưởng chúng tôi là những con nít dễ khiếp sợ đau đớn nên quan đưa vàng bạc ra dụ dỗ chúng tôi xúc phạm Thiên Chúa ư? Nếu đạp lên Thánh Giá để khỏi bị bắt, bị đồn vọt, bị hành hạ thì chúng tôi đã làm ngay khi còn  ở làng quê chúng tôi rồi, dại gì phải trải qua bao cực khổ cho tới lúc này. Chúng tôi sẽ dứt khoát không bao giờ thay đổi ý định. Xin quan cứ làm gì thì quan làm theo ý quan. Nhất định không bao giờ chúng tôi bỏ đạo”.

Trước những lời nói cương trực dứt khoát ấy, quan nổi giận truyền lệnh xử tử cả 5 người tức khắc. Quan Giám Sát và đội quân áp giải các Ngài ra pháp trường Bạch Cốc tỉnh Nam Định. Biết được giờ phút sắp được đổ máu ra vì Chúa, các Ngài tỏ ra vui mừng dâng phó linh hồn trong tay Chúa. Các Ngài tin cậy Chúa sẽ ban sức mạnh cho các Ngài sẽ chiến thắng trong những giờ phút sau cùng này. Các Ngài xin lý hình chém ba lần, ba  nhát để tỏ lòng kính yêu và tôn kính Chúa Ba Ngôi. Ngày chiến thắng vinh quang của các Ngài được ghi lại là ngày 16 tháng 6 năm 1862, dưới triều vua Tự Đức. Đầu đã lìa cổ nhưng linh hồn các Ngài đã thẳng bay về với Chúa trên Thiên Quốc.

Sau khi cả năm vị đã bị chém rơi đầu, những người trong gia đình và thân nhân xin thi thể các Ngài an táng ngay nơi các Ngài đã được hạnh phúc tử đạo. Sau một năm, giáo dân cải táng rước các Ngài về nhà thờ quê hương của các Ngài.

Ngày 9 tháng 4 năm 1951, Đức Giáo Hoàng Piô XII đã tôn phong các Ngài vào bậc Chân Phước và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng các Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam ngày 19 tháng 6 năm 1988.

 

47. Ngày 17 tháng 6, Thánh Phêrô Đa, Thợ Mộc (1802-1862)

Thánh Phêrô Đa sinh khoảng năm 1802 trong một gia đình lao động, nghèo khó thuộc làng Ngọc Cục (nay đổi là Ngọc Tiên) thuộc xứ Lục Thủy, địa phận Trung Đàng Ngoài, phủ Xuân Trường, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định nay thuộc giáo phận Bùi Chu. Cha là ông Đa Minh Trương, mẹ là người lương. Nhưng người cha rất ngoan đạo nên dạy dỗ con cái chu đáo, đức tin rất vững chắc. Ông làm nghề thợ mộc tuy vất vả nhưng ông vẫn trung thành giữ công tác giật chuông và dọn dẹp nhà thờ nhà xứ một cách rất chăm chỉ gương mẫu.

Thánh Phêrô Đa được thừa hưởng một nền giáo dục tôn giáo vững chắc cho nên khi lập gia đình Ngài cũng là một gia trưởng gương mẫu. Đời sống của Ngài là một đời sống của một người nhà quê làm nghề thợ mộc bình dị, an phận với cuộc sống bình thường. Ban ngày đi làm, sáng tối đọc kinh cầu nguyện, lo lắng dạy dỗ con cái nên người lương thiện. Cuộc sống ngày này qua ngày khác chỉ có thế thôi.

Nhưng đâu có ngờ, một ngày không đẹp trời sóng gió từ triều đình đổ xuống! Lệnh phận sáp người Công giáo được ban hành. Bao nhiêu làng mạc và gia đình Công giáo bị tàn phá, lao đao! Gia đình thánh Phêrô Đa cũng chung một số phận ấy với bao người Công giáo khác. Làng Ngọc Cục có hàng loạt người bị bắt, bị phân sáp và bị tàn phá! Theo lịch sử ghi lại thì thánh Phêrô Đa bị bắt cùng với một số đông người trong xứ Lục Thủy vào cuối thời thi hành chiếu chỉ Phân Sáp của triều vua Tự Đức .Lúc ấy Ngài đã 60 tuổi.

Thánh Phêrô Đa bị bắt bị đeo gông và xiềng xích tay chân luôn, giải về giam tại phủ Xuân Trường cùng với một số người khác nữa. Tại đây bị tra tấn và ép buộc đạp lên Thánh Giá nhưng Ngài cương quyết nhất định không chịu tuân hành nên lại bị đánh rất tàn ác rồi sau  đó bị đưa tới giam giữ tại làng Quán Linh, huyện Vụ Bản và Quỳnh Côi. Tại đây Ngài phải chịu nhiều trận đòn cũng như tra tấn dã mạn và nhiều khổ hình thật kinh hoàng. Nhưng dù bất cứ cuộc tra tấn hay đòn vọt cực kỳ dã man thì người đầy tớ Chúa Kitô luôn tỏ ra là người anh hùng, không hề bị nao núng, khiếp sợ., không hế than van hay lùi bước.

Lần cuối cùng là ngày 15 tháng 6 năm 1862, Ngài bị đưa tới trước mặt quan Tổng đốc, quan khuyên dụ bước qua Thánh Giá thì quan cho về với vợ con và quan sẽ trọng thưởng vàng bạc, Ngài  dõng dạc trả lời quan:

- “Nếu quan tha và cho về với gia đình thì tôi cám ơn quan, còn viêc bước lên ảnh tượng của Chúa tôi thì dứt khoát là không bao giờ tôi nghe quan”.

Quan Tổng đốc nổi giận ra lệnh tống giam và làm án phải thiêu thân.

Ngày 17 tháng 6 năm 1862 người thợ mộc chứng nhân Đức Tin, tôi tớ trung kiên của Chúa Kitô  hân hoan bước theo đội quân lý hình tới nơi đống củi đang bập bùng bốc cháy, thánh Phêrô Đa bị trói rồi bị ném vào đống củi đang cháy lớn. Ngài lớn tiếng cầu nguyện, dâng phó linh hồn cho Chúa. Lời cầu nguyện nhỏ dần trong khi đống củi mỗi lúc một bập bùng bốc cháy dữ dội hơn. Mọi người đứng chung quanh được diễm phúc chứng kiến cái chết anh hùng của người tôi tớ Chúa đều nói rằng khi bị ném vào đống lửa Ngài tỏ ra rất vui mừng, tươi cười từ giã mọi người, không hề sợ hãi. Khi mùi khét đã bốc lên và ngọn lửa đã tàn, người lý hính thấy Ngài hình như chưa chết nên lấy gươm vung lên chém bay đầu vị tử đạo rơi xuống đất. Như vậy thánh Phêrô Đa chết vì Đức Tin, chết để minh chứng và làm chứng nhân cho Chúa tới hai lần chết. Một lần chết vì bị thiêu sống và một nữa chết vì bị chém đầu!

Sau đó, bà vợ và họ hàng thân quyến đã xin xác và an táng Ngài ngay tại nơi Ngài đã anh dũng lãnh nhận triều thiên tử đạo. Hôm đó là ngày 17 tháng 6 năm 1862.

Khi việc bách đạo đã lắng dịu thì giáo dân xứ Ngọc Tiên đã cải táng và rước Ngài về nhà thờ của giáo xứ quê hương của Ngài. Ngày 29 tháng 4 năm 1951, Đức Giáo Hoàng Piô XII đã suy tôn người thợ mộc nghèo nàn xứ Ngọc Tiên là Phêrô Đa lên bậc Chân Phước và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đao Việt Nam ngày 19 tháng 6 năm 1988. 

 

 

48.Ngày 26 tháng 6:Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu, Thầy Giảng (1797-1838)

Thánh Phanxicô Đỗ Văn Chiểu sinh năm 1797 tại làng Trung Lễ thuộc xứ Liên Thủy, điạ phận Đông Đàng Ngoài nay là giáo phận Bùi Chu, phủ Xuân Trường, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

Ngày từ nhỏ, Ngài đã ước ao dâng mình trong Nhà Chúa để được phục vụ Chúa suốt đời. Do đó, Ngài đã từ gĩa gia đình để vào nhà trường mong được đào tạo trở thành Thầy Giảng. Ngoài những môn học theo chương trình của trường Thầy Giảng, Ngài còn học thêm bốn năm Thần học rồi sau đó trở về giúp Đức Cha Henares Minh và cùng được vinh phúc tử đạo với Đức Cha. Trong suốt thời gian giúp Đức Cha, Ngài luôn theo sát Đức Cha đi lo mục vụ. Mối bận tâm nhất của Ngài là lo lắng giúp mọi người sống Đức Tin một cách trưởng thành. Ngài thường khuyên dạy các tín hữu là dù hoàn cảnh nào, khó khăn nào thì cũng không được phép bỏ Chúa. Chúa là Thiên Chúa duy nhất phải tôn thờ, dù có phải chết thì cũng không được bỏ Chúa.

Đối với Đức Cha, Ngài luôn sống sát bên Đức Cha, khi phải ẩn trốn thì Ngài cùng ẩn trốn với Đức Cha. Có lần Ngài đã thưa với Đức Cha, nếu phải chết vì Chúa thì cũng xin được cùng chết với Đức Cha.

Hồi đó, Tổng đốc tỉnh Nam Định là Trịnh Quang Khanh; ông quyết chí thi hành lệnh vua và tận lực đi lùng bắt một cách quyết liệt các vị Thừa Sai cũng như các đạo trưởng để lập công với vua. Ông đem quan tới các làng Công giáo để xục xạo bắt bớ mọi thành phần trong đạo Gia Tô.

Một buổi chiều ngày 27 tháng 5 năm 1838, tại làng Kiên Lao có ông thầy đồ tên là Y biết trong làng có các đạo trưởng đang lẩn trốn nên đã nghe theo lời hứa hẹn của quan bí mật báo cho quan Tổng đốc đem quân về làng vây bắt được Đức Cha Delgado Y và một số người theo đạo. Còn Đức Cha Đa Minh Henares Minh và thầy Phanxicô Đỗ Văn Chiểu may mắn đã thoát nạn! Các Ngài đã. vội vã chạy ra bờ sông, nhanh chân xuống thuyền bơi về hướng đi Hải Dương. Trên đường về Hải Dương các Ngài trốn vào nhà ông Nghiêm thuộc họ đạo Hà Quang xứ Trung Thành. Ít ngày sau các Ngài lại chạy qua làng Quần Anh rồi đi dọc xuống xứ Xương Điền.  Tại đây không may, các Ngài gặp một người đánh cá nhận diện ra các Ngài. Ông vui vẻ chào hỏi và hứa là sẽ cẩn thận giữ kín việc các Ngài đang ẩn lánh tại đây. Nhưng ngay sau đó, người ngư phủ này đã đi tố cáo và quan đã cho quân về bắt được các Ngài. Khi bắt được các Ngài, Đức Cha Đa Minh Henares Minh thì bị nhốt ngay vào cũi còn thầy Phanxicô Đỗ Văn Chiểu thì bị đeo gông rất nặng và tống giam ngay vào ngục. Khi bị nhốt trong ngục, quan khuyên thầy bỏ Đức Cha và bỏ đạo thì thầy Chiểu đã nói:

- “Tôi sẵn sàng cùng chết với Đức Cha vì đạo Chúa, sẵn sàng chịu mọi khổ nhục vì Chúa, kể cả cái chết rùng rợn nhất”.

Sau hai ngày tạm giam tại phủ Xuân Trường, quan ra lệnh áp giải hai Đấng về nhà tù tỉnh Nam Định. Lúc về tới cổng thành Nam Định thì người ta đã đặt ngay giữa lối đi một tượng Thánh Giá thật lớn để bắt mọi người đi qua phải bước lên Thánh Giá. Thầy Phanxicô Chiểu cổ đeo gông rất nặng nhưng cũng cố qùi xuống ôm lấy hôn kính Thánh Giá, rồi để Đức Cha đi qua thầy mới bỏ xuống. Thầy bị bọn lính áp giải đánh một cách quá tàn bạo. Nhưng thầy vẫn gồng sức chịu đựng cho tới khi quân lính bắt thầy đặt cây Thánh Giá lại chỗ cũ rồi đầy thầy vào thành.

Trước toà Tổng đốc Nam Định, các quan tra hỏi Ngài rất nhiều lần và nhất nhất, lần nào Ngài cũng tuyên xưng Đức Tin một cách dứt khoát và can đảm. Khi các quan ép Ngài bước lên Thánh Giá thì Ngài thẳng thắn trả lời:

- “Đức Chúa Trời là Chúa thật, là căn nguyên của mọi sự vật, chúng ta phải tôn thờ, kính yêu Chúa. Đấy là lý do tôi không thể bước lên ảnh tượng của Chúa, Đấng mà tôi hằng tôn thờ, kính mến”.

Nghe những lời Ngài nói quan thêm tức bực nên truyền lệnh trói chân tay lại rồi đánh 30 roi nhưng Ngài vẫn một mực kiên nhẫn chịu đựng, không nao núng, không sợ hãi. Sau đó, quan truyền xích chân tay lại rồi tống giam vào ngục tối., bắt nhịn đói nhịn khát. Thấy không thể thuyết phục được người chiến sĩ can trường của Chúa, quan Tổng đốc lên án viết như sau:

- “Tên Đỗ Văn Chiểu đã đi theo và học với tên Trùm Hai (tức là Đức Cha Đa Minh Henares Minh). Nó học những điều giả dối. Nó ngoan cố và bất tuân lệnh vua để cải tà qui chính. Mặc dù bị bắt giam, bị tra tấn, nó vẫn nhất mực ngoan cố theo tà đạo Gia Tô. Vậy nay nó đáng phải bị trảm quyết”.

