MINH ĐỨC VƯƠNG THÁI PHI

MINH ĐỨC VƯƠNG THÁI PHI

Tác giả Phạm Đình Khiêm

http://www.dunglac.org

 

 

TỰA. PAGEREF _Toc515107962 \h 1

CHƯƠNG 1: CHÚA NGUYỄN HOÀNG, BÀ MINH ĐỨC VÀ HOÀNG TỬ KHÊ. PAGEREF _Toc515107963 \h 2

CHƯƠNG 2: MINH ĐỨC VƯƠNG THÁI PHI TRỞ LẠI CÔNG GIÁO TRONG TRƯỜNG HỢP NÀO?  PAGEREF _Toc515107964 \h 6

CHƯƠNG 3: NHÂN ĐỨC SÁNG NGỜI PAGEREF _Toc515107965 \h 10

CHƯƠNG 4: TIỀN HÔ CÔNG GIÁO TIẾN HÀNH VIỆT NAM. PAGEREF _Toc515107966 \h 11

CHƯƠNG 5: NHÀ THỜ CỦA BÀ MINH ĐỨC, MỘT TRUNG TÂM TRUYỀN GIÁO. PAGEREF _Toc515107967 \h 14

CHƯƠNG 6: ĐƯỜNG THÁNH GIÁ. PAGEREF _Toc515107968 \h 18

CHƯƠNG 7: ÔNG HOÀNG KHÊ PHÁ NHÀ THỜ CỦA BÀ MINH ĐỨC. PAGEREF _Toc515107969 \h 23

CHƯƠNG 8: ĐƯỜNG THÁNH GIÁ NỞ HOA. PAGEREF _Toc515107970 \h 27

CHƯƠNG 9: NHỮNG NĂM CUỐI CÙNG - TỬ ĐẠO THIÊNG LIÊNG. PAGEREF _Toc515107971 \h 31

CHƯƠNG 10: GIÁO HỘI VIỆT NAM THỜI BÀ MINH ĐỨC. PAGEREF _Toc515107972 \h 38

ĐOẠN KẾT. PAGEREF _Toc515107973 \h 45

 

 

TỰA


Cuốn sách nhỏ này làm sống lại một giai đoạn quan trọng – giai đoạn đầu – của đạo Thiên Chúa ở Việt Nam nói chung, và ở Trung Nam nước Việt, nói riêng.

Phụng mạng Tòa thánh Phêrô La Mã, trước đây bốn thế kỷ, một số tông đồ không phân tích quốc tịch trần gian, đã vượt trùng dương mang đến cho chúng ta Tin Mừng của Chúa Cứu Thế. Một trong những nhà truyền giáo tiên phong đó, A-lịch-sơn Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes), đã được ghi tên bằng nét vàng trong lịch sử ta, vì người đã yêu nước Việt như chính Tổ quốc mình và, đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp văn hóa Việt Nam bằng việc sáng chế chữ “quốc ngữ”.

Nhưng các giáo sĩ đó không phải là những người chủ động độc nhất trong giai đoạn lịch sử nói trên. Một số giáo hữu đầu tiên của Việt Nam, ngay sau khi tiếp nhận Đức tin, đã ý thức rõ nghĩa vụ tông đồ, và đã trở nên tông đồ cho người đồng hương. Chẳng những họ đem đến cho các giáo sĩ sự hiệp tác tối cần để các vị ấy làm tròn sứ mạng, họ còn thay thế các vị ấy trong nhiều trường hợp, nhất là những năm vắng bóng linh mục, để duy trì và truyền bá Đức tin giữa đồng bào. Bà Minh Đức Vương Thái Phi, mà chúng tôi thành kính họa lại chân dung trong sách này, chính là tiêu biểu xuất sắc cho đám môn đệ đầu tiên của Chúa Cứu Thế ở xứ này.

