TĨNH TÂM GIÁO TRIỀU 2018 (3)

TĨNH TÂM GIÁO TRIỀU 2018 (3)

 

Tĩnh tâm giáo triều bài 7: Nhận ra cơn khát của mình và để Chúa can thiệp. PAGEREF _Toc507180541 \h 1

Tĩnh tâm giáo triều, bài 8: Lòng thương xót là Tin mừng cần được khám phá. PAGEREF _Toc507180542 \h 3

Tĩnh tâm giáo triều, bài 9: Lắng nghe khát vọng của vùng ngoại biên. PAGEREF _Toc507180543 \h 4

 

 

Tĩnh tâm giáo triều bài 7: Nhận ra cơn khát của mình và để Chúa can thiệp

 

Trong bài suy niệm thứ bảy của tuần tĩnh tâm vào chiều thứ tư, 21/02, , cha giảng thuyết José Tolentino Mendonça nhắc cho mọi người rằng chính sự nghèo khổ của chúng ta là nơi mà Chúa Giêsu đi vào cuộc đời chúng ta và cản trở lớn nhất đối với sự sống của Chúa Kitô ở trong chúng ta không phải là sự mỏng dòn của chúng ta nhưng là sự cứng nhắc và tự cảm thấy đủ của chúng ta. Do đó cần học uống chính cơn khát của mình. Trong bài suy niệm, cha José tiếp tục suy tư về cơn khát bằng cách liên kết nó với cuộc Thương khó của Chúa Giêsu.

 

Con đường dạy chúng ta nhiều hơn quán trọ

 

Giáo hội không được cô lập mình trong một tháp ngà, bằng cách trở thành người giám hộ của ơn thánh, nhưng Giáo hội cũng là một môn đệ, và một cách nào đó, sống kinh nghiệm của dân du mục. Qua đó, ngay cả những người không tin cũng có thể quan sát đời sống đức tin của chúng ta với một sự tươi vui ngạc nhiên. Cũng có thứ nguy hiểm là muốn người khác phải bước đi, thậm chí là đòi hỏi khẩn cấp, trong khi chúng ta vẫn ngồi lì. Chúng ta phải cẩn thận để đời sống thiêng liêng của chúng ta không bị chứng ù lì, ít vận động không bị chứng teo cơ nội tâm.

 

Nhìn thấy trong cơn khát là một cách thức hành trình

 

Đời sống tâm linh của chúng ta phải giống như một cuộc phiêu lưu cộng đồng, mà Gustavo Gutiérrez đã nhấn mạnh trong cuốn sách “Uống từ giếng của mình. Hành trình thiêng liêng của một dân tộc.” Giếng nước mà ta lấy nước để uống là đời sống thiêng liêng cụ thể, bị thương tổn bởi sự bất định và hạn hẹp:

 

Nhân loại mà chúng ta nỗ lực để ôm lấy, của chính chúng ta và của người khác, là nhân loại mà Chúa Giêsu thực sự ôm lấy, bởi vì Người cúi xuống, với tình yêu, trên thực tại của chúng ta, chứ không phải trên sự lý tưởng hoá của bản thân chúng ta mà chúng ta đang xây dựng. Nói tóm lại, mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa mang lại cho chúng ta một cái nhìn thực về cuộc sống.

 

Bỏ đi “tật” đòi một cuộc sống hoàn hảo

 

Khát khao, trong một nghĩa nào đó, nhân văn hóa chúng ta và tạo thành một con đường “trưởng thành thiêng liêng.” Cha José nhắc rằng phải mất rất nhiều thời gian để làm mất đi thói cầu toàn, đòi những điều hoàn hảo, để chiến thắng được thói quen che đậy thực tế bằng những hình ảnh giả dối. Như Thomas Merton viết, Chúa Kitô muốn đồng hóa mình với những điều mà chúng ta không yêu thích nơi mình, bởi vì Người đã nhận lấy nỗi khốn khổ và đau khổ của chúng ta trên chính mình. Chính Thánh Phaolô đã làm chứng rằng đức tin giống như một giả thuyết nghịch lý: “Khi tôi yếu đuối, chính là lúc tôi mạnh mẽ.”

Trở ngại lớn nhất đối với cuộc sống của Thiên Chúa trong con người chúng ta không phải là sự mỏng dòn hoặc yếu đuối, mà là sự cứng nhắc và cứng cỏi. Đó không phải là sự dễ bị tổn thương và nhục nhã, nhưng ngược lại, là sự kiêu ngạo, tự thấy đủ, tự cho mình là công chính, cô lập, bạo lực, mê muội quyền lực. Sức mạnh chúng ta thực sự cần, ân sủng mà chúng ta cần, không phải của chúng ta, mà là của Chúa Giêsu Kitô.