Các quan đệ trình bản án về kinh đô xin vua phê chuẩn. Trong những ngày chờ đợi vua Minh Mạng phê chuẩn bản án Ngài vẫn bình tĩnh viết những lời tâm sự cuối đời cho một người bạn đồng nghiệp, đó là thầy Quỳnh, thư đề ngày 21 tháng 6 năm 1838 như sau:

Ở trong tù tôi phải chịu nhiều cực hình đau đớn, tủi nhục, chịu đói, khát, không có tiền mua ăn. Tôi nhờ thầy gặp các Cha xin các ngài giúp đỡ tôi. Thầy xin lỗi mọi người giúp tôi nhé. Chắc chắn tôi sắp được phúc tử vì đạo, vì nhờ ơn Chúa, tôi vẫn trung thành và bền vững với Chúa”.

Thư gửi đi ngày 21 thì ngày 25 án lệnh từ kinh đô gửi về và ngày 26 tháng 6 năm 1838 Thầy Giảng Phanxicô Đỗ Văn Chiểu đã được áp giải ra pháp trường Bảy Mẫu Nam Định cùng với Đức Cha Đa Minh Henares Minh Đúng là cầu được ước thấy. Thầy Giảng Phanxicô Đỗ Văn Chiểu đã cầu nguyện và ước mong được cùng chết với Đức Cha thì hôm nay Chúa đã nhận lời. Đức Cha thì được quân lính nhốt trong một chiếc cũi chật hẹp rồi khiêng đi còn thầy Chiểu thì cổ mang gông kèm thêm hai sợi giây xích sắt nặng nề khóa từ gông xuống hai chân nên Ngài phải lê đi một cách rất khó khăn, đôi khi còn bị mấy tên lý hình đi theo quất vào lưng những làn roi tàn nhẫn. Ra tới pháp trường, Ngài thấy nhiều người đứng nức nở khóc, thương hai vị tông đồ dũng cảm kiên trung của Chúa. Ngài can đảm nhìn thẳng vào mặt từng người đứng chung quanh và ân cần khuyên nhủ:

- “Anh chị em đừng khóc nữa. Nhưng hãy vui mừng cảm tạ Chúa thay cho hai thầy trò chúng tôi. Hôm nay chúng tôi được về quê thật trên Trời rồi”. 

Sau đó đội lý hình mở cũi đưa Đức Cha ra, đồng thời họ cũng tháo gông và xiềng xích ra cho thầy Chiểu. Trước khi bị chém đầu, Đức Cha Đa Minh Henares Minh xin một ơn là được chứng kiến tận mắt cái chết oai hùng của người môn đệ anh hùng của mình là Thầy Giảng Phanxicô Đỗ Văn Chiểu. Quan Giám Sát đồng ý..Thế là người tông đồ trung kiên của Chúa quì xuống trước mặt Đức Cha lãnh nhận bí tích giải tội, cầu nguyện và kêu lớn tiếng ba lần Giêsu. Ngay sau đó lý hình vung gươm thật cao chém một nhát trúng vào xích cổ. Anh phải chém thêm ba lần nữa đầu mới rơi xuống đất. Đức Cha Đa Minh Henares Minh xúc động ôm lấy đầu Thầy dâng cao lên Thiên Chúa như lễ vật hy tế trước khi chính Đức Cha cũng bị chém cùng một thể thức ấy để cùng về Trời lãnh nhận cành lá vạn tuế tử đạo..

Hôm ấy là ngày 26 tháng 6 năm 1838. Giáo dân đã xin thi thể của các Đấng an táng ngay tại pháp trường. Sau khi cơn cấm đạo đã tàn thì giáo dân Họ Trung Lễ đã cải táng và đứa về đặt tai nhà thờ Họ Trung Lễ thuộc xứ Liên Thủy, giáo phận Bùi Chu, tỉnh Nam Định.

Đức Giáo Hoàng Lêô XII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước ngày 27 tháng 5 năm 1900. Đức Giáo Phoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

 

49. Ngày 26 tháng 6:Thánh Đa Minh Henares Minh, Giám mục (1765-1838)

Thánh Giám mục Đa Minh Henares Minh sinh ngày 19 tháng 12 năm 1765 tại làng Bacna, giáo phận Cornada, nước Tây Ban Nha. Sau khi sinh Ngài thì gia đình vì công việc làm ăn nên cha mẹ ngài lại  di chuyển về Granada, nơi đây Ngài đã lớn lên và theo theo học hết chương trình Trung học tại vùng đất thân thương này. Nhờ nền giáo dục đạo đức của gia đình, nhất là nhờ lòng sốt sắng đọc kinh cầu nguyện  của cha mẹ tâm hồn thơ ngây của cậu Henares ngay từ khi vừa lớn lên đã rất đạo đức Sống trong gia đình với bầu khí ấm cúng yêu thương, cậu Henares cảm thấy rất hạnh phúc. Nhưng một tiếng mời gọi khác thúc giục cậu mãnh liệt hơn khiến cậu phải đáp lại một cách rất quảng đại. Đó là tiếng gọi dâng mình cho Chúa trong đời sống tu trì. Cậu trình bày ý nguyện của cậu với cha mẹ và xin phép gia đình vào gia nhập Dòng Đa Minh lúc ấy cậu mới 16 tuổi. Sau hai năm tập luyện theo luật Dòng, ngày 30 tháng 8 năm 1783 Ngài  chính thức được lãnh nhận tu phục Dòng Đa Minh tại Tập Viện Guadix. Là một Tập Sinh sốt sắng, học hành xuất sắc nên các bề trên  rất tín nhiệm và yêu quí. Khi nhận được lời kêu mời khẩn thiết của Đức Cha Obelar Khâm, Giám mục địa phận Đông Đàng Ngoài rằng đã 15 năm nay giáo phận chưa nhận thêm được vị Thừa Sai nào, thầy Henares xin bề trên chuyển sang tỉnh Dòng Rất Thánh Mân Côi với ước vọng sẽ được sang truyền giáo tạiViệt Nam. Bề trên chấp thuận  và thầy Henares đã may mắn được gia nhập ngay với  một nhóm tu sĩ trẻ được sai đi truyền giáo tại vùng Đông Nam Á.

Trước hết nhóm tu sĩ trẻ tuổi này được đưa tới Manila, Phi Luật Tân dưới sự hướng dãn của linh mục Clementê Ignasiô Delgado sau làm Giám mục và cũng từ đây thầy Đa Minh Henares luôn được theo sát cha Clementê Ignatiô Delgado. Tất cả nhóm xuống thuyền vượt đại dương lênh đênh trên biển cả gần một năm trời vượt qua Đại Tây Dương rồi Thái Bình Dương và cuối cùng thì cập bến Manila ngày 9 tháng 7 năm 1786. Tới Manila, thầy Henares tiếp tục học thần học và dạy Văn Chương cho trường Santo Tomas. Ngày 20 tháng 9 năm 1789 thầy Henares lãnh chức linh mục và ngay sau đó được sai đi truyền giáo tại Việt Nam như lòng mơ ước từ lâu. Ngày 29 tháng 10 năm 1790 thuyền của Ngài vừa cập bến Ma Cao thì Ngài vui mừng được gặp lại cha Ingatiô Delgado. Thế là hai cha cùng với hai vị Thừa Sai khác là Vidal và Gatillepa, cả bốn đều vui vẻ xuống tàu tới Việt Nam, tới lãnh thổ điạ phận Đông Đàng  Ngoài

Tới Việt Nam cả bốn vị đua nhau học tiếng Việt, nhưng cha Henares Minh lúc đó mới 25 tuổi, lại thông minh nên học rất mau chóng. Ngài được bề trên  bổ nhiệm làm giám đốc Chủng viện Tiên Chu, kiêm giáo sư La Tinh và Tu Đức. Đến năm 1798, vua Cảnh Thịnh  ra lệnh bắt bớ những người theo đạo. Tình thế trở nên khó khăn cho việc truyền giáo, Bề trên chỉ định Ngài làm Bề trên Phu Tỉnh dòng Đa Minh tại Việt Nam.

Khi Đức Cha Clementê Ignasiô Delgado Hy lên thay thế Đức Cha  Alonso Phê qua đời vì bệnh sốt rét rừng , cai quản địa phận Đông Đàng Ngoài  thì Ngài xin Đức Thánh Cha Piô VII đặt cha Đa Minh Henares Minh làm Giám mục Phó và ngày 9 tháng 1 năm 1803 các linh mục Thừa Sai và hơn 30 linh mục Việt Nam, hàng chục ngàn giáo dân về nhà thờ Phú Nhai Bùi Chu tham dự lễ tấn phong Đức Cha Đa Minh Henares Minh một cách vô cùng long trọng. Hai Đức Cha Delgado Y và  Henars Minh như hình với bóng. Các ngài tích cực mở mang nước Chúa Đức Cha Henares Minh là một vị mục tử thánh thiện, khiêm tốn, đúng như lời  cha Hermosilla Vọng  viết về Ngài như sau:

“Đức Cha Đa Minh Henares Minh là một thủ lãnh thanh khiết trong đời sống, là vị mục tử nhiệt tâm không hề mệt mỏi vì ơn cứu độ các linh  hồn và là đấng khao khát mãnh liệt phúc tử đạo. Ngài sẵn sàng lên đường bất cứ lúc nào trách vụ đòi hỏi, dù đang nửa đêm khuya vắng. Ngài có lòng đạo đức trổi vượt, biểu lộ qua việc cầu nguyện không ngừng, đồng thời siêng năng nghiên cứu các giáo phụ. Ngài sống nghèo khó theo Tin Mừng thực sự, và như một người cha hiền dịu, ngài quảng đại với những người xấu số nhất. Đó là những nhân đức chính mà ngài luôn nêu gương”.

Hồi đó vua Minh Mạng quyết tâm tiêu diệt đạo Công Giáo, đã ra lệnh cho các quan đầu tỉnh phải tích cực thi hành. Tại Nam Định lúc đó Trịnh Quang Khanh là quan Tổng đốc nhưng còn lơ là thi hành lệnh của vua nên ông đã bị triệu hồi về kinh đô và bị khiển trách rất nặng lời. Vì thế khi trở về tỉnh, ông đã trở thành “con  hùm xám” vô cùng tàn ác trong việc thi hành lệnh cấm đạo.

Tháng 4 năm 1838, để lập công đền tội, ông đã mang theo hơn 2 ngàn quân đổ về các làng Công Giáo vây bắt tất cả các giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ và những người theo đạo Công giáo. Đầu tiên kéo về làng Kiên Lao, bắt được Đức Cha Clementê Ingsiô Delgado Y còn Đức Cha Đa Minh Henares Minh và Thầy Giảng  Phanxicô Đỗ Văn Chiểu thì đã nhanh chân thoát nạn. Nhưng sau đó cũng đã bị bắt tại Xương Điền  do một ngư phủ nhận diện và đi tố cáo để lấy tiền thưởng. Bắt được hai Ngài đưa về phủ Xuân Trường, quan huyện đối xử với Đức Cha khá tử tế nhưng vì sợ triều đình nên ông cho lệnh nhốt vào cũi rồi áp giải về nộp cho quan Tổng đốc tỉnh Nam Định. Tới dinh quan Tổng đốc tỉnh Nam Định là Trịnh Quang Khanh, họ đặt chiếc cũi nhốt Đức Cha Đa Minh Henares Minh nằm sát với chiếc cũi nhốt Đức Cha Ingatiô Delgado Y. Hai Đức Cha được dịp nói chuyện với nhau bằng tiếng Tây Ban Nha chừng nửa giờ. Tới khi quan truyền Đức Cha Đa Minh Henares Minh ký vào bản tường trình là đã giảng “tà đạo” và “lừa dối ngu dân”. Đức Cha nhất định không ký vì những lời vu khống này. Sau quan nổi giận và viết án gửi về kinh xin trảm quyết. Ngày 12 tháng 6 bản án gửi về kinh thì ngày 25 tháng 6 án lệnh gửi tới. Thế là  ngày hôm sau các ngài được lãnh triều thiên tử đạo bay bổng về với Chúa.

Tại pháp trường Bảy Mẫu, Đức Cha Ignatiô Henares Minh muốn chứng kiến cái chết anh dũng của ngưòi môn đệ yêu quí là Thầy Giảng Phanxicô Đỗ Văn Chiểu nên đã xin được chết sau Thầy Chiểu. Quan đồng ý và ra lệnh chém đầu thầy Chiểu trước rồi trao đầu thầy Chiểu cho Đức Cha. Đức Cha vô cùng xúc động đưa tay đón thủ cấp của người môn đệ, dâng cao lên trời trang trọng cầu nguyện như dâng của lễ lên Thiên Chúa Cha. Sau đó, Đức Cha nghiêng đầu cho lý hình vung gươm lên cao chém một nhát, đứt cổ vị Giám mục Thừa Sai, suốt đời đã dâng hiến cuộc đời để phục vụ một dân tộc xa lạ và chính người con dân của dân tộc này đã chém đầu kết liễu đời sống của mình. Thi hài Ngài đã được bổn đạo an táng ngay tại pháp trường. Sau này đã cải táng rước về đặt tại nhà thờ chính toà Bùi Chu.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã suy tôn Ngài vào bậc Chân Phước ngày 27 tháng 5 năm 1900 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

  

50.Ngày 27 tháng 6:Thánh Tôma Toán, Thầy Giảng (1764-1840)

Thánh Tôma Toán sinh năm 1764 tại làng Cần Phan, tỉnh Thái Bình. Ngài là Thầy Giảng đồng thời cũng là hội viên Hội Dòng Ba Đa Minh. Ngài rất nhanh nhẹn, tháo vát, đạo đức nên được bề trên trao cho giữ chức phụ tá Quản Lý Nhà Chung tại xứ Trung Linh, nay thuộc giáo phận Bùi Chu. Trong thời kỳ đạo Chúa bị bách hại, Ngài đã tỏ ra rất kiên nhẫn và trung thành giúp cha già Tuyên trong mọi công tác mục vụ tại lãnh vực truyền giáo vùng Trung Linh lúc bấy giờ.