Lần rở các trang sau đây, chúng ta sẽ phải ngạc nhiên thấy nhân đức của bà chói rạng chốn Triều đình, hành động của bà ảnh hưởng lớn trong dân chúng, và danh thơm của bà đã vượt biên giới quốc gia để được ca ngợi bằng nhiều thứ tiếng, giữa các dân tộc.

Với tư cách ấy, bà đã làm vẻ vang cho Giáo hội Việt Nam, cũng như cho dòng máu Lạc Hồng, một dòng máu có khả năng tạo nên những anh hùng, liệt nữ cũng như những chí sĩ, thánh nhân.

Trên phương diện lịch sử, bà cũng là một nhân vật quan trọng do mối liên hệ chặt chẽ của bà đối với các nhà khai sáng giang sơn miền Nam, nhất là chúa Nguyễn Hoàng, cũng như do sự nghiệp của con bà, Hoàng tử Khê, trong các triều kế nghiệp, từ Sãi Vương qua Công Thượng Vương.

Giữa lúc một bọn người vong bản, vô luân, đang cố tình xuyên tạc lịch sử, chối bỏ đạo đức và đảo lộn các giá trị tinh thần, chúng tôi làm sống lại cuộc đời bà Minh Đức trong thiên tiểu sử này, không mong gì hơn được thấy đức sáng của bà chiếu soi mãi các thế hệ sau như đã làm vẻ vang các thế hệ trước.

Saigon, ngày lễ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp

23 tháng 6 năm 1957

 

 

 

CHƯƠNG 1: CHÚA NGUYỄN HOÀNG, BÀ MINH ĐỨC VÀ HOÀNG TỬ KHÊ

 

Chúa Nguyễn Hoàng

Ông Nguyễn Hoàng là con thứ hai ông Nguyễn Kim, triệu tổ nhà Nguyễn, sinh năm 1525 tại đất Thanh Hóa. Lớn lên ông cùng hợp lực với cha và anh là Nguyễn Uông gây dựng lại cơ đồ nhà Lê, lập nhiều chiến công, được phong là Đoan Quốc Công.

Sau khi cha chết và anh bị hại vì tay người anh rể là Trịnh Kiểm, binh quyền hống hách, ông muốn xa lánh triều đình, nên nhờ chị nói với anh rể cho vào trấn đất Thuận Hóa, từ năm 1558. Năm 1593, vua Lê Thế Tôn dứt được nhà Mạc dời đô từ An Trường về Thăng Long. Nhân dịp ấy, ông ra chầu vua, và ở lại kinh đô luôn tám năm. Từ năm 1600 ông lại vào ở hẳn đất Thuận Hóa, dựng cơ sở đầu tiên cho Triều Nguyễn.

Ông chết năm 1613, thọ 89 tuổi. Người đương thời gọi ông là “Chúa Tiên” hay Tiên Vương. Đến khi vua Gia Long thống nhất sơn hà, sắc phong ông là “Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế”.

Vợ, con chúa Nguyễn Hoàng

Chiếu theo gia phả nhà Nguyễn, thì ông Nguyễn Hoàng có mười người con trai, song mười người ấy không phải cùng một mẹ sinh ra. Gia phả không ghi chép hàng con gái.

Chúng ta có thể biết rõ tính danh và tung tích cả mười người con trai ấy, song về những người mẹ của họ thì gia phả chỉ kể sơ lược tiểu sử bà được phong là Hoàng Hậu, và chỉ nói sơ qua tước hiệu những bà mẹ của những hoàng tử nào có địa vị đặc biệt mà thôi, còn những hoàng tử khác sinh bởi mẹ nào không nói rõ.

Người con cả là Nguyễn Hà, sinh bởi bà vợ cả; Nguyễn Hà không được nối nghiệp cha, nên mẹ, tuy là vợ cả, không được phong làm Hoàng Hậu. Gia phả chỉ ghi tước hiệu bà là “Đoan Quốc Thái phu nhân”.

Con thứ hai, Hán; thứ ba, Thành; thứ tư, Diễn; thứ năm, Hải; gia phả không cho biết sinh bởi mẹ nào.

