LÁ THƯ NGỎ THỨ HAI GỬI ĐỨC MẸ

 

LÁ THƯ NGỎ THỨ HAI GỬI ĐỨC MẸ

 

Mẹ kính yêu

Con hau háu nghe đọc trình thuật Luca kể chuyện ngày Mẹ cho Thầy của con ra chào đời.

Bố Giuse và Mẹ đi bộ từ Nadarét vào Bêlem để làm thủ tục kiểm tra dân số. Chờ mãi, chờ mãi mà vẫn chưa đến lượt mình. Thế rồi đến giờ khai hoa. Không một mái ấm. Không một tấm chiếu manh. Mẹ đành đặt Thánh Nhi vào máng cỏ. Trên trời văng vẳng tiếng hát của các thiên thần: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời. Bình an dưới thế cho người Chúa thương”. Ngoài đồng những người chăn chiên được sứ thần báo tin Đấng Cứu Thế đã giáng sinh. Các ngài chỉ điểm, bảo đi tìm “Một trẻ sơ sinh, quấn tã, nằm trong máng cỏ”. Họ kéo nhau đi tìm. Họ thấy đúng như thế. Họ mừng rỡ trở về báo tin cho bà con. Ai nấy đều ngạc nhiên. Còn Mẹ thì ghi nhớ kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại...

Ngày thứ tám, Thầy của con được cắt bì và đặt tên.

Ngày thứ bốn mươi. Bố Giuse và Mẹ dâng Thầy con cho Chúa Giavê tại đền thờ Giêrusalem.

Sau đó Bố và Mẹ đưa Thầy con về quê hương Nadarét. Con đang muốn nghe nữa, thì trình thuật kết thúc. Tức quá con muốn đấm vào lưng Luca một quả. Nhưng chỉ là đấm vào không khí... Thua!

Mẹ ơi! Con muốn biết thật nhiều, chỉ vì con quá yêu. Con yêu Thầy của con. Con yêu Mẹ. Con yêu Bố Giuse. Vì yêu, con không chịu thua. Con suy nghĩ. Con tìm tòi. Con moi lịch sử. Và bây giờ thì... con thấy Mẹ rất rõ. Con thấy từ kẽ tóc đến chân tơ. Con kể cho Mẹ nghe nha.

1. Bố quê ở Bêlem, nên theo pháp lệnh, Bố và Mẹ phải về đó mà làm thủ tục kiểm tra dân số. Khổ lắm, nhưng phải đi, vì đó là lệnh của Hoàng đế Rôma. Ông nội, bà ngoại, chú thím, cô dì... mỗi người cho một tí tiền và dặn đi dặn lại: “Tranh thủ tối đa để kịp về nhà, trước ngày sinh con”.

Hành trang gọn nhẹ. Hành trình thăm thẳm. Mẹ ngồi trên lưng lừa, ôm chặt bọc đồ, lòng miên man nghĩ về cái thai thánh đức, quên bẵng đường xa. Bố Giuse đi bộ, mồ hôi lã chã, mà chẳng thấy vất vả. Cũng chỉ vì đang được dấn bước vào một giai đoạn lịch sử vĩ đại.

2. Hành trình bốn ngày kết thúc. Bố dựng lều. Đó là mái ấm của những ngày tha hương. Ngày hôm sau, Bố lên ủy ban thị trấn để làm thủ tục. Nhìn sân ủy ban, Bố lắc đầu thất vọng. Lạc đà, lừa ngựa trùng trùng điệp điệp. “Người cưỡi lạc đà” vào văn phòng ủy ban, vừa đi vừa nắn túi. Vào một lúc, rồi ra ngay. Cười toe toét. “Người cưỡi ngựa” đi vào. Vào thật nhanh; chờ thật lâu; đi ra chậm chậm, có vẻ tiếc xót. “Người dắt lừa” đi vào: vừa đi vừa lách; lách mãi mới vào được; vừa vào tới nơi, thì đã đi ra; mặt tiu nghỉu...