Trong thời kỳ này tại làng Trung Linh có ông lang tên là Tư, dân làng quen gọi ông là Lang Tư. Ông này nghe quan dụ dỗ nếu ai tố cáo các đạo trưởng thì sẽ được trọng thưởng nên sinh lòng ham muốn giầu có, ông đã âm thầm đi tố cáo với quan phủ Xuân Trường rằng tại làng Trung Linh có đạo trưởng. Quan cấp tốc cho quân về bao vây làng rồi vào từng nhà lục soát tìm đạo trưởng. May măn lúc ấy cha già Tuyên đã xuống hầm ẩn náu, chỉ còn thầy già Tôma Toán chưa kịp trốn thì bị bọn lính bắt được. Quan truyền lệnh bắt tất cả mọi người phải tập trung tại đình làng. Một số người đã chạy trốn, số còn lại bị đem tập trung tại đình làng, trong số người này có thầy già Tôma Toán. Thầy già Tôma Toán đã lấy khăn phủ trên đầu che mặt, nhưng vì đã có ông lang Tư chỉ điểm nên quan tới kéo khăn  ra và tri hô lên:

-“Tên này là đạo trưởng đây rồ!”.

Thầy cải chính, tôi không phải là đạo trưởng, các ông lầm rồi. Tôi chỉ là người giúp việc mà thôi. Quan bắt Thầy bước qua Thánh Giá. Thầy cương quyết không tuân theo nên cuối cùng thầy đã bị bắt, xiềng xich và đeo gông dẫn về  phủ Xuân Trương.

Bị đưa về nhà giam ở phủ, bị tra tấn, đánh đòn khủng khiếp, máu me bắn ra tung toé và bắt nhịn đói nhịn khát. Đánh mệt mỏi  rồi quan lại dụ dỗ bỏ đạo và bước qua Thánh Giá, quan sẽ cho về và thưởng cho nhiều vàng bạc. Sau một tháng bị dụ dỗ và đòn vọt đau đớn quá, Ngày 19  tháng 1 năm 1840 Ngài xiêu lòng bước qua Thánh Giá, xin bỏ đạo. Quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh chưa tin vì khi bước qua Thánh Giá Ngài còn dè dặt, do dự. Quan muốn thử và để biết chắc việc chối đạo của Ngài nên lệnh cho lính đem trở lại nhà tù tạm giam ít ngày nữa, xem sao. Khi trở về nhà tù gặp lại cha Giuse Hiển cùng bị giam, cha Giuse Hiển đã  cầu nguyện rồi dùng lời ngon ngọt khuyên bảo thầy già Tôma Toán ăn năn thống hối và tiếp tục tuyên xưng Đức Tin. Thầy già Tôma Toán nghe lời khuyên thì xúc động, ăn năn tội xin Chúa tha thứ cho mình. Ngài lại mạnh mẽ tuyên xưng lòng tin cậy vào Chúa, cương quyết dù có phải chết cũng vui lòng chấp nhận.

Thấy  thầy già Toán lại cương quyết không bỏ đạo, quan Trinh Quang Khanh bắt hai người đã bỏ đạo tới khóc lóc ỉ ôi, năn nỉ  xin Ngài bước qua Thánh Giá, nếu không thì họ sẽ bị chém. Họ nói nhiều điều xúc phạm đến Chúa và Đức Mẹ. Họ than van suốt mấy ngày liền xin Ngài thương họ kẻo họ phải chết. Lại một lần nữa Ngài xiêu lòng, để họ ngưng không nói phạm đến Chúa và Đức Mẹ nữa, Ngài lại bước qua Thánh Giá!  Ngay sau đó, Ngài thấy mình quá dại dội để bị bọn họ lừa. Ngài đấm ngực ăn năn khóc lóc suốt 15 ngày đêm, không ai can ngăn được. Rất may mắn cho Thầy là trong những ngày đó, cha Đa Minh Trạch cũng bị bắt và đem tới giam chung cùng một phòng giam  nên được cha an ủi và giải tội cho Thầy. Sau hai lần chối đạo, bây giờ Thầy đã ăn năn thống hối và trở nên con người mới, con người cứng rắn, vững vàng trong Đức Tin, quyết chí theo Chúa và làm chứng nhân cho Chúa.

Lần này thì quan Tổng đốc quá giận dữ, truyền đánh đập Ngài, xỉ vả  rồi dọa nạt đủ điều. Quan lệnh cho quân lính đóng gông, cùm, xiềng xích, bắt nhịn ăn, nhịn uống, phải hành hạ tra tấn một cách tàn ác cho tới khi phải bỏ đạo mới thôi. Được thế, bọn lính ra sức làm xỉ nhục Ngài, kẻ thì nhổ nước miếng vào mặt Ngài, kẻ thì nhổ râu nhổ tóc, có kẻ còn tiểu vào mặt Ngài. Nhưng tất cả, lần này người chiến sĩ già của Chúa đả tỏ ra can đảm phi thường, bất chấp mọi đau khổ, mọi sỉ nhục, mọi khổ nhục đớn đau, Ngài sẵn lòng đón nhận tất cả vì Chúa và sẵn sàng được chết vì Chúa.

Ngày 9 tháng 5 năm 1840 khi đưa cha Giuse Hiển đi xử trảm, Thầy Tôma Toán cũng bị điệu đi. Trên lối đi, quan để Thánh Giá trên mặt đất ép các Ngài bước qua. Cả hai đã cương quyết dứt khoát không bước qua, quan  Trịnh Quang Khanh tức giận truyền đưa thầy Tôma Toán về giam trong ngục còn cha Giuse Đỗ Quang Hiển thì giải ra pháp trường Nam Định chém đầu tức khắc

.Vài ngày sau khi trảm quyết cha Giuse Đõ Quang Hiển, quan Tổng đốc lại nói với bọn lính:

- “Dẫn lão già Toán ra đây để nó bước qua Thánh Giá kẻo nó quên”. 

Khi  đối diện với quan Tổng đốc, Thầy Tôma Toán tỏ ra đầy nghị lực, cương quyết và xưng đạo một cách dõng dạc khiến quan phải ngỡ ngàng. Khuyên dụ không được quan truyền đánh một trận vô cùng dã man, tưởng chừng Ngài đã chết, quân lính kéo lê Ngài trên Thánh Giá, Ngài liền vùng dậy quì phục xuống hôn kính và đọc kinh ăn năn tội. Quan Trịnh Quang Khanh lại truyền cho lính phải đánh tiếp rồi giam vào ngục. Quân lính lột hết quần áo Ngài, buộc hai Thánh Giá nhỏ vào hai bàn chân, bắt phơi nắng 13 ngày liên tiếp không cho ăn uống. Tới khi thấy Ngài đói quá, quan bày cho dọn một mâm cơm có thịt, ruợu ngon lành. Mời Ngài ăn rồi bước qua Thánh Giá. Nhưng lại một nữa người anh hùng Đức Tin cương quyết thà chết đói chết khát vẫn hơn là bước qua Thánh Giá. Quan lại bắt tống vào ngục, tiếp tục bắt nhịn đói nhịn khát cho tới khi chết rũ tù.

Vì đói khát và bị hành hạ tàn ác quá nên người chiến sĩ anh dũng Đức Tin không còn sức, đã lịm dần, ngã gục và tắt thở giữa trưa mùa Hè nóng nực ngày 27 tháng 6 năm 1840 trong nhà giam tỉnh Nam Đinh, hưởng thọ 73 tuổi.

Sau khi chết, quan truyền chôn ngài tại vùng đất chôn các tù nhân. Sau bảy tháng, anh Phêrô Dậu và mấy người giáo dân đã xin cải táng rước về mai táng tại Lục Thủy chung với các vị tử đạo khác trong giáo xứ.

Đức Thánh Cha Lêô XIII đã suy tôn Ngài vào bậc Chân Phước và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

   

51. Ngày 30 tháng 6:Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến, Linh mục (1764-1838)

Thánh Vinh Sơn Đỗ Yến sinh năm 1764 tại làng Trà Lũ thuộc giáo xứ Phú Nhai, giáo phận Bùi Chu, tỉnh Nam Định Ngay từ khi còn nhỏ, Ngài đã sốt sắng đọc kinh cầu nguyện, thích đi tu, dâng mình cho Chúa. Tới 12 tuổi Ngài xin vào Chủng viện để tu học. Nhờ trí không minh và đức độ nên được bề trên thương mến. Khi đã học xong chương trình triết và thần học thì Ngài được lãnh chức linh mục qua sự đặt tay của Đức Cha Delgado Y năm 1798. Đến năm 1806 Ngài xin gia nhập Dòng Đa Minh và ngày 22 tháng 7 năm 1807 Ngài lãnh áo Dòng Đa Minh và năm sau thì khấn ba lời khấn của Dòng. Đời sống của cha Vinh Sơn Đỗ Yến thật là một đời sống rất gương mẫu về sự hiền hoà, lòng bác ái, tính tận tâm trong tất cả mọi công việc được trao phó. Ngài lấy sự khiêm tốn và nhịn nhục làm khuôn thước cho mọi giao tế trong khi thi hành chức vụ. Những người được sống gần Ngài đều nhận thấy rằng tâm hồn Ngài luôn luôn bùng cháy ngọn lửa yêu mến Chúa và tha nhân. Ban đầu, bề trên sai Ngài coi xứ Kẻ Mát, sau về Kẻ Sặt. Ở đâu Ngài cũng nhiệt tình khuyên bảo và làm mọi cách để củng cố Đức Tin cho các tín hữu. Giáo hữu rất thương mến Ngài vì lúc nào cũng thấy Ngài vui vẻ, cởi mở, dịu hiền, bình tĩnh, khôn ngoan và thánh thiện.

Mọi công việc mục vụ trong những năm đầu dưới triều vua Gia Long (1802-1820) và đầu thời vua Minh mạng, đối với cha Vinh Sơn Đỗ Yến tương đối còn dễ dàng. Nhưng bước sang năm 1838 vua Minh Mạng hạ lệnh tiêu diệt đạo Công Giáo, nhất là trong điạ phận Đàng Ngoài thì nhiều giám mục, linh mục, thầy giảng và giáo dân đã can trường  hy sinh chính mạng sống mình vì đạo Chúa. Các nhà thờ, nhà trường và làng mạc Công giáo đều bị đốt phá. Trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn này cha già Vinh Sơn Đỗ Yến phải ẩn trốn nay nhà này, mai nhà khác. Có kẻ nội gián báo cho quan biết là cha già Vinh Sơn Đỗ Yến còn lẩn trốn trong làng Kẻ Sặt cho nên quan cho tăng thêm binh lính về vây bắt và kiểm soát rất khắt khe từng gia đình. Quan lại nói nếu không bắt được linh mục Đỗ Yến thì quan sẽ cho lệnh tàn phá bình địa làng Kẻ Sặt.

Thấy tình thế bị đe dọa quá sợ hãi, cha Vinh Sơn Đỗ Yến âm thầm ra đi trong nỗi niềm đau xót khi phải bỏ đoàn chiên. Lợi dụng lúc tối trời cha trốn sang họ Thừa rồi tìm đường đến họ Lực Điền Hưng Yên.Trên đường đi, Ngài  gặp ông Cai Phan là chỗ quen biết. Ông Cai Phan tỏ vẻ cảm thông và năn nỉ Cha dừng chân tạm nghỉ ở nhà ông. Ngay đêm hôm ấy, ông trở mặt bắt Cha, đóng gông và giải Cha về Hải Dương. Giáo dân Kẻ Sặt và Lưc Điền biết tin liền chạy đến đem tiền bạc điều đình để chuộc Cha. Nhưng ông này nhất định không chịu và áp giải Cha về nộp cho quan đầu tỉnh Hải Dương để hy vọng lấy tiền thưởng nhiều hơn Quan Tuần Phủ Hải Dương là người có lòng tốt lại đã biết danh tiếng của Cha già Vinh Sơn Đỗ Yến, quan sẵn lòng quí mến nên quan không muốn hành hạ Cha. Sau ba ngày giam giữ quan cho lệnh đưa Cha ra toà. Quan thấy một cụ già phúc hậu với bộ râu đáng kính nét mặt hiền hoà lại không muốn vấy máu vị đạo trưởng. Quan xin Cha tự nhận là lang y để quan phóng thích. Nhưng vị tông đồ anh dũng của Chúa khiêm tốn đáp lời:

-“Thưa quan, tôi không phải là thầy lang. Tôi là linh mục chuyên giảng đạo và dâng lễ tế lên Thiên Chúa. Tôi sẵn lòng chịu chết chứ không thể nói dối để được sống”. 

Quan lại bày mưu khác để cứu Cha. Quan truyền vẽ một hình vòng tròn rồi yêu cầu cha bước qua hình vòng tròn đó, được coi như là bước qua Thánh Giá.

Cha lại khẳng khái trả lời:

- “Thưa quan, làm như thế cũng như tôi chối đạo, bỏ Chúa rồi! Tôi không thể làm được”. 

Sau cùng, quan Tuần Phủ thấy không còn cách nào thuyết phục vị linh mục đáng kính này bỏ đạo được nên quan phải làm tờ trình gửi về kinh đô và vì không muốn đích thân xử án vị linh mục lão thành đáng kính nên quan xin triều đình cho giải Cha về nguyên quán là tỉnh Nam Định để xử. Vua Minh Mạng không chấp thuận lời yêu cầu của quan Tuần Phủ Hải Dương và làm án tử hình ngay. Bản án ký ngày 20 tháng 6 năm 1838, nội dung như sau:

- “Đỗ Yến người bản quốc là đạo trưởng Gia Tô, bị bắt mà vẫn không chịu bỏ đạo. Thật là người ngu muội, cố tình không theo đường ngay lẽ phải. Vậy trảm quyết ngay, giải về Nam Định làm gì nữa?”