 

Ba cám dỗ trong sa mạc

 

Nói về ba cơn cám dỗ của Chúa Giêsu trong sa mạc, cha Josè khẳng định: “Nếu chúng ta chuẩn bị để lắng nghe, khao khát có thể là một bậc thầy quý báu của đời sống nội tâm.” Cám dỗ đầu tiên là bánh. Chúa Giêsu biết nhu cầu vật chất của con người, nhưng Người nhắc rằng con người không chỉ sống bằng cơm bánh. Câu trả lời của Ngài không phải là làm cho chúng ta trốn thoát khỏi thực tại, nhưng làm cho chúng ta xem nó như một nơi phải được mặc lấy Chúa Thánh Thần.

 

Để hiểu được cám dỗ thứ hai, cha Josè nhắc lại khi dân Israel ở trong sa mạc, đòi ông Môsê phải cho họ nước uống: để tin, chúng ta muốn thấy khát vọng của chúng ta được thỏa mãn, nhưng Chúa Giêsu “dạy chúng ta dâng sự im lặng, từ bỏ và khao khát như một lời cầu nguyện.” Cuối cùng, cám dỗ cuối cùng về các thần tượng, Chúa Giêsu đã trả lời: “Ngươi sẽ thờ lạy Chúa là Thiên Chúa của ngươi: chỉ thờ phượng một mình Người.” Trong đoạn Tin Mừng thánh Mátthêu, khi Chúa Giêsu phục sinh nhắc rằng mọi quyền phép trên trời và dưới đất đã được ban cho Người.

“Quyền năng của Chúa Giêsu chính là sự dâng hiến chính mình đến cùng

 

Ma quỷ muốn được tôn thờ, nhưng sức mạnh của nó là vẻ bên ngoài, trong khi đó quyền năng của Đấng Phục Sinh là một phần của mầu nhiệm thập giá, của sự dâng hiến chính mình. Đây là một nguy cơ rất lớn, khi sự cám dỗ của quyền lực, trên quy mô lớn hay nhỏ, đưa chúng ta đi xa khỏi mầu nhiệm của Thánh Giá, khi nó đưa chúng ta ra khỏi sự phục vụ anh em chúng ta. Chúa Giêsu dạy rằng không để mình trở thành nô lệ bởi bất cứ ai và không bắt ai làm nô lệ, nhưng chỉ thờ phượng Thiên Chúa và phục vụ: “Chúng ta không phải là những ông chủ, nhưng là các mục tử.” (Vatican News 21/02/2018)

 

Tĩnh tâm giáo triều, bài 8: Lòng thương xót là Tin mừng cần được khám phá

 

Một trong những nguy hiểm trong hành trình nội tâm coi mình là tâm điểm, “trong đó cái tôi là khởi đầu và kết thúc của mọi thứ.” Cha José Tolentino Mendonça, giảng thuyết viên của tuần tĩnh tâm của Đức Thánh Cha Phanxicô và giáo triều Roma, đã tập trung bài suy niệm thứ 8 trên dụ ngôn đứa con hoang đàng - một câu chuyện phản ánh thực tại của các gia đình, trong đó mối liên hệ giữa anh em bị suy mòn bởi những thứ tình cảm như ghen tị; trong khi đó, người cha là hình ảnh của lòng thương xót. Hình ảnh của gia đình trong dụ ngôn cũng giống như các gia đình của chúng ta. Chúng ta nhận thấy ý nghĩa tinh tế của mối liên hệ con cái, của câu chuyện tinh tế và mong manh của tình cảm mà chúng ta tạo nên với nhau.

 

Khát vọng trôi dạt (không theo đường tốt)

 

Trong chúng ta, thực sự không chỉ có những điều tốt đẹp, hài hòa và được giải đáp. Trong chúng ta có cảm giác ngột ngạt, nhiều điều cần được làm rõ, các bệnh lý, vô số sợi dây cần kết nối. Có những vùng đau khổ, những khu vực cần được hòa giải, các ký ức và những ngắt quãng để cho Thiên Chúa chữa lành chúng.”