Chờ mãi, chờ mãi, rồi lại về.

Ngày nào Bố cũng lên ủy ban. Cứ về đến cửa lều, thì Bố lại dang tay, lắc đầu. Mẹ thì cúi đầu, chắp tay, suy nghĩ.

Ngày nào cũng thế. Tuần nào cũng vậy. Não lòng!

3. Mẹ ngồi xếp bằng trên chiếu. Hai tay đặt lên bụng. Miệng thì thầm: “Anh ơi, ngày của Bé tới rồi”. Bố chạy vọt ra khỏi lều, vào thị trấn, gõ cửa nhà trọ.

- Vợ tôi tới giờ đẻ. Cho tôi mướn một phòng.

- Hết phòng rồi. Nhưng nếu thêm tiền gấp đôi thì tôi nhường phòng cho. Chúng tôi ngủ ngoài hành lang cũng được.

-!!

Bố hốt hoảng chạy vào nhà dân.

- Vợ cháu sắp đẻ. Nhà trọ hết chỗ. Xin hai bác thương cho vợ cháu đẻ nhờ. Chúng cháu đội ơn.

- Thấy mặt mày hiền, thì tao thương đứt ruột. Nhưng cho đàn bà đẻ trong nhà, thì nhà mắc uế. Không được. Hay là... thế này. Mày đưa vợ ra đẻ ở trong cái hang đá ngoài đồng. Đẻ xong rồi thì vào đây, tao mới dám chứa. Tội nghiệp!

4. Hang đá quạnh hiu. Tối tăm và hôi hám. Chúa Hài Nhi, Thầy của con nằm trong máng cỏ. Mắt lim dim. Ngực phập phồng. Mẹ lặng lẽ nhìn ngắm. Sung sướng vì có một người con vĩ đại. Nhưng buồn tủi đến vỡ mộng. “Con vua Đavít” mà như thế sao?! Ôi mầu nhiệm của lịch sử cứu độ. Mẹ chẳng hiểu tại sao. Đành cúi đầu và thì thầm “xin vâng”.

Bố Giuse thì mặc cảm đầy mình. Là thân phận đàn ông chẳng biết làm gì để phục vụ người mẹ vĩ đại sinh con tuyệt vời. Chỉ biết cúi đầu ngẫm nghĩ. Bố bắt chước Mẹ thì thầm “xin vâng”.

Mẹ ơi! Thấy Mẹ khổ sở quá, con chỉ biết khóc. Bất giác, con nhệu nhạo trong tiếng nấc: “Chúa ơi. Tại sao Mẹ con phải khổ quá như vậy? Mẹ con đang ở tuổi ô mai, tuổi chưa biết lo, mà phải sinh con trong cảnh thiếu thốn cực kỳ. Không có mẹ, không có dì, không có một cô mụ vườn giúp đỡ. Mẹ con phải ngủ trong chuồng bò. Mẹ con tắm giặt ở đâu?”. Ôi, thân phận của “Bà Hoàng Thái Hậu”!

Mẹ ơi! Con thương Mẹ quá! Con chẳng biết làm gì để giúp Mẹ. Con chỉ biết khóc. Khóc mãi. Khóc hậm hực...

5. Bỗng có tiếng hát văng vẳng. Mẹ ngước mắt nhìn lên. Mẹ chắp tay. Hai dòng lệ tuôn chảy. Dường như Mẹ thấy Chúa Cha. Mẹ mỉm cười. Nhưng lại khóc nhiều hơn. Khóc vì yêu. Khóc vì được yêu...

Ngoài cửa hang, bỗng có tiếng ồn ào. Bọn chăn cừu đứng lố nhố. Họ chen nhau vào. Họ chào Mẹ. Họ chào Bố. Họ quỳ mọp lạy Thầy Hài Nhi của con. Vui quá là vui!