Ngày 30 tháng 6 năm 1838 quan Tuần Phủ cho thi hành án lệnh của vua Minh Mạng, Cha già đáng kính Vinh Sơn Đỗ Yến hiên ngang theo toán quân tiến ra pháp trường, gần họ Bình Lao, cách tỉnh Hải Dương chừng một cây số về hướng phía Tây. Nhìn một cụ già đã 74 tuổi đi bên cạnh toán quân lý hình, nét mặt vui tươi, hân hoan bước từng bước, nhiều người bị xúc động nức nở khóc. Nhưng Cha ôn tồn nhắn nhủ:

- “Anh chị em đừng khóc, nhưng hãy vui mừng tạ ơn Chúa đã thương ban cho tôi được phúc tử đạo. Anh chi em hãy kiên vững gìn giữ Đức Tin. Hãy luôn tin tưởng và trung thành với Chúa” Nói xong, Ngài qui xuống đất cầu nguyện rất sốt sắng rồi đưa cổ cho lý hình thi hành phận sự. Lý hình vung gươm thật cao chém một nhát đứt ngay cổ, đầu người tôi tớ anh hùng của Chúa rơi xuống đất. Quan tặng một tấm khăn lớn để liệm xác và truyền khâu đầu vị tử đạo vào cổ rồi giáo hữu họ Bình Lao xin đưa về an táng. Nhưng tám tháng sau họ lại cải táng đưa về nhà thờ Thọ Ninh. Khi cải táng, người ta thấy thi hài Ngài còn nguyên vẹn như vừa mói ly trần. Một người ngoài Công giáo tên là Trưởng Dong quen biết lúc Ngài còn sống được chứng kiến tận mắt đã sửng sốt kêu lên:

- Thật là người sống khôn thác thiêng. Đã tám tháng mà không tiêu hao chút nào, không hôi tanh mà lại còn phảng phất mùi thơm tho nữa”.

Vị linh mục lão thành đáng kính và là nhân chứng oai hùng của Đức Tin đã được Đức Giáo Hoàng Lêô XIII suy tôn Chân Phước ngày 27 tháng 5 năm 1900. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh Tử Đạo ngày 19 tháng 6 năm 1988.

 

Tháng 7

52. Ngày 3 tháng 7:Thánh Philipphê Phan Văn Minh ,Linh mục (1815-1853)

Thánh Philipphê Phan Văn Minh sinh năm 1815 tại Họ Cái Mơn, quận Mỏ Cầy tỉnh Vĩnh Long. Cha là ông Đa Minh Phan Văn Đức và mẹ là bà Anna Tiếu. Ông giữ chức Trùm Họ Cái Mơn và có 14 người con, cậu Phan Văn Minh là con út của gia đình. Gia đình ông Đa Minh Phan Văn Đức được nổi tiếng là một già đình Công giáo đạo đức.

Nhưng không may mắn cho gia đình là ông bà Phan Văn Đức đều được Chúa sớm gọi về với Chúa, nên mọi công việc trong gia đình đều do người chị cả phải thay cha mẹ đảm đang gánh vác.Cậu Phan Văn Minh là người em út nên được chị cả yêu thương săn sóc đặc biệt. Chị chu đáo lo cho em học giáo lý để xưng tội rước lễ lần đầu rồi ngay sau đó chị lại dạy cậu em học thêm giáo lý về bảy ơn Chúa Thánh Thần cho cậu em lãnh nhận bí tích Thêm Sức lúc 13 tuổi.

Ngay từ nhỏ, cậu Philipphê Phan Văn Minh đã tỏ ra thông giỏi nên Đức Cha Taberd nhận nuôi và gửi cậu vào Chủng viện Lái Thêu. Nhưng chỉ một thờ gian ngắn tới năm 1833 thì Chủng viện Lái Thêu phải đóng cửa vì lệnh cấm đạo của vua Minh Mạng lúc đó rất nghiêm ngặt

Trong thời gian khó khăn này, thầy Minh phải theo Đức Cha lánh sang Thái Lan rồi sau đó, Đức Cha gửi thầy sang du học tại Đại Chủng viện Pénăng, Mã Lai. Tại đây, thầy học rất xuất sắc và được bầu làm Trưởng Tràng trong nhiều năm. Thầy được mọi người từ Ban Giáo sư tới các anh em đồng viện mến phục về tư cách, lòng đạo đức, trí thông minh và nhất là sự khiêm tốn, vui vẻ, hoà đồng với mọi người.Vì được quí mến như thế cho nên ngày nay nếu tới viếng thăm Đại Chủng viện Pénăng, du khách sẽ thấy tại sân trường, vẫn còn pho tượng bán thân và ngay trong Nhà Nguyện vẫn có tượng của cha thánh Philipphê Phan Văn Minh đặt trên bàn thờ. Đây quả là một vinh dự không những chỉ cho Chủng viện Pénăng mà còn là một vinh dự lớn lao cho Giáo Hội Việt Nam chúng ta nữa..

Khi thầy học xong thần học thì lúc ấy Đức Cha Taberd đang dưỡng bệnh tại Calcutta, Ân Độ, biết thầy Phan Văn Minh rất có khả năng cả về La tinh lẫn tiếng Việt nên Đức Cha gọi thầy sang Calcutta Ấn Độ để cùng với Ngài soạn bộ Tự điển Annam-Latinh, một cuốn Tự Điện rất lớn và giá trị.

Sau khi hoàn tất chương trình triết và Thần học, thầy lãnh chức Phó Tế rồi trở về Việt Nam theo lệnh bề trên. Thầy về phục vụ ở Bổn Quán. Trong thời gian này thì Toà Thánh ra chỉ thị phân chia miền Nam thành hai giáo phận Huế và Saigòn. Đức Cha Lefèbre lúc bấy giờ đang bị giam tại Cung Quán Huế được chỉ định làm Giám mục giáo phận Saigòn. Được tin vui mừng này thầy Philipphê Phan Văn Minh vội vã ra Huế tìm đến thăm và chúc mừng vị Giám mục mới của Giáo phận Saigòn. Đức Cha vui mừng gặp thầy và muốn truyền chức linh mục cho thầy. Nhưng vì còn đang bị giam tù nên Đức Cha Lefèbre đã biên thư xin Đức Cha Cuénot Thể truyền chức linh mục cho thầy Phó Tế Phan Văn Minh. Được thư của Đức Cha Lefèbre cậy nhờ, Đức Cha Cuénot Thể đã mau mắn truyền chức linh mục cho thầy Philipphê Phan Văn Minh tại Gia Hựu, Huế lúc thầy mới 31 tuổi.

Từ năm 1840, sau khi vua Minh Mạng qua đời, vua Thiệu Trị lên ngôi, đạo Chúa được hưởng một thời gian tương đối an bình. Tuy vua Thiệu Trị không ra lệnh hủy bỏ những sắc lệnh cấm đạo, nhưng việc cấm đạo không còn gay gắt như trước. Biết các sắc lệnh cấm đạo vẫn duy trì nên các vị Thừa Sai, các linh mục, giám mục vẫn còn phải trốn lánh chưa dám công khai thi hành mục vụ. Nhưng trong âm thầm, các Ngài vẫn tích cực lo mục vụ cho các con chiên bổn đạo của mình. Trong hoàn cảnh này, Cha Phan Văn Minh đã được Đức Giám mục ban quyền để Cha được phép ban Phép Thêm Sức và thi hành mục vụ trong toàn giáo phận.Do đó, cha đã tích cực một cách can đảm lần lượt đi làm phúc cho các xứ đạo: Đầu Nước, Xoài Mút, Chợ Búng, Cái Nhum, Cái Mơn, Ba Giòng, Bãi San, Chà Và, Mặc Bắc v.v.

Năm 1847 vua Tự Đức lên ngôi, rồi liền sau đó, từ năm 1848 việc cấm đạo lại trở nên tàn ác dữ dội hơn bao giờ hết. Tháng 3 năm1851 vua Tự Đức ra chiếu chỉ, truyền  cấm đạo, bắt chém đầu và buông sông các đạo trưởng tây phương, tra tấn, kìm kẹp, hành nhục và xử tử các linh mục bản quốc, phát lưu và phân tán những người theo “Gia Tô Tả Đạo”. Vua truyền các quan Tổng Đốc các tỉnh phải  vâng lệnh triệt để thi hành chiếu chỉ này một cách nghiêm minh.

Trong những năm vô cùng khó khăn này, cha Phan Văn Minh vẫn một lòng tin cậy phó thác nơi Chúa và bình tĩnh thi hành mọi công tác mục vụ. Hằng ngày bằng mọi cách Cha vẫn lén lút tới thăm viếng và dạy giáo lý cho giáo dân trong các vùng Tiền Giang, Hậu Giang một cách rất đều đặn. Các giáo hữu đều cảm phục sự nhiệt thành và lòng dũng cảm của Cha Nhiều người đã chuyền miệng nhau: “Cha hiền từ đức hạnh, Cha thay mặt Đức Chúa Trời, Cha thật hiền lành giống Chúa Giêsu nữa”. Ngoài việc dạy giáo lý và lo lắng vun trồng Đức Tin cho mọi người, Cha còn lo việc cổ động ơn gọi linh mục và tu sĩ nữa. Có lần Cha đã tâm sự với người con đỡ đầu của Cha là linh mục Giacôbê Bình rằng: “Cha nuôi nhiều học trò, nhưng không chắc có ai nối gót Cha được. Vậy con hãy siêng năng cầu nguyện cùng Chúa và Đức Mẹ và con hãy cố gắng tập luyện các nhân đức. Cha hy vọng Chúa sẽ chọn con để nối tiếp công việc của Cha. Con hãy theo ơn Chúa mà học hành tới nơi tới chốn, hy vọng Chúa sẽ chọn con làm linh mục sau này”. 

Tháng 12 năm 1852, vâng lời cha Borelle đang cai quản vùng Cái Nhum, Cha Phan Văn Minh tới Mặc Bắc thay thế cha Nguyễn Văn Lựu, chánh xứ Mặc Bắc đã bị một người tại đó tên là Bếp Nhẫn vì có lần xin tiền cha đi đánh bạc, Cha Lựu không cho nên anh Bếp Nhẫn để lòng thù ghét rồi đi tố cáo với quan cha Nguyễn Văn Lựu là đạo trưởng. Cha Lựu đã trốn sang Ba Giòng và cha Phan Văn Minh đã âm thầm tới thay cha Lựu và trú ngụ tại nhà ông Trùm Họ Mặc Bắc là ông Nguyễn Văn Lựu

Bếp Nhẫn vì thù cha Nguyễn Văn Lựu, đồng thời tham món tiền thưởng vua hứa, nên đã tới bàn tính với Xã Hiệp và Lý Vắp rồi dẫn quân lính từ tỉnh Vĩnh Long về bao vây làng Mặc Bắc để bắt cha Nguyễn Văn Lựu. Hôm ấy là tối Thứ Bảy ngày 26 tháng 2, khi mọi người đọc kinh tối vừa xong thì quân lính đã được Bếp Nhẫn chỉ điểm rằng cha Nguyễn Văn Lựu đang ẩn trốn tại nhà này, nên họ đã kéo thẳng tới bao vây nhà ông Trùm Nguyễn Văn Lựu. Quân lính xông xáo và hò hét, bắn súng dọa nạt, đe đốt nhà Ông Trùm Lựu ra thưa với quan:

- “Thưa quan, quan cho quân tới bắt ai ở đây”

Quan trả lời:

- “Ta có lệnh tới bắt đạo trưởng Nguyễn Văn Lựu

Ông Trùm Lựu thưa:

- “Thưa quan, ở đây không có đạo trưởng Nguyễn Văn Lưu, chỉ có tôi là Nguyễn Văn Lưu mà thôi”.

 Quan ra lệnh bắt trói mọi người trong nhà, trong số đó có cả mấy chủng sinh cũng đang lẩn trốn vớ cha ở đó. Thấy cả nhà bị bắt, sợ vì mình mà cả nhà bị bắt bớ, cha Phan Văn Minh ra nộp mình, nói với quan:

-“Nếu các ông tìm đạo trưởng thì tôi đây là đạo trưởng. Tôi không phải là đạo trưởng Nguyễn Văn Lưu. Tôi xin quan tha cho những người này” 

Quan bắt trói cha vào cột nhà, vì quan sợ bên đạo có phù phép Quan nhất quyết hỏi và bắt cho bằng được đạo trưởng Nguyễn Văn Lựu. Quan hỏi cha Minh:

- “Đạo trưởng Nguyễn Văn Lựu đâu?

Cha Phan Văn Minh trả lờI:

- “Tôi là Đạo trưởng, còn Nguyễn Văn Lựu là ông chủ nhà này.

Quan lãnh binh được lệnh đi bắt đạo trưởng Nguyễn Văn Lựu, mà bây giờ lại bắt được đạo trưởng Phan Văn Minh, chủ nhà lại là tên Nguyễn Văn Lựu. quan thấy hơi lạ, nên lại một thêm một lần nữa:

- “Đạo trưởng tên là Nguyễn Văn Lựu, mà thầy không phải là

Đạo trưởng Lựu. Vậy Đạo trưởng Lựu đâu?

Cha Minh vẫn nhắc lại câu trả lời trên:

- “Thưa quan, Tôi là đạo trưởng, còn Nguyễn Văn Lựu là ông chủ nhà này”.

Sau đó quan bắt trói giải về tỉnh Vĩnh Long cùng với ông Trùm Nguyễn Văn Lựu và một số viên chức đã không chịu tố cáo các đạo trưởng.

Tại nhà giam tỉnh Vĩnh Long, cha Phan Văn Minh bị quan Tổng đốc Lý, quan án Doãn, quan bộ Hoài tra hỏi cha nhiều điều về lý lịch các linh mục những nơi trú ngụ, những liên hệ với giáo dân v.v. Nhưng cha đã khôn ngoan trả lời tất cả các thắc mắc mà các quan cũng không thể khai thác được gì. Cá c quan nổi giận ra lệnh cho hành hạ, tra tấn, bắt đeo gông cùm, xiềng xích. Có khi quan lại cho dụ dỗ, cho lính đem Thánh Giá tới để Cha bước qua, có khi lại dọa nạt, đánh đập, kìm kẹp v.v. Trước tất cả những cám dỗ và hình phạt đau đớn cha Phan Văn Minh vẫn giữ vững lập trường sắt đá, không bao giờ bước qua Thánh Giá, không bao giờ bỏ Chúa, quyết chí trung thành với Chúa và Hội Thánh.