Con thứ sáu, Nguyên, được chọn kế vị ông Nguyễn Hoàng, đương thời gọi là Sãi Vương sau được truy tôn là Hy Tôn Hiếu Văn Hoàng Đế. Vì vậy, mẹ là vợ thứ, lại được cất lên bậc Hoàng Hậu. Bà quê ở Thanh Hóa, cũng họ Nguyễn, song không rõ tên cha mẹ là gì. Chết ngày 16 tháng 5, năm nào không rõ. Vua Gia Long phong tước là “Từ Lương Quang Thục Minh Đức Y Cung Gia Dũ Hoàng Hậu”

Con thứ bảy, thứ tám là Hiệp, Trạch, làm nguỵ, gia phả không hề nói đến mẹ.

Con thứ chín là Dương, “sinh bởi một mẹ không rõ lai lịch”.

Sau cùng, con thứ mười là Khè, lại được gia phả ghi rõ tên mẹ: “Minh Đức Vương thái phi”.

Tóm lại trong các người vợ của ông Nguyễn Hoàng, người ta chỉ biết tên ba bà thôi, hay nói cho đúng, chỉ biết tước hiệu do vua Gia Long truy tặng cho các bà. Xét theo thứ bậc quan hệ thì phải kể như sau:

Quan trọng hơn cả là Gia Dũ Hoàng Hậu. Tước đầy đủ là Từ Lương Quang Thục Minh Đức Y Cung Gia Dũ Hoàng Hậu. Thứ đến Minh Đức Vương thái phi: bà này tuy là vợ chót, nhưng lại được truy tặng là bậc đứng đầu hàng “phi”, vì con là Hoàng tử Khê có công lớn với triều đình. Cả hai bà này tước rất trọng, đều được tước hiệu là “Minh Đức” chỉ khác nhau về thứ bậc “Hoàng Hậu” và “Vương Phi”. Sau cùng mới đến bà vợ cả, tước hiệu rất thường: Đoan Quốc Công Thái Phu Nhân.

“Hoàng Hậu” và “Vương Phi” là tiếng chỉ vợ chính và vợ lẽ của bậc vua chúa. Còn tiếng “Phu Nhân” để chỉ vợ quan hay dân có ít nhiều địa vị. Như vậy, Đoan Quốc Công Thái phu nhân, chỉ có nghĩa là vợ ông Đoan Quốc Công, tức là tước hiệu thường của Nguyễn Hoàng, khi chưa được truy tặng vương quyền.

Bà Thái phi Minh Đức

Nguồn sử liệu của ta chỉ cho biết vài chi tiết sơ lược như trên về vợ con chúa Nguyễn Hoàng. Nếu chúng ta biết thêm gì về bà Minh Đức, ấy là nhờ nguồn sử liệu của các nhà truyền giáo đương thời.

Trong các cuốn ký sự về việc truyền giáo xứ ta hồi ấy, các nhà truyền giáo đã nói rất nhiều đến bà, với tên thánh là Maria, hoặc đầy đủ hơn: Maria Mađalêna. Nhờ các tác giả ấy tả rõ mối liên hệ của bà với các chúa đương thời, nên có thể đem các tài liệu ra đối chiếu, suy luận, mà nhận rõ được bà là Minh Đức Vương Thái phi.

Chính cha Cadière giáo sị địa phận Huế, một nhà sử học nổi tiếng, sau nhiều năm tìm tòi và nghiên cứu tài liệu tại các thư viện trong nước và ngoại quốc, là người đầu tiên đưa ra quyết luận trên đây và cho là một sự thực lịch sử không thể sai lầm. (1)