 

Thời đại chúng ta bị thống trị bởi “khao khát trôi dạt”, nó thúc đẩy “trong chúng ta, những đứa con hoang đàng”, ý muốn dễ dàng, không đàng hoàng , chủ nghĩa khoái lạc. Và tất cả điều này phát triển thành “vòng xoáy lừa đảo” bị điều khiển bởi một “xã hội tiêu thụ” hứa hẹn thỏa mãn mọi người và mọi thứ bằng cách đồng hóa “hạnh phúc với sự thõa mãn.” Như thế chúng ta rất “thõa mãn, đầy đủ, hài lòng, thuần hóa.” Nhưng sự thõa mãn do việc tiêu thụ mang lại  thì chỉ là “nhà tù của các khao khát.”

 

Kỳ vọng bệnh hoạn (không tốt lành)

 

Thêm vào nhu cầu tự do của đứa con thứ, bị thúc đẩy bởi “những bước sai lầm” và “những tưởng tượng về sự toàn năng”, là những “kỳ vọng bệnh hoạn" của người con cả:

 

“Điều tương tự rất dễ xâm nhập vào chúng ta: khó khăn trong việc sống tình huynh đệ, đòi hỏi ảnh hưởng quyết định của người cha, sự từ chối vui mừng với điều tốt của người khác… Tất cả điều này tạo ra trong anh ta một sự oán giận ngấm ngầm và không có khả năng nắm bắt luận lý của lòng thương xót".

 

Nguy hiểm của sự ganh tị

 

Thêm vào những bước sai lầm của đứa con thứ, xuất phát từ khao khát tự do của tuổi trẻ sinh động, là một nguy hiểm khác làm cho người con cả mệt mỏi kiệt quệ. Đó là sự ghen tị. Điều này cũng là một bệnh lý của sự khao khát. Đó là tình trạng thiếu tình yêu, một đòi hỏi vô lý và không hạnh phúc. Con trai cả, người không thể giải quyết được mối quan hệ với em trai, vẫn bị giằng xé bởi “sự háo chiến, những rào cản và bạo hành.” Tuy nhiên, ngược lại với sự ghen tị, là lòng biết ơn, nó “xây dựng và tái khám phá thế giới.”

 

Lòng thương xót là một Tin mừng cần khám phá

 

Bên cạnh hình ảnh các đứa con, mà cách thế của họ phản ánh hình ảnh của chúng ta, nổi lên hình ảnh người cha:

 

“Hình ảnh của lòng thương xót là người cha này. Ông có hai đứa con và ông hiểu rằng cần phải cư xử với mỗi đứa theo cách khác nhau, dành cho mỗi đứa một sự quan tâm duy nhất.”

 

Lòng thương xót, “không phải là dành cho người khác điều họ đáng được hưởng.” Lòng thương xót là cảm thông, là lòng tốt và tha thứ. Nó là “cho nhiều hơn, cho quá mức, đi xa hơn.” Đó là một “tình yêu vượt mức”, nó chữa lành vết thương. Lòng thương xót là một trong những thuộc tính của Thiên Chúa. Vì vậy, tin tưởng vào Thiên Chúa là tin vào lòng thương xót. Lòng thương xót là Tin mừng cần được khám phá. (Vatican News 22/02/2018)

 

Tĩnh tâm giáo triều, bài 9: Lắng nghe khát vọng của vùng ngoại biên

 

 “Anh/Em của chúng ta ở đâu?” Câu hỏi này luôn chất vấn chúng ta. Bài suy niệm thứ 9 của tuần tĩnh tâm của Đức Thánh Cha và giáo triều Roma dựa trên câu hỏi của Chúa trong sách Sáng thế, có tựa đề “Lắng nghe khát vọng của “vùng ngoại biên.” Cha Josè Tolentino Mendonça mời gọi chúng ta quan sát với đôi mắt mở to để thấy những gì đang xảy ra trên thế giới xung quanh chúng ta và tìm người anh em của chúng ta giữa những người nghèo, người rốt hết trên thế giới, không phân tách “cơn khát thiêng liêng”  ra khỏi “cơn khát theo nghĩa đen.” Nếu không, chúng ta cảm thấy thoải mái và trốn tránh trách nhiệm xã hội.

 

Thiếu nước

 

Một trong những tiêu chuẩn để hiểu “trung tâm” là gì và “ngoại biên” là gì, đó là có nước uống, một quyền không thể chối bỏ của con người. Như thông điẹp Laudato Si’ đã khẳng định và các số liệu của các tổ chức quốc tế lập lại, có hơn 2 tỉ người không có cơ hội có nước uống. Một số đông những người ở vùng ngoại biên bị khát theo nghĩa đen, trước tình cảnh đó người ta nhận thấy sự cấp thiết cần có một sự hoán đời sống và con tim thật sự”, “sự hoán cải đi ngược dòng với nền văn hóa hoang phí và bất bình đẳng xã hội.” Nơi nào các nước giàu phung phí tài nguyên của họ, thì “những nước khác sống trong đau khổ.”