Các quan thấy cha mới 38 tuổi. còn trẻ trung lại thông minh, hiền hoà, dễ thương nên muốn tha cho cha, không bắt cha bước qua Thánh Giá nữa mà chỉ cần cha nói: “tôi xin bỏ đạo” thì các quan cũng tha. Nhưng Ngài cũng một mực từ chối, không làm theo những lời dụ dỗ quái ác đó được. Ngài nói:

- “Xin các quan xét, tôi không thể khai dối trá.như thế đươc. Các quan làm án chém đầu tôi, tôi cám ơn và sẵn sàng chấp nhận chứ theo các quan mà nói như thế thì tôi không dám”.

Trước thái độ cương quyết đó, các quan thấy không còn làm gì hơn được, các quan cho lệnh đem Ngài về giam tại Tuyến Phong chờ ngày thi hành án lệnh. Trong ngục tù, Ngài luôn hãnh diện vì là linh mục và đầy lòng thương mến các bạn tù, dù phải chịu hình khổ và nhiều điều xỉ nhục. Vì không lay chuyển nổi đức tin sắt đá của Ngài, các quan rất thương mến Ngài nên đã lên án “Phát lưu ra Bắc” và gửi án vào kinh xin châu phê. Nhưng vua Tự Đức không nghe, vua truyền phải xử tử. Thế là ngày 3 tháng 7 năm 1853 Ngài đã hiên ngang tiến ra pháp trường cùng với đội lính hùng hậu đi theo. Trên đường ra pháp trường, Đình Khao Vĩnh Long , đi qua bờ sông Long Hồ tới Cái Sơn Bé, quan đã dọn bữa ăn sau cùng cho người tử tội trước khi bị chém. Nhưng Ngài đã cám ơn và từ chối. Lòng tràn ngập hân hoan, miệng tươi cười từ giã mọi người. Tới nơi xử, Cha Philipphê Phan Văn Minh quì chăm chú cầu nguyện.:

- “Lạy Chúa, xin xót thương con. Lạy Chúa Giêsu, xin cho con sức mạnh và can đảm chịu khổ hình để vinh danh Chúa. Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ nâng đỡ con”.

Ba hồi chiêng trống rộn rã vang lên, lý hình vung cao lưỡi gươm chém đứt cổ vị linh mục trẻ trung, thông thái và trung thành với Chúa cho tới hơi thở cuối cùng.

Giáo hữu tới xin xác và rước về Cái Nhum. Các linh mục Gioan Thiềng, Phaolô Lượng và Laurensô Lân cử hành lễ an táng cho Ngài. Sau đó, lại âm thầm rước về an táng tại ngôi nhà thờ mới bị đốt phá tại Cái Mơn. Ngay sau đó, Chúa đã cho vị tử đạo làm nhiều dấu lạ như những đồ vật liên quan tới Ngài tự nhiên toả ánh sáng rực rỡ, nhiều người đã được chứng kiến. Năm 1960, linh hài Ngài lại được đưa về đặt tại Vương Cung Thánh Đường Saigòn.

Ngày 27 tháng 5 năm 1900, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

 53. Ngày 4 tháng 7:Thánh Giuse Nguyễn Đình Uyển,Thầy Giảng (1773-1838)

Thánh Giuse Nguyễn Đình Uyển sinh năm 1773 tại làng Ninh Cường, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, thuộc giáo phận Bùi Chu. Ngay từ nhỏ thầy đã có lòng ước ao dâng mình cho Chúa và xin vào học tai Chủng viện Tiên Chu. Thầy hăng say học hỏi giáo lý rồi sau trở thành Thầy Giảng, có biệt tài dạy giáo lý. Vì biết Thầy có nhiều khả năng và đức tính tốt, lại có lòng đạo đức chăc chắn nên Đức Cha Đa Minh Henares Minh chọn thầy

làm trợ tá đắc lực của Ngài. Bao giờ Đức Cha đi kinh lý hay bất cứ đi đâu, Đức Cha đều đưa thầy đi theo. Dầu được Đức Cha tin yêu, thầy vẫn luôn khiêm tốn, hăng say phục vụ và hài hòa với mọi người, nên lại càng được mọi người qúi mến, đặc biệt là được các bề trên kính nể và tín nhiệm.

Tới năm 1838 vua Minh Mạng lại bắt đạo rất gay gắt, các linh mục và cả Đức Cha Đa Minh Henares Minh cũng đều phải trốn tránh. Trong hoàn cảnh này, Đức Cha trao cho thầy sứ vụ coi sóc xứ Tiên Chu. Vâng lệnh Đức Giám mục, thầy đã đến sống tại Tiên Chu nhiều năm và lo giảng dạy giáo lý, tổ chức những buổi đọc kinh, cầu nguyện , khuyên dạy tín hữu giữ vững đức tin, thăm viếng các gia đình và giùp đỡ các người ốm đau già yếu.. Qua cách sống bình dị, thân thiện với mọi người nên ai ai cũng mến thương và nghe theo lời chỉ dạy của thầy.

Tình hình cấm đạo không giảm bớt, mà mỗi ngày càng trở nên khó khăn và gay gắt hơn. Thầy Giuse Nguyễn Đình Uyển lúc ấy đã 63 tuổi đời. Thầy biết thế nào cũng sẽ có ngày quan quân kéo nhau về truy nã làng Tiên Chu, vì Tiên Chu đã có tiếng là nơi có nhiều vị Thừa Sai hay lui tới.

Quả nhiên điều Thầy nghĩ không sai, ngày 29 tháng 5 năm 1818 quan quân đổ về vây kín làng Tiên Chu, vì có nội công mật báo cho quan biết là Đức Giám mục Henares Minh đang ẩn trốn tại đây. Quan quân ra công lục soát khắp nơi trong làng nhiều ngày mà vẫn không bắt được Đức Cha hay vị đạo trưởng nào. Quan giám sát ra lệnh bắt mọi người trong làng phải tập trung tại đình làng để điểm danh và kiểm tra lý lịch. Thầy Giuse Nguyễn Đình Uyển cũng phải ra trình diện..Vì sơ ý Thầy để lộ Áo Đực Bà đeo trên cổ, quan trông thấy, liền gọi Thầy ra và hỏi::

- “ Ông có phải là đạo trưởng không?

Thầy thẳng thắn trả lời:

- “Không! Tôi không phải là đạo trưởng.

Một tên lính đến vuốt mũi Thầy và nói:

- “Mũi ông này dài, chắc ông là cố Tây?

Thầy vẫn bình tĩnh không trả lời. Quan giám sát tỏ vẻ khó chiụ, truyền bọn lính đưa Thánh Giá bắt Thầy bước qua. Quan nói với vẻ bực tức:

- “Mày không bước qua, tao sẽ chém đầu mày”.

Thầy Giuse Nguyễn Đình Uyển bình tĩnh trả lời:

- “Thưa quan, nếu tôi bị chém chết, thì tôi mới hy vọng được phục sinh với Chúa Kitô”.

Quan nổi giận truyền trói Thầy lại rồi tới chiếu thì giải về tỉnh Hưng Yên.

Về tới Hưng Yên, quan Tuần Phủ Hưng Yên điều tra xem Thầy có phải là đạo trưởng hay chức tước gì thì Thầy vẫn im lặng, không trả lời nên quan tức giận truyền đánh đòn rồi tống giam vào ngục, bắt đeo gông, xiềng xích và chân bị cùm xà lim, rất khổ cực.Đứng trước những khổ hình, đánh đập, Thầy vẫn vui mừng tạ ơn Chúa vì Thầy đã được vinh dự chịu mọi hình khổ để tuyên xưng Đức Tin và xưng đạo Chúa trước mặt vua quan thế gian.

Qua một đêm bị đánh đòn và tra khảo dã man, sáng hôm sau quan lại truyền dẫn Thầy ra trình toà. Quan án nghiêm nghị dùng mọi cách để bắt Thầy bỏ đạo Thầy cương quyết, dứt khoát không thể bỏ đạo, không thể bước lên Thánh Giá. Quan truyền đánh 39 roi thật tàn  nhẫn rồi quan hỏi lẽ đạo, cốt ý để bác bẻ lý lẽ của Thầy. Thầy lợi dụng dịp may giảng đạo cho quan và cắt nghĩa rất rành mạch về 10 Điều Răn đạo Chúa. Quan không bác bẻ được điều gì, bèn chuyển đề tài để hỏi lý lịch của các linh mục ngoại quốc đang giảng đạo tại Việt Nam. Thầy không trả lời.Quan lại cho lính xô Thầy nằm xuống đất và cho đánh tiếp. Khi cho Thầy đứng dậy, Thầy không thể đứng dậy được vì quá đau đớn, đàng khác Thầy đang bị bệnh kiết lỵ nên lại càng kiệt sức. Thấy Thầy quá đau đớn và kiệt sức quan cho cai ngục đưa Thầy về nhà tù. Cai ngục mủi lòng thương, cho Thầy uống thuốc chữa trị  Sau 15 ngày,Thầy hồi lại sức. Quan lại truyền dẫn Thầy ra toà, hy vọng có thể lung lạc được lòng tin của Thầy. Quan thấy Thầy sức yếu, tướng mạo hiền hoà mà phải đeo gông cùm nặng nề thì thương và dùng những lời lẽ ngọt ngào khuyên Thầy:

- “Này ông Uyển hãy bước lên Thánh Giá, ta sẽ cho về với vợ con”

Thầy điềm đạm trả lời:

- “Thưa quan, tôi không có vợ con

Quan tòa bừng bừng nổi giận quát lớn tiếng:

‘ “Bước qua Thánh Giá để giữ lấy mạng sống. Con chó còn ham sống dù chỉ một ngày, huống chi con người”.

Thầy Uyển can đảm và khiêm tốn đáp lại:

- “Thưa quan, nếu quan thương thì tôi được sống, bằng không thì tôi sẵn sàng lãnh nhận cái chết. Còn việc xuất giá và bước lên ảnh tượng để bỏ đạo thì dứt khoát không bao giờ tôi làm”.

Thấy thái độ dứt khoát của người chiến sĩ anh hùng của Chúa, quan ra lệnh đánh thêm 18 roi nữa rồi cho lính dùng sức mạnh kéo lôi Thầy qua Thánh Giá. Thầy ngồi lì xuống đất, mặc cho lính đánh đập túi bụi lên đầu lên cổ. Sau đó, bốn người lính khiêng hai đầu gông nâng cao Thầy lên rê qua Thánh Giá. Nhưng Thầy co hai chân lại để không chạm vào Thánh Giá. Thấy thế, một quan chức khác la lên:

- “Hãy cắt bộ râu đáng ghét của nó đi”

Tên lính đứng gần dó liền nắm lấy bộ râu của Thầy, định cắt nhưng khi thấy Thầy rũ liệt như sắp chết nên lại buông ra.

Sau ít ngày, quan Tuần Phủ lại ra lệnh đưa Thầy ra trước toà và ôn tồn khuyên Thầy bước lên Thánh Giá. Quan nói với Thầy:

- “Tôi thấy ông già yếu, lại hiền lành nên tôi muốn tha ông. Vậy ông hãy vui lòng nghe tôi bước lên Thập Tự này thì tôi sẽ tha ngay, vì lệnh vua như thế”.

Thầy bình tĩnh thưa lại”

- “Thưa quan, đã nhiều lần tôi đã nói, nếu quan tha thì tôi đội ơn, còn việc bước lên Thánh Giá thì dứt khoát không thể nào tôi nghe theo quan. Nếu phải chết thì tôi sẵn lòng chịu chết”.

Nghe Thầy nói, quan tỏ lòng cảm phục ý chí sắt đá của Thầy.nhưng vì tự ái quan lại nói:

- “Bề ngoài ông như sắp chết, thế mà trong lòng vẫn cượng quyết, không sợ chết. Thật lạ lùng!”.

Quan nổi giận vì lòng trung tín anh hùng đó, liền truyền quân lính thay gông nặng xiết vào cổ Ngài mà quay.nhiều vòng Bị máu chảy nhiều và quá đau đớn, Ngài đã trút hơi thở cuối cùng trong ngục, với niềm hân hoan đón nhận triều thiên tử đạo sáng ngày 4 tháng 7 năm 1838. Hưởng thụ 63 tuổi.

Khi nghe Ngài được Chúa rước về,  bổn đạo đến xin đưa xác Ngài về an táng tại vườn Nhà Chung xứ Tiên Chu, nơi Ngài đã sống và phục vụ nhiều năm và đã từng chia sẻ nhiều lo âu, vui buồn với đoàn con trong thời cấm đạo.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước ngày 27 tháng 6 năm 1900 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

54. Ngày 10 tháng 7:Thánh Phêrô Nguyễn Khắc Tự,Thầy Giảng  (1808-1840)

Thánh Phêrô Nguyễn Khắc Tự sinh năm 1808 tại Ninh Bình, thời vua Gia Long. Được rèn luyện tinh thần đạo đức trong một gia đình Công giáo nên ngay từ nhỏ Thầy đã ước áo được dâng mình trong Nhà Chúa. Thầy được cha già Quế giúp đỡ ăn học để trờ thành Thầy Giảng. Khi cha già Quế qua đời thì Thầy theo giúp cha Phêrô Dumoulin Borie Cao sau cũng được Toà Thánh chỉ định làm làm Giám mục nhưng chưa được tấn phong thì đã bị bắt và được phúc tử đạo. Khi giúp cha Cao Thầy đã tỏ ra là một Thầy Giảng có khả năng hoạt động tông đồ, có kiến thức sâu rộng và nhất là có lòng đạo đức nhiệt thành trong mọi công việc được trao phó.Từ đây cuộc đời của Thầy đã gắn liền với cuộc đời của cha Borie Cao.Khi cha Phêrô Dumoulin Borie Cao bị bắt, Thầy đã lăn xả vào ôm gông cha Cao mà khóc lóc. Chính vì thế mà Thầy Phêrô Nguyễn Khắc Tự cũng bị bắt và cũng phải đeo gông nặng nề. Cha Borie Cao thấy Thầy cũng bị bắt thì sợ Thầy còn trẻ tuổi không đủ sức chịu đựng mà chối đạo nên cha tìm cách kiếm một số tiền để chuộc cho Thầy được về. Nhưng Thầy đã mạnh mẽ và cương quyết thưa với cha Cao:

- “Xin Cha đừng làm như thế. Nhờ ơn Chúa giúp, con quyết chịu mọi hình khổ. Theo Cha, con sẽ không bỏ Chúa”.

Thấy Thầy trả lời một cách cương quyết như thế, cha Borie Cao vui mừng xé tấm khăn đang đội ra làm hai phần. cha  trao cho Thầy một phần và nói:

- “Con hãy giữ tấm khăn này để làm chứng lời nói của con”

Cha Phêrô Dumoulin Borie Cao và Thầy Phêrô Nguyễn Khắc Tự bị bắt tại Bố Chính rồi giải về Đồng Hới, mỗi người bị giam trong một chiếc cũi riêng. Thầy Tự bị tra tấn nhiều lần và bị đánh đòn rất đau đớn 4 lần. Lần thứ nhất 30 roi, sau ba ngày thêm 30 roi nữa, thân xác Thầy bị tan nát và máu rớm ra chảy khắp thân mình. Mặc dầu bị tra tấn, đòn vọt đau đớn, lại bị đói, khát v.v. nhưng tinh thần Thầy thì vẫn sáng suốt, mạnh mẽ và cương quyết

Hai tuẫn lễ sau, quan Tuần Phủ lại cho lệnh áp giải ra hầu tòa với hy vọng sẽ thuyết phục được Thầy. Quan hỏi Thầy:

- “Anh hãy khai tên và nơi cư ngụ của các đạo trưởng Tây phương thì ta sẽ tha”

Thầy vẫn một mực trung thành, không khai một điều gì. Quan tức bực lắm nhưng vẫn tỏ ra hiền hoà, dụ dỗi Thầy:

- “ Này anh Tự, anh còn trẻ tuổi nên tôi muốn tha cho anh. Vậy anh bước lên Thập Tự rồi tôi sẽ tha cho anh về. Anh đừng ngây ngô theo mấy ông cố Tây làm gì”

Thầy Phêrô Tự trả lời với niềm xác tín:

- “Thưa quan, tôi không ngây ngô theo mấy ông cố Tây đâu. Tôi xác tín vào niềm tin của tôi. Tôi tin Một Thiên Chúa Ba Ngôi. Tôi tin Chúa Giêsu Kitô đã chịu chết chuộc tội cho tôi. Tôi vững vàng tin như thế nên tôi sẵn lòng chịu chết chứ không bao giờ tôi bước lên Thánh Giá Chúa tôi, không bao giờ tôi bỏ đạo”.

Nghe Thầy nói thế, quan truyền đánh 30 roi rồi lệnh đem tống giam chung với Cha Borie Cao, cha Phêrô Võ Đăng Khoa, cha Vinh Sơn Nguyễn Thế Điểm cùng một số giáo dân khác nữa, trong đó có ông Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh cũng gọi là Năm Quỳnh. Tuy được giam chung nhưng Thầy vẫn phải đeo gông nậng nề, chân bị cùm và xiềng xích nhưng Thầy rất vui và luôn tỏ ra sẵn sàng chết cho Chúa. Thầy tạ ơn Chúa vì được giam chung với các linh mục và nhiều giáo dân khác, Thầy lại càng hăng hái trong việc khuyên bảo anh em bạn tù hãy luôn tin cậy vào Chúa, hãy kiên trì giữ vững Đức Tin trung thành với Chúa và cầu nguyện luôn để Chúa ban thêm sức mạnh mà chiụ các hình khổ vì Chúa.

Sau một thời gian dài 4 tháng, Thầy cùng bị kết án tử hình với

Đức Cha Phêrô Dumoulin Borie Cao, lúc ấy cha đã được Toà Thánh gửi sắc phong Giám mục, cha Phêrô Võ Dăng Khoa, cha Vinh Sơn Nguyễn Thế Điểm và ông Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh cũng gọi là Năm Quỳnh.

Ngày 24 tháng 11 năm 1838 thi hành án lệnh, Đức Cha Borie Cao, Cha Khoa và cha Điểm bi điệu ra pháp trường Đồng Hới xử giảo theo lệnh vua Minh Mạng. Riêng Thầy Phêrô Nguyễn Khắc Tự và ông Antôn Nguyễn Hữu Năm, vua lại ra lệnh trì hoãn việc xử vì hy vọng hai người này sẽ thay lòng đội dạ mà bỏ đạo.

Sau khi Đức Cha và hai cha bị xử rồi, Thầy Tự và ông Trùm Nguyễn Hữu Năm vẫn được giam chung với nhau. Hai người thúc giục nhau đọc kinh cầu nguyện, vững lòng cậy trông Chúa, xin Chúa giúp để luôn trung thành với Chúa. Ông cai tù tên Đoài cũng dễ dãi cho phép con cháu ông Trùm Năm ra vào thăm nuôi cả hai người. Cha Ngôn cũng nhiều lần cải trang lén lút vào giải tội và đem Minh Thánh Chúa cho hai người

Giam giữ hai môn đệ trung kiên của Chúa trong suốt hai năm trời, đã nhiều lần các quan dâng sớ vào kinh xin vua cho phép thi hành bán án, nhưng vua Minh Mạng vẫn trì hoãn và khuyên các quan hãy kiên nhẫn chờ đợi ngày hai người bước lên Thánh Giá và bỏ đạo. Biết bao nhiêu lần đã bị đưa ra công trường tra tấn, đánh đập, hành hạ và làm xỉ nhục. Nhưng lạ lùng thay, trái tim của cả hai người hầu như đã trở thành sắt đá, không ai có thể lay chuyển đưọc lòng tin của hai Đấng.

Phải chờ đợi mãi tới tháng 7 năm 1840, vua Minh Mạng mới cho phép thi hành bản án. Trong bản án đã ghi: “Tên Tự, học trò ông Borie Cao, đã không chịu đạp ảnh, vì người ta đã cho nó ăn thuốc làm tăng sức mạnh và kiên trì trong lầm lạc. Vì lý do này mà nó không có hy vọng sửa sai”.

Thuốc làm tăng sức mạnh ở đây các quan có ý nói Mình Thánh Chúa mà các người Công giáo lãnh chịu. Sau đó, các quan lại sửa lại bản án rõ ràng hơn như sau: “Tên Nguyễn Khắc Tự, học trò cố Cao, không chịu đap ảnh, thuộc vào hạng bất trị và cố chấp. Vậy tôi kết án đánh 100 roi và lưu đày 3,000 dặm tức là đi đày Phú Yên, và phải ghi vào má hai chữ “Tả Đạo” và má bên phải hai chữ “Phú Yên”. Vua Minh Mạng còn truyền phải thúc ép bỏ đạo hai ba lần nữa. Nhưng cả hai vị anh hùng của Chúa vẫn hiên ngang chấp nhận chết chứ không bước lên ảnh tượng và chối bỏ đạo Chúa.

Ngày  20 tháng 6 năm 1840 bản án hai tông đồ kiên trung của Chúa được vua Minh Mạng châu phê gửi về. Được tin, hai Ngài vui mừng quì cầu nguyện tạ ơn Chúa và từ đây, các Ngài đóng cửa ngục lại, không gặp gỡ những người tới thăm viếng nữa. Các Ngài cùng nhau sốt sắng dọn mình để lãnh nhận triều thiên tử đạo. Tới ngày 10 tháng 7 năm 1840, quan Giám sát và đoàn lính có tới cả trăm người tới nhà tù áp giải hai vị anh hùng Đức Tin ra pháp trường Đồng Hới. Có đông đảo tín hữu cùng đi theo đoàn quân, tạo thành một rừng người ồn ào, nhiều người để lộ nét mặt đăm chiêu hồi hộp và lo sợ. Đi theo đoàn lính, người ta thấy ông già Năm Quỳnh đi trước, thầy Tự trẻ trung đi sau, nét mặt cả hai đều tươi cười, chân nhịp nhàng bước đều đều.

Pháp trường Đồng Hới này cũng chính là pháp trường đã xử Đức Cha Borie Cao và hai cha Khoa và Điểm. Thầy Phêrô Nguyễn Khắc Tự hỏi chỗ nào là chỗ đã xử Đức Cha Cao và xin lý hình cho Thầy được xử cũng chính nơi ấy. Lý hình chỉ chỗ, Thầy Nguyễn Khắc Tự quì gốicầu nguyện và xin được xử chính nơi ấy. Lý hình tháo gông và xiềng xích, Thầy Tự nằm xuống đất, lý hình tròng giây qua cổ. Chiêng trống ba hồi ầm ĩ vang lên, hai lý hình cầm hai đầu giây cùng xiết thật mạnh, thật chặt Thầy tắt hơi thở cuối cùng, gĩa từ cuộc đời ô trọc khi mới 32 tuổi.đời. Linh hồn Thầy bay lên cùng Chúa lúc đó là khoảng 3 giờ chiều thứ Bảy ngày 10 tháng 7 năm 1840.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tôn phong Ngài lên bậc Chân Phước ngày 27 tháng 5 năm 1900 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

 

55. Ngày 10 tháng 7:Thánh Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh (tự Năm Quỳnh)Trùm Chánh (1768-1840)

Thánh Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh cũng gọi là Năm Quỳnh sinh năm 1768 tại làng Mỹ Hương, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, thuộc giáo phận Vinh. Cha của Ngài là ông Antôn Nguyễn Hữu Hiệp và mẹ là bà  Madalena Lộc. Theo gia phả thì ông Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh là con cháu 15 đời của đệ nhất công thần Nguyễn Trãi (1380-1442) và ông là con thứ 5 của gia đình cụ Nguyễn Hữu Hiệp nên họ hàng làng xóm thường gọi ông là Năm Quỳnh.

Ngay từ nhỏ, Ngài đã có lòng ao ước dâng mình trong Nhà Chúa và theo đuổi ơn gọi làm linh mục.Ngài đã xin làm môn đệ Đức Cha Labartette Bình, xin Đức Cha nhận và nâng đỡ để sau này được sống gần Đức Cha. Nhưng vì trong gia đình cụ Nguyễn Hữu Hiệp đã có hai người con trai đi tu rồi nên cụ Nguyễn Hữu Hiệp bắt cậu Quỳnh trở về để có người con nối dõi tông đường. Vâng lời cha mẹ Ngài đã trở về rồi sau đó lập gia đình với một thiếu nữ Công Giáo ngoan hiền trong xứ.

Năm 1800 Ngài phải nhập ngũ trong quân đội của Nguyễn Ánh đi chiến đấu chống quân Cảnh Thịnh, lập được chiến công nên được vinh thăng chức Vệ Úy. Tới năm 1802, đất nước thanh bình, vua Gia Long lên ngôi, Ngài xin giải  ngũ trở về mua đất làm nhà, sống nghể buôn bán và đi học nghề làm thuốc.Ngài chữa được nhiều con bệnh, giúp rất nhiều người nghèo khó, những người nghèo thì Ngài chữa bệnh và cho thuốc miễn phí lại còn giúp đỡ thêm tiền bạc. Thấy vậy, vợ con than phiền và tỏ ý không bằng lòng thì Ngài nói:

-“Tôi chưa thấy ai giúp đỡ cho những người nghèo đói mà Chúa lại để cho họ phải túng thiếu. Chúa cho chúng ta sống, tất nhiên Chúa đã quan phòng cho chúng ta”

Làm nghề Thầy Thuốc lại chữa bệnh mát tay như thế nên dần dần Ngài trở thành một lương y nổi tiếng khắp nơi. Từ quan tới dân trong Huyện, nếu bị bệnh tất tất đều tìm đến Thầy Lang Năm Quỳnh. Vì biết Ngài tốt lành, giầu lòng bác ái và có tinh thần phục vụ như thế nên dân làng trong xứ Mỹ Hương bầu Ngài làm Trùm Chánh của xứ. Với trách vụ này, Ngài lại càng nhiệt tình chăm lo việc trong xứ đạo và đặc biệt lưu ý giúp đỡ các linh mục cũng như các vị Thừa Sai trong vùng.  Ngài còn dành ra nhiều thời giờ dạy giáo lý, tổ chức các buổi đọc kinh cầu nguyện trong xứ rất sôt sắng.

Tới tháng 6 năm 1838, vua Minh Mạng ra lệnh bắt đạo rất gay gắt và cho truy lùng bắt các linh mục, đặc biệt là linh mục Thừa Sai Candath Kim được mật báo cho biết là đang ẩn trốn tại Quảng Bình. Biết được tin ấy, ông Năm Quỳnh vội vã bí mật đưa cha Candath Kim tới một trang trại cũ của tổ tiên để lại ở Kim Sen. Ngài cũng mang theo một số ảnh tượng, giấy tờ quan trọng của xứ Mỹ Hương để cất giấu ở trang trại này. Mấy ngày sau, Ngài sai người giúp việc rất trung thành tên là Du trở về Mỹ Hương lấy thêm một ít đồ dùng cần thiết, thì trên đường về, ông Du bị quân lính chặn đường, bắt để tra hỏi nơi ông Trùm Năm Quỳnh giấu cha Candath Kim. Ông Du không nói , bị đánh đau quá nên ông nói ông Trùm Năm Quỳnh có cất giấu một ít đồ đạo ở Kim Sen. Nghe theo lời khai đó, quan vội vã lệnh cho quân lính cấp tốc tới vây Kim Sen, lục soát bắt được Ngài và tịch thu một số ảnh tượng và đồ đạo, rồi giải Ngài về Đồng Hới

Về tới trại giam Đồng Hới, Ngài vui mừng được gặp lại Đức cha Borie Cao, cha Khoa, cha Điểm, thầy Tự và một số bạn bè đồng đạo cũng đang bị giam ở đó. Cùng bị giam và cũng rất nhiều lần Ngài bị tra tấn chung với các Đấng khác, nhưng lần nào thì Ngài cũng chứng tỏ sự kiên cường chiụ mọi đau đớn. Nhiều lần các quan muôn tha Ngài vì biết Ngài là một lương y cao tay, đã có những lần chính Ngài đã chữa bệnh cho các quan, nên các quan trọng nể và khuyên Ngài:

- “Này ông Năm Quỳnh, ông bước qua ảnh tượng một lần thôi thì chúng tôi sẽ cho ông về ngay với vợ con”

Ngài  vui vẻ trả lờI:

- “Cám ơn các quan. Các quan tha thì tôi về, còn việc bước qua ảnh tượng thì có phải chết cũng không bao giờ tôi chối Chúa. Dầu chỉ một lần thì dứt khoát cũng không bao giờ tôi bức lên ảnh tượng Chúa tôi”

Có lần các quan lệnh cho lính kéo Ngài qua Thánh Giá rồi la lớn tiếng rằng”

- “A, tên Năm Quỳnh đã chối đạo rồi!”