Khảo sát và đối chiếu các tài liệu, người ta có thể biết bà Minh Đức sinh vào khoảng năm 1568. Quả thực, cha Đắc Lộ khi kể các việc xảy ra năm 1644-1645, có cho biết, hồi ấy bà đã “ngoài bảy mươi sáu tuổi” (2). Ta hãy kể như bà thọ chẵn 76 tuổi vào năm 1644, thì biết bà sinh năm 1568. Bà dòng dõi nào, nguyên quán đâu, ta không rõ. Chỉ biết rằng, theo gia phả nhà Nguyễn, ông Nguyễn Phúc Khê, con út ông Nguyễn Hoàng, do mẹ là Minh Đức Vương Thái Phi, sinh ra ngày 19 tháng 2 năm 1589, tức là trong thời kỳ ông Nguyễn Hoàng đóng ở Thuận Hóa lần thứ nhất (1558-1593).

Như vậy, lúc sinh ông Hoàng Khê, bà Minh Đức mới 21 tuổi, ông Nguyễn Hoàng 64 tuổi, và hai ông bà làm bạn với nhau chắc chỉ mới một vài năm trước, nghĩa là lúc bà Minh Đức vừa đến độ thanh xuân. Sự chênh lệch này không đáng ngạc nhiên, vì ở thời trước, nhất là trong giới quý phái, khi một người đã có tuổi mà lấy vợ lẽ, thường cưới một thiếu nữ trẻ tuổi. Đàng khác, ta sẽ thấy bà Minh Đức chẳng những sống hết đời chúa Nguyễn Hoàng và chúa Sãi, mà còn qua đời chúa Thượng, đến đầu đời chúa Hiền là chắt nội ông Nguyễn Hoàng nữa. Theo các tài liệu sẽ dẫn chứng sau này, bà Minh Đức chết vào khoảng cuối năm 1648 hay đầu năm 1649. Như vậy, bà thọ ngoài 80 tuổi.(3)    

Ông Hoàng Khê

Muốn hiểu rõ vai tuồng lịch sử của bà Minh Đức, cần phải hiểu rõ địa vị và công nghiệp của Hoàng tử Khê, con bà, trong triều Nguyễn Phúc buổi đầu.

Tinh thông võ bị và mưu trí hơn người, ông được chúa Tiên bổ nhiệm chức chưởng cơ. Khi chúa Nguyễn Hoàng chết, và anh ông là Sãi Vương lên nối nghiệp (1613), Hoàng tử Khê mới 25 tuổi.

Năm Bính Dần 1629, đời Sãi Vương, ông thăng tới chức Tổng trấn, với tước Tường Quận công. Năm 1635, Sãi Vương chết, con là Công Thượng Vương lên thay. Hoàng tử Khê với tư cách Hoàng thúc, được uỷ nhiệm tu chỉnh nền hành chính trong xứ, và phụ giúp tân vương mọi việc. Ông có công đánh dẹp được đám loạn quân do Hoàng tử An, em Công Thượng Vương cầm đầu, đựơc chúa Thượng trọng thưởng.

Ông chết năm Bính Tuất 1646, thọ 58 tuổi, đã từng giúp việc triều chính 40 năm, dưới 3 đời vua, tài cao đức lớn, ai cũng cảm phục. Được suy tôn Thượng trụ Quốc tổng trấn Quận công. Chôn tại làng Hiền sĩ, tỉnh Thừa Thiên, có đền thờ ở làng Nam Phổ, và được thờ tại Thái Miếu. 

Vua Minh Mạng, truy phong cho ông tước Nghĩa Hưng Quận Vương, ngụ ý khen ông là bậc công thần đã tận tâm trung thành với các tiên đế lúc khai sáng sự nghiệp.

Quả thực, ông đã chứng tỏ là một bậc trung thần hiếm có. Hồi ấy cơ sở nhà Nguyễn chưa củng cố, mỗi khi có sự thay đổi ngôi thứ, làm nảy ra bao nhiêu tham vọng chiếm đoạt, như việc Hoàng tử Hiệp, Trạch, Anh lần lượt dấy loạn. Phần ông, nếu ông có tham vọng ấy, ông có thể may mắn thành công hơn nhiều, nhất là khi Sãi Vương chết, Công Thượng Vương lên kế vị rất yếu thế, mà ông thì có ảnh hưởng lớn. Song ông không hề có tham vọng chiếm đoạt chính quyền.