 Họ ra về. Họ trở lại. Họ dẫn theo một đoàn người đông như chợ. Đàn ông, đàn bà, già trẻ, lớn bé. Niềm vui của ngàn năm trông chờ nay bùng vỡ. Đấng Cứu Thế đã ra đời. Dân tộc sắp được giải phóng. Họ hô to “Halléluia. Halléluia”. Họ đua nhau rờ Bé xinh một cái, rồi vuốt vai Mẹ một cái, đập vai Bố một cái.

Người nào cũng đòi rước Bé xinh về nhà mình. Vinh dự quá chừng! Bất ngờ, một vị cao niên lên tiếng “Để tôi rước Đấng Cứu Thế về nhà tôi”. Mọi người im phăng phắc, tiếc hùi hụi. Không ai dám cãi. Không ai dám giành. Ông là người được mọi người công nhận là người được Đức Chúa chúc phúc, vì con cháu ông xúm xít như chùm ôliu, tuổi ông cao nhất làng, vàng bạc nhà ông phải chứa bằng hũ.

6. Sáng hôm sau, đại gia cho Bố mượn ngựa đi báo tin gấp cho Dì Êlisabét. Chỉ có 19 cây số. Bố phóng ngựa một tiếng đồng hồ là tới Sinkarim. Tin vui bùng vỡ. Dượng Dacaria ôm chầm lấy Bố, vỗ vai Bố bùm bụp. Dì Êlisabét ôm con chạy đến khóc òa lên. “Tao đoán đúng mà! Tao đếm từng tháng từng ngày mà...” Gia đình sum họp. Vui hơn ngày đại lễ Vượt Qua.

Bố Giuse và dượng Dacaria phóng ngựa đi như bay về hướng Bêlem. Uy tín của dượng Dacaria đã vang dội khắp ba miền. Làng Bêlem kéo nhau đến để chào dượng: “Rápbôni! Chào Thầy”. Uy tín của dượng đã cao, bây giờ thì cao vút. Dượng yêu cầu được rước cháu về ngay Sinkarim. Chẳng ai dám cãi, nhưng cứ năn nỉ: “Chờ cho Mẹ và Con cứng cáp đã”. Chờ đến ngày thứ bảy, dượng và Bố mới đưa Mẹ và Bé về Sinkarim được. Đó là tình. Đó là lý.

7. Nhà dì Êlisabét bỗng trở nên ấm cúng, thân thương vô cùng. Bé Gioan được sáu tháng tuổi. Bé Giêsu được 7 ngày tuổi. Hai bà mẹ hiểu nhau như đi guốc trong bụng của nhau. Yêu nhau, trọng nhau, quý nhau.

Bố Giuse và dượng Dacaria thì mải miết bàn chuyện lịch sử dân tộc: lịch sử vòng vo; lịch sử thăng trầm; lịch sử xán lạn đang tới...

Hôm sau là ngày thứ tám của Bé Giêsu. Gia đình, xóm giềng sum họp. Dượng cắt bì cho Bé. Bố đặt tên cho Bé là Giêsu. Tiệc tùng. Chén thù chén tạc. Vui ơi là vui!

Ngày thứ bốn mươi của Bé và của Mẹ. Cả gia đình bao xe ngựa lên Giêrusalem. Chỉ có bảy cây số. Ngựa chạy lóc cóc không đầy một tiếng đồng hồ. Mọi thủ tục, mọi lễ nghi... dượng Dacaria thuộc lòng như đếm mười ngón tay. Bố Giuse khỏe re. Mẹ và dì tha hồ mà tâm sự. Đền thờ nguy nga, hoành tráng... Mẹ và dì chả quan tâm. Hai cái đầu cứ nghiêng nghiêng gần đụng vào nhau. Hai cặp môi thì thầm y như hai bà phước lần hột. Hai Bé lấy tay khều nhau, cười toe mà không thành tiếng.

Mẹ yêu dấu của con. Đó là trình thuật của con. Xin Mẹ chúc phúc cho nó. Tất cả chỉ vì yêu Mẹ mà thôi.

Lm. Piô Ngô Phúc Hậu

Nguồn: Báo Công giáo và Dân tộc