Ngài lớn tiếng phản đối rằng:

- “Việc này là do các quan cho lệnh lính kéo tôi qua Thánh Giá, nếu có tội thì là tội các quan chịu, chứ tôi không có tội’

Thấy Ngài vững vàng như thế thì các quan bực mình và cho lệnh đóng gông rồi giải về giam trong ngục.Ngài xin các quan cho Ngài một bản án được chết cho Chúa chứ nhật định sẽ không bao giờ chối Chúa. Hình khổ và đớn đau Ngài sẵn sàng đón nhận vì đạo Chúa, vì tin yêu Chúa.

Chờ đợi đã lâu, đánh đập, đòn vọt và hình khổ đã nhiều thế mà không một người nào sợ hãi mà bước qua Thánh Giá. Các quan thất vọng, liền gửi án về kinh  xin án lệnh của Vua. Theo bản án thì Đức Cha Borie Cao bị kết án trảm quyết (chặt đầu), các cha Khoa và cha Điểm bị kết án xử giảo (thắt cổ), còn thầy Nguyễn Khắc Tự và ông Nguyễn Hữu Quỳnh tự Năm Quỳnh cũng bị xử giảo nhưng giam hậu, có nghĩa là lệnh xử sẽ ban hành sau.

Sau khi xử Đức Cha Borie Cao, cha Khoa, cha Điểm, thầy Tự và ông Năm Quỳnh còn bị giam trong nhà tù gần hai năm nữa. Vua có ý kéo dài ngày xứ như vậy là vì hai ngài không phải là đạo trưởng, chỉ là thứ dân mà thôi nên vua muốn để thuyết phục hai Ngài bỏ đạo. Trong thời gian gần hai năm trời này, nhiều lần các Ngài cũng đã bị ra trước toà án để bị tra vấn, nhiều lần cũng bị đánh đập, hành hạ, nhịn đói, nhịn khát. Nhưng đốI vớI tất cả những sự khốn khó bà đau đớn ấy các Ngài đã can đảm chấp nhận hết, không một lờI kêu ca, than vãn. Các Ngài luôn cầu nguyện và tạ ơn Chúa đã cho các Ngài được vinh dự chia sẻ sự đau đớn của Chúa trên Thập Giá. Nhiều lần các quan cho người nhà tới thăm nuôi và xin người nhà khuyên dụ các Ngài bước qua Thánh Giá để được tha về với vợ con. Nhưng các Ngài còn khuyên bảo những người tới thăm nuôi rằng: Hãy cầu nguyện và tạ ơn Chúa thay cho chúng tôi. Đước chềt vì Chú`a là một ơn trọng đại lắm.

Vì để lâu ngày quá và nhất là vì các quan tỉnh Quảng Bình khẩn khoản xin nhiều lần quá nên vua Minh Mạng đã phê chuấn bản án ngày 12 tháng 6 năm 1840. Người con cả của ông Trùm Nguyễn Hữu Quỳnh tên là Nguyễn Hữu Ngôn được tin vội vào nhà tù báo tin lúc Bố đang dọn ăn sáng. Bố vui mừng bỏ cả ăn sáng, nói với con:

- “Bố vui mừng tạ ơn Chúa! Bố mong đợi tin này đã lâu. Nay được rồi thì còn thiết gì của ăn dưới thế nữa.”

Từ hôm đó cho tới ngày bị xử, Ngài không tiếp đón ai nửa. Ngài chỉ âm thầm cầu nguyện, dọn mình để về với Chúa. Ngày các Ngài mong đợi đã tới, thứ Bảy ngày 10 tháng 7 năm 1840, quan giám sát tỉnh Quảng Bình cùng vớI 100 quân lính dẫn thầy Phêrô Nguyễn Khắc Tự và ông Antôn Nguyễn Hữu Quỳnh ra pháp trường Đồng HớI cũng là nơi đã hành quyết Đức Cha Borie Cao, cha Khoa, cha Điểm. TớI nơi, các Ngài chào từ biệt mọI ngườI rồI quì gốI xuống ngay tạI chỗ đã xử Đức Cha và các cha trước. Sau đó, quân lính tháo gông, trói hai tay vào hai cọc và chân vào một cọc như hình Thánh Giá, rồi vòng giây qua cổ, mỗi đầu giây có 3 tên lính mạnh khoẻ cầm sẵn, đợi ba hồi chiêng trống nổi lên thì hô nhau kéo thật mạnh, xiết cổ lại và tội nhân tắt thở thì buông ra. Các Ngài đã vĩnh viễn lìa bỏ trần thế để về vớI Chúa ngày 10 tháng 7 năm 1840. Con cháu và giáo dân  đã xin xác các Ngài đem về an táng tại Kim Sen, nơi thi hài đã chôn táng tổ tiên dòng họ của Ngài.

Ngày nay nếu du khách có dịp hành hương tớI Kim Sen sẽ được đọc hai câu thơ tuyệt hay ghi tên mộ Ngài:

“Nghĩa khí nêu cao trên đất nước,

Oai linh phù hộ khắp non sông”

Trong tờ phúc trình hằng năm về các vụ hành quyết của quan chánh án tỉnh Quảng Bình dâng lên vua Minh Mạng ngày 19 tháng Giêng năm Minh Mạng thứ 22, trong đó có ghi lạI vụ hành quyết thánh Phêrô Nguyễn Khắc Tự và thánh Ant6on Nguyễn Hữu Quỳnh như sau:

“Án xử giảo tứ khắc có  hai tội nhân là Nguyễn Hữu Quỳnh sinh năm 1768 tạI làng Mỹ Hương, tổng Thạch Xá, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng BÌnh, thọ 73 tuổi. Một ngườI nữa tên là

Nguyễn Khắc Tự sinh năm 1808, không rõ quê quán, cư ngụ tại ngoại làng Bình Hải, huyện An Mô, tỉnh Ninh Bình, thọ 32 tuổi Lý do ghi trong bán án là theo đạo Gia Tô, ngoan cố không theo lệnh vua mà bỏ đạo.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã tuyên phong Ngài lên bậc Chân Phước ngày 27 tháng 5 năm 1900 và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

 

56. Ngày 12 tháng 7:Thánh Ingatiô Delgado Y,Giám mục ( 1762-1838)

Thánh Ignatiô Delgado Y sinh ngày 23 tháng 11 năm 1762 tại làng Villa Feliche, tỉnh Saragozza miền Arogon, Tây Ban Nha trong một gia đình Công giáo rất đạo đức. Ngay từ nhỏ, cha mẹ đã gửi Delgado  tới trường mẫu giáo của các Nữ Tu dòng Xitô rồi dòng Biển Đức, Được các Nữ Tu chăm sóc, dậy chữ và giáo lý nên Delgado đã được hấp thụ một nền giáo dục tôn giáo rất vững chắc. Sau lớn lên, Delgado xin vào Dòng Đa Minh tại tu viện Catalayud thuộc tỉnh dòng Aragon.

Thầy Delgado vao Nhà Tập rồi khấn Dòng lúc 20 tuổi. Sau đó được gửi đi học triết và thần học.Tuy nhiên ngay từ khi còn học với các Nữ Tu dòng Xitô và dòng Biển Đức, thầy Delgado đã được nghe các Sơ kể truyện các Nhà Truyền Giáo ở Viễn Đông rất khó nhọc nhưng các Ngài rất can đảm lo việc truyền giáo, tới khi được đọc thư của cha chính Alonsô Phê ở Việt Nam đề ngày 25 tháng 6 năm 1780 báo cáo về số người và công việc rất nhiều, cần xin thêm người, thầy Delgado thấy lòng mình rộn lên, ước mong được nhập hàng ngũ các Nhà Truyền giáo ở Việt Nam. Năm 1785, sau khi bàn hỏi ý kiến của cha linh hướng và các Bề trên, thầy Delgado chính thức xin chuyển qua tỉnh dòng Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi và sau đó thầy được gửi đi Manila Phi Luật Tân để tiếp tục học thần học và học hỏi về công việc truyền giáo tại Việt Nam.

Năm 1787 thầy Delgado thụ phong linh mục tại Manila và năm 1788, Ngài cùng với 15 linh muc tu sĩ khác tình nguyện sang truyền giáo tại Việt Nam.  Nhưng Bề trên chỉ chọn cha Delgado và một linh mục nữa gửi sang Việt Nam  Hai nhà truyền giáo trẻ trung xuống tàu đi Việt Nam. Thế nhưng tại Việt Nam khi đó đang có nội chiến nên tàu không thể cập bến nên phải chu du từ Macao đến Malacca rồi cuối cùng lại phải trở về Macao. Trong thời gian chu du này, cha Delgado thiết tha cầu xin Chúa cho giấc mơ truyền giáo sớm được thực hiện, ngài nóng lòng được sớm đặt chân tới Việt Nam. Ngài phải chờ đợi mãi tới năm 1790 Ngài và 3 linh mục khác, trong đó có cha Henares Minh sau làm Giám mục mới thực sự đặt chân trên mảnh đất yêu kiều Việt Nam. Tới Việt Nam, Ngài ra công sức học tiếng Việt Nam và tìm hiểu về phong tục, tập quán của người Việt Nam. Sau đó, Bề trên đặt Ngài làm Giám đốc chủng viện, rồi làm cha Chính Địa phận, kiêm chức đại diện các linh mục dòng Đa Minh tại Việt Nam.

Ngày 11 tháng 2 năm 1794 Đức Giáo Hoàng Piô VI đặt Ngài làm Giám mục Phó với quyền kế vị, nhưng đợi mãi tới tháng 9 năm sau Ngài mới được tấn phong lúc 33 tuổi. Ngài nổi tiếng là thông thái, nhân đức và rất hiểu biết về văn hoá Việt Nam nên Ngài dễ dàng hoà đồng với mọi hoàncảnh của Việt Nam.

Tháng 8 năm 1798 vua Cảnh Thịnh ra sắc chỉ cấm đạo, triệt hạ các nhà thờ, bắt bớ các vị Thừa Sai linh mục và Thầy Giảng, bắt buộc các tín hữu phải bỏ đạo, phải bước lên Thánh Giá. Đức Cha Delgado Y viết thư cho các giáo sĩ cất các đồ đạo, và nếu ẩn trốn thì cũng đừng đi quá xa để còn sống gần giáo hữu và giúp đỡ việc thiêng liêng khi các tín hữu cần đến,

Riêng Ngài, Ngài vẫn đi thăm viếng các xứ đạo cách âm thầm, chăm lo cho từng linh mục, Thầy Giảng đang hoạt động truyền giáo trong giáo phận. Trong một văn thư Ngài viết gửi cho Bề trên Tổng Quyền ở Rôma, Ngài viết: “Các linh mục phải ẩn trốn trong các hầm hố, trong rừng sâu hay trên đồng vắng. Nhưng vẫn lén lút có khi phải cải trang về chăm lo mục vụ cho các tín hữu. Xin cầu nguyện cho anh em tại đây”.

Đến thời đai vua Gia Long và những năm đầu của vua Minh Mạng, tình hình cấm đạo đã nhẹ nhõm. Đức Cha Delgado Y lợi dụng tình thế, tổ chức giáo phận vững chắc hơn. Ngài ưu tư tới việc đào tạo các linh mục ngưòi bản xứ.mở chung viện tại

 Ninh Cường, Lục Thủy, Tiên Chu, Ngọc Đồng. Nhờ vậy mà chỉ trong vòng 10 năm sau con số linh mục lên tời 54 linh mục. vừa Việt vừa Tây Ban Nha, có thêm 10 ngàn người lớn xin Rửa Tội, con số giáo dân toàn giáo phận lên tới 160 ngàn, và gần 800 giáo xứ và họ đạo  Giáo dân đang sống trong an bình như thế thì năm 1838 sóng gió lại nổi lên với người Công giáo. Vua Minh Mạng được báo cáo là quan tổng đốc tỉnh Nam Định là Trịnh Quang Khanh không tích cực thi hành sắc lệnh cấm đạo của vua nên vua cho triệu hồi Trịnh Quang Khanh về kinh đô khiển trách. Bị khiển trách và đe đọa bị mất chức nên khi trở về tỉnh, Trịnh Quang Khanh đã trở thành con hùm xám thẳng tay đàn áp đạo Chúa Vua lại sai tướng Lê văn Đức chỉ huy hơn hai ngàn quân lính từ kinh đô về tăng cường để bắt đạo. Cuộc lùng bắt đạo lại sôi sục khắp nơi. Các Chủng viện Ninh Cường và Lục Thủy cũng như nhiều Nhà Chung, Nhà Dòng đều bị kiểm soát rồi dần dần phải đóng cửa. Các Chủng sinh phải giải tán. Các Giám mục, linh mục đều phải trốn lánh, nhiều vị phải trốn dưới hầm tại làng Kiên Lao.

Thời đó, Kiên Lao là một trong những trung tâm Truyền giáo lớn, một giáo xứ lớn có tới hơn 5 ngàn giáo dân. Các chức sắc trong xứ rất sốt sắng trong việc giúp đỡ và bảo vệ các linh mục cũng như giám mục. Họ dàn xếp chỗ ẩn trốn cho các giám mục, các linh mục, mỗi vị ở một chỗ rất chu đáo. Trong làng có ông đồ Hy dạy học, ông dò xét và nghi là trong làng có các đạo trưởng trú ẩn, ông dò hỏi rồi đi báo với các quan.

Được tin báo, ngày 27 tháng 5 năm 1838 quan Lê văn Thế dẫn hơn hai trăm lính về vây làng Kiên Lao nhưg không bắt được ai nên bỏ đi. Sáng hôm sau quan lại cho lính trở lại vây kín những nơi đã được chỉ điểm. Trong khi đó, Đức Cha Delgado Y vì yếu nên mấy người thanh niên khiêng đi trên võng bị lính chặn lại, Ngài bị bắt ngay trên võng, quân lính trói Ngài vài vui mừng reo hò cáng về đình làng, quên cả việc truy

Về tới đình làng, quan hỏi Ngài: nã các Thừa Sai khác, nhờ vậy mà nhiều linh mục thoát nạn.

-“Ông ở đâu tới?’

Đức Cha bình tĩnh trả lời:

- “Tôi ở nơi khác mới đến làng này. Họ chẳng liên hệ gì tới tôi”/

Quan nói tiếp:

- “Ông đã bị bắt, ông có thể tự vẫn như những người dũng cảm thường làm không?”

Đức Cha trả lời:

- “Chúng tôi không được tự vẫn, vì đó là trọng tội. Nhưng nếu vì đạo, quan truyền giết tôi thì tôi hết sức vui mừng”.

Quan nghe Ngài nói thì cười rồi ra lệnh nhốt Ngài vào cũi để đưa Ngài về Phủ Xuân Trường.

Bị giải về nộp cho quan Lê Văn Thế ở Phủ Xuân Trường, Đức Cha vẫn bị nhốt trong cũi gỗ, bốn phía có các hàng song như cũi giam dã thú, các song gỗ đóng liền sát với nhau để không thể phá được. Trên nóc cũi có một cửa nhỏ để đưa đồ ăn, chiếc cũi thấp nên Đức Cha không thể đứng lên được, chỉ có thể bò qua lại mà thôi. Đức Cha được ở trong cũi này cho tới ngày chết và bị xử trảm.

Trong khi đó, tại tỉnh Nam Định, quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh nghe tin bắt được Đức Cha Delgado Y, quan vui mừng truyền lệnh cho tăng cường thêm 100 lính  tới giải Đức Cha về Nam Định ngay. Về nhà giam Nam Định, Ngài vẫn bị giam trong cũi và bị hành hạ cực khổ, bị nhịn đói nhịn khát, ngày đêm vẫn bị nhốt trong chiếc cũi như con vật. Một vài lần quan gọi Đức Cha ra toà để tra vấn, Ngài không khai điều gì có thể liên lụy đến bất cứ ai, cho nên quan rất bực tức, cho lính chửi bới thậm tệ bằng những lời nói làm xỉ nhục, hành nhục và nhổ cả lên mặt Ngài. Ngài vẫn nhịn nhục chịu mọi cực hình. Có lần tra vấn xong thì họ khiêng cũi đưa ra cửa thành để ban ngày thì phơi nắng, nóng cháy da cháy thịt, ban đêm thì lạnh lẽo. Ngài vẫn ngồi trong cũi, lần hạt đọc kinh, trên tay lúc nào cũng ôm cuốn sách kinh. Quan tổng đốc cố ý hành nhục Ngài như vậy để mong Ngài khai và thuyết phục Ngài bước qua Thánh Giá. Nhưng ngoài những lời khai về lý lịch của Ngài, Ngài không hề tiết lộ một người nào hay một nơi nào liên hệ tới Ngài. Có lần Ngài nói với quan và những người hành hạ Ngài rằng:

- “Tôi tin chắc chắn rằng quan và và người chưa hiểu biết gì về đạo Thiên Chúa, nếu các Ngài biết, tôi tin chắc chắn các ngài sẽ theo, chứ không cấm cách như bây giờ”.

Sau 43 ngày giam trong cũi và qua nhiều lần tra vấn cũng như bị hành nhục, bị đói khát, bị đánh đập nhưng không thuyết phục được Ngài, nên ngày 14 tháng 6 năm 1838 quan tổng đốc Trinh Quang Khanh trình bản án lên triều đình, xin vua phê chuẩn. Vua Minh Mạng muốn ghép Ngài vào tội “làm mật thám” chứ không muốn kết tội giảng đạo Gia Tô. Nhưng Ngài không chịu. Ngài nói với quan rằng:

-“ Tôi ở An Nam đã 48 năm. Tôi có giấy tờ của Tiên Đế là Gia Long cho phép tôi giảng đạo.Tôi không làm mật thám nên không thể ghép tôi vào tội ấy”.

Sau đó, án lần thứ hai gửi vào kinh đô bị ghép tội giảng tà đạo Gia Tô, vua Minh Mạng phê chuẩn. Nhưng bản án chưa về kịp thì Ngài đã quá kiệt sứcvì bị giam trong cũi quá cực khổ, bị đói khát, lại vì già yếu, vì bệnh tật nên Ngài đã tắt thở trong cũi ngày 12 tháng 7 năm 1818. Hưởng thọ 76 tuổi,làm giám mục 43 năm  Sau khi tắt thở, quân lính lấy vải cuốn đầu ngón chân đốt xem Ngài đã chết thật chưa rồi thông báo cho quan Tổng đốc tỉnh Nam Đinh là Trịnh Quang Khanh. Dầu đã chết, Trịnh Quang Khanh cũng cho thi hành đúng bản án, bắt lính khênh cũi Ngài ra pháp trường Bảy Mẫu, mở cũi rồi đưa thi thể Ngài ra chém đầu trước sự hiện diện của quan Giám Sát và đông dảo những người tham dự.

Các đạo hữu đã xin xác Ngài đem về an táng tại bàn thờ ngôi thánh đường đã bị phá hủy ở Bùi Chu. Đầu của Ngài bị  treo  trên cây 3 ngày rồi buông xuống sông. Vị Hoàng. Sau hơn 3 tháng người ta mới vớt được, đem về an táng chung với thi thể của Ngài.

Ngày 27 tháng 5 năm 1900, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII tôn phong Ngài lên hàng Chân Phước và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nâng Ngài lên hàng Hiển Thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

57. Ngày 12 tháng 7:Thánh Anê Lê Thị Thành,cũng gọi là Anê Đê, Giáo Dân (1781-1841)

Thánh Anê Lê Thị Thành sinh năm1781 trong một gia đình Công giáo tốt lành tại làng Gia Miếu cũng gọi là Bái Điền, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. Nguời ta thường gọi bà là bà Anê Đê vì theo phong tục đia phương miền ấy người ta thường gọi cha mẹ bằng tên người con đầu lòng. Tên Đê là tên người con trai đầu lòng của gia đình ông bà.

Vì công việc làm ăn sinh sống nên cha mẹ bà đã di chuyển về quê ngoại là Phúc Nhạc một giáo xứ lớn thuộc tỉnh Ninh Bình, giáo phận Phát Diệm ngày nay, khi ấy bà Thành còn nhỏ tuổi. Tuy còn nhỏ, nhưng cô Lê Thị Thành đã biết giúp mẹ trong những công việc nhỏ mọn buôn bán kiếm tiền nuôi sống gia đình. Cô đã được nhiều người khen là một thiếu nữ ngoan hiền, đạo đức gương mẫu trong xứ đạo. Cô thường xuyên mỗi ngày hai buổi tới nhà thờ đọc kinh sáng và tối. Tới năm 19 tuổi cô Lê Thị Thành vâng lời cha mẹ kết hôn với một thanh niên Công giáo ngoan đạo,  người cùng xứ tên là Nguyễn Văn Nhất, cũng gọi là Văn Nhân. Sau này có con trai đầu lòng tên là Đê thì người ta lại gọi là ông bà Đê.Cô Thành và anh Nhất đã trở thành một gia đình mới gương mẫu và tốt lành trong xứ đạo Phúc Nhạc. Gia đình sống bằng nghề cầy cấy ruộng vườn và nuôi tằm kéo tơ. Đời sống vật chất tuy không giầu có nhưng cũng tạm đủ sống. Ông bà sinh được 6 người con. Hai người con trai đặt tên là Đê và Trân,4 người con gái tên là Thu, Năm, Nhiên, Nụ. Khi bà Anê được phúc tử đạo thì bà đã có tới 17 người cháu nội ngoại vừa trai vừa gái.

Hai ông bà sống rất.hiền lành, đạo đức, luôn vui vẻ hoà nhã với mọi người, các con trai cũng như gái rất lễ phép, đạo hạnh, dễ thương cho nên trong xứ ai ai cũng đều quí mến gia đình ông bà Đê, được như vậy là nhờ tinh thần đạo đức và nhất là sự khôn khéo, tận tụy lo lắng, dậy dỗ giáo lý, hun đức đức tin cho con cái. Về điểm này, chính người con gái út tên Lucia Nụ đã nói với ủy ban Thẩm Vấn của giáo phận tới điều tra để phong thánh cho bà như sau:

- “Thân mẫu chúng tôi rất chăm lo việc giáo dục  anh chị em chúng tôi. Chính người đã dậy chúng tôi đọc chữ và học hỏi giáo lý, cách xưng tội rước lễ. Người luôn thúc giục chúng tôi năng xưng tội,. đôn đốc chúng tôi gia nhập các Hội Đoàn như Hội Con Đức Mẹ, Hội Thanh Niên Công Giáo v.v.”

Một đặc điểm khác nổi bật trong đời sống ông bà Đê là tinh thần yêu thương, bác ái, nhất là trong việc giúp đỡ các vị linh mục trong thời cấm đạo. Ông bà đã khôn khéo và âm thầm dành một căn nhà đặc biệt để cho các linh mục và các vị Thừa Sai ẩn lánh trong những lúc vua quan cho lệnh truy nã bắt bớ các Ngài.

Năm 1841 đời vua Thiệu Trị, tại làng Phúc Nhạc khi ấy có nhiều linh mục và Thừa Sai đang trú ẩn tại đó, vì xứ Phúc Nhạc vừa lớn lại vừa đông giáo dân. Nhưng một chuyện đau buồn đã xẩy ra là chàng thanh niên tên Đễ là người giúp việc cha Thành muốn lập công để lấy tiền thưởng nên đã âm thầm mật báo cho quan tổng đốc Trinh Quang Khanh biết hiện đang có nhiều linh mục và Thừa Sai đang ở trong làng Phúc Nhạc. Được mật báo, ngày 14 tháng 4 năm 1941 quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh đích thân đem 500 lính về bao vây kín làng Phúc Nhạc vào đúng sáng ngày lễ Phục Sinh. Quan lệnh cho tất cả mọi người phải tập trung lại rồi cho quân lính tới lục soát từng nhà Cha Thành và cha Ngân vội trốn thoát. Cha Nhân vừa dâng lễ nhanh chân trốn lên sàn gác nhà dòng Mến Thánh Giá nhưng sơ ý để gấu áo ra ngoài kẽ ván nên bị phát giác và bị bắt, cha Lý được ông trùm Cơ đua sang vườn nhà bà Đê ở sát bên. Bà Đê vội nói:

- “Xin cha ẩn dưới rãnh này, Chúa gìn giữ thì cha thoát, bằng không thì cả cha và con sẽ cùng bị bắt”

Nói xong, bà cùng người con gái tên Lucia Nụ lấy rơm và cành khô che phủ lên. Nhưng quân lính đã phát giác nên cha Lý và bà Đê là chủ nhà cùng bị bắt. Lính bắt thêm ông Trùm Cơ ông Đê và bốn hương chức trong làng cùng hai Nữ Tu dòng Mến Thánh Giá là Anna Kiêm và Anê Thanh cũng  bị bắt. Tất cả đều bị trói và mang gông áp giải ra đình làng  Nhà bà Đê bị lục soát rất kỹ, quan ra lệnh tịch thu thóc lúa, đồ dùng, tiền bạc trong gia đình v.v. đều bị lính vơ vét hết.

Sau cuộc truy lùng gắt gao,bắt bớ nhiều người, làm xáo trộn  dân làng, quan cho lệnh áp giải các chiến sĩ Đức Tin của Chúa về tỉnh Nam Định. Vì đường từ Phúc Nhạc về Nam Đinh rất xa, đoàn người bị bắt phải đeo gông nặng và đi bộ suốt đêm rất cực nhọc, bà Anê Lê Thị Thành vì sức yếu lại phải đeo gông quá nặng sức chịu không nổi nên lính phải đỡ giúp bà nhiều lần.

Về tới Nam Định bà Thành bị giam chung cùng với hai nữ tu dòng Mến Thánh Giá. Tại đây các quan dụ dỗ bà bước lên Thánh Giá nhiều lần, nhưng bà và hai nữ tu dòng Mến Thánh Giá đã anh dũng xưng đạo một cách mạnh mẽ, thà chịu chết chứ không thể bước lên Thánh Giá Chúa.

Các quan hỏi tại sao bà cứng lòng như vậy thì bà thưa:

- “Thưa quan lớn, tôi quyết tâm tin theo Đức ChúaTrời là Đấng đã dựng nên tôi và muôn loai, tôi không thể bỏ Chúa tôi”.

Quan lại hỏi về lý lịch của các vị Thừa Sai, bà nhất quyết không khai báo thêm điều gì nên quan tức giận ra lệnh đánh đập bà và hai nữ tu cách tàn bạo. Lúc đầu đánh bằng roi ngắn, sau bằng roi tre và thanh gỗ, đánh ghê sợ, máu me chảy đầm đìa Nhưng  cả ba vị chiến sĩ can trường vẫn vui lòng chấp nhận vì Chúa.

Có lần những bạn tù hỏi bà:

- “Bị đánh đòn tàn nhẫn, máu me chảy lênh lánh như thế mà

không đau đớn sợ hãi à?