Khi Sãi Vương gần tắt thở, gọi ông đến bên giường bệnh, gởi gắm con mình là Công Thượng Vương và nhờ cậy giúp đỡ tân vương, ông long trọng hứa hết lòng tận tuỵ. Và cả đời, ông trọn vẹn với lời hứa. Chính ông đã dẹp được Hoàng tử Anh để bảo vệ tân vương. Và chính ông giúp tân vương chỉnh đốn việc cai trị.

Tất cả sự nghiệp ấy, ông đều lập được dưới con mắt chứng kiến – và có lẽ với ảnh hưởng của một bà từ mẫu: Minh Đức Vương thái phi (Bà Minh Đức sống lâu hơn ông hai năm).

Xem thế đủ rõ, trong triều các chúa đầu nhà Nguyễn, bà Minh Đức Vương thái phi có một địa vị và một uy thế rất lớn.

Mà bà lớn ấy là một người Công giáo gương mẫu.

Chú thích

(1) Xem bài: “Une princesse chrétiene à la Cour des premiers Nguyễn: Madame Marie” của L.Cadière, trong “Bulletin des Amis du Vieux Huế”, tập 2 năm 1939. Và bài: “Chú thích J; về bà Maria” cũng của tác giả, trong “Lịch sử Đạo Thiên Chúa ở Việt Nam”, Đại Việt, Huế 1944.

(2) Còn tại liệu và chú thích trang 64 sau đây.

(3) Cha Cadière cũng công nhận “năm 1644, bà Minh Đức đã có hơn 76 tuổi”, nhưng đến khi tính năm sinh của bà, cha lại coi bà thọ hơn 76 tuổi vào năm 1648-1649 là năm bà chết, và tính từ đó ngược lại, thành ra năm sinh vào khoảng 1573-1574 hoặc sớm hơn một vài năm nữa, tức là trong khoảng 1570-1574. Theo cách này thì bà sinh ông Hoàng Khê vào khoảng 18 tuổi mà thôi. Chúng tôi không đồng ý về cách tính này, vì nếu năm 1644 bà Minh Đức đã có hơn 76 tuổi, thì đến năm 1648-1649 bà phải thọ ngoài 80 tuổi mới phải; và như vậy bà phải sinh vào khoảng năm 1568, như chúng tôi đã nói ở trên.

CHƯƠNG 2: MINH ĐỨC VƯƠNG THÁI PHI TRỞ LẠI CÔNG GIÁO TRONG TRƯỜNG HỢP NÀO?

 

Trong cuốn ký sự về việc truyền giáo của Dòng Tên (1) trong khu vực Nhựt Bổn, giáo sĩ Cardim, người Bồ Đào Nha, có tới giảng đạo tại Việt Nam, đã viết một đoạn như sau:

“Cha Francois Basom (tức Buzomi theo tiếng Ý) không hề ra khỏi xứ Đàng Trong, vì quan trấn thủ tỉnh Pullolambi (tức Poulo Cambi: Quy Nhơn ngày nay) giữ ngài trong tỉnh mình; ngài ở đó cho tới khi Bề trên sai mấy bạn đồng liêu đến học tiếng với ngài; bấy giờ lòng giận dữ của vua quan và dân chúng đã nguôi, các giáo sĩ ấy mới đến thăm chúng tôi ở Cacciam (Kẻ Chàm: Quảng Nam). (2)

 “Tại đây các linh mục ấy đàm luận nhiều lần với các sư vãi, đem hết lý lẽ ra thuyết phục các nhà sư, được kết quả làm cho nhiều người trở lại cùng Thiên Chúa. Trong số những người ấy có một bà vương phi vợ lẽ của vị chúa đã qua đời, cùng nhiều người trong hàng vọng tộc và