 

Chúa Giêsu là “một người thuộc vùng ngoại biên”

 

Trong bối cảnh này “Giáo hội không được sợ trở thành ngôn sứ và đặt một ngón tay vào vết thương”. “Một môn đệ của Chúa Giêsu phải biết điều này”, trên hết  vì “chính Chúa Giêsu là một người từ vùng ngoại biên.” Người không phải là một công dân La Mã, cũng không phải là một phần của giới tinh hoa Do Thái, được sinh ra ở ngoại ô Bêlem, vùng ngoại biên của Israel và đế quốc. Người sống ở Nadarét, một tên quá ít ý nghĩa đến nỗi nó là một trong những nơi hiếm hoi ở Palestin không bao giờ được Cựu ước nhắc đến. Và ở vùng ngoại biên Galilê Người loan báo Tin mừng bằng cách mang lại phẩm giá cho người bệnh, người bị quỷ ám, người nghèo, dân ngoại và tội nhân. Sứ điệp của Chúa Giêsu đi vào các vùng ngoại biên. Ngay cả sau khi Phục sinh, Chúa Giêsu cũng muốn gặp lại các môn đệ ở vùng ngoại biên Galilê (Mc 16,7).

 

Khu vực ngoại biên nằm trong ADN của Kitô hữu và đưa họ đến gần hơn với bối cảnh nguyên thủy của họ, và cũng gần với chương trình của họ. Đây là một chìa khóa không thể thiếu được cho việc chú giải về mặt thiêng liêng và hiện sinh của nó. Trong mọi thời đại, đối với kinh nghiệm Kitô giáo, sẽ luôn còn một nơi đặc biệt để gặp và gặp lại Chúa Giêsu.

 

Trong các vùng ngoại biên có sự sống động của các dự án của Kitô hữu

 

Chính Kitô giáo và rồi bản chất của nó là một “thực tại ngoại biên.” Người ta có thể thấy điều này cách cụ thể, nơi mà các trung tâm thành phố biến thành một trung tâm của các hoạt động quan liêu và thương mại” và “tủ kính của quá khứ” cho khách du lịch, trong khi “sức sống của dự án Kitô giáo được thực hiện ở ngoại ô”, “ở nơi thậm chí không có sự hiện diện của một nhà thờ xây và nơi mọi thứ không chắc chắn, mỏng manh hoặc khó phác hoạ hơn”. Đối với Giáo Hội, ngoại biên  là một chân trời chứ không phải là một vấn đề và đó là nơi người ta có thể đi ra khỏi  chính mình và khám phá lại chính mình.

 

Sự lựa chọn gặp gỡ với các vùng ngoại ô không chỉ là yêu cầu của lòng bác ái, đó là một sự di chuyển về mặt lịch sử và địa lý cho phép gặp được những gì mà Kitô giáo đã là và gặp những gì nó hiện là. Ngay cả những vùng ngoại vi của Giáo Hội cũng khát: khát được lắng nghe.

 

Như Thánh Gioan Kim Khẩu đã cảnh báo, Giáo Hội phải tránh “sự chia rẽ khủng khiếp” giữa “người tách biệt Bí tích của bàn thờ ra khỏi Bí tích của anh em, một cách nguy hiểm, người đó đưa bí tích Thánh Thể xa khỏi bí tích của người nghèo.

 

Ngoại biên như nơi của linh hồn

 

Tuy nhiên, các vùng ngoại biên hiện sinh không chỉ là ngoại biên về mặt kinh tế và tất cả chúng ta đều biết giữa chúng ta và những người ở bên cạnh chúng ta thường có khoảng cách vô hạn cần được ôm lấy và dẹp bỏ.” Đây là lý do tại sao nhân loại phải được chấp nhận và thậm chí nếu chúng ta không thể ngăn được nước mắt trên gương mặt của người khác, chúng ta có thể trao cho họ một chiếc khăn tay và nói “Tôi ở đây”, “bạn không cô độc.” Các vùng ngoại biên, trên thực tế, “không chỉ là những địa điểm vật lý, chúng còn là những điểm nội tâm của sự hiện hữu của chúng ta, chúng là những nơi linh hồn cần được săn sóc.” (Vatican News 22/02/2018)

 

Hồng Thủy

Nguồn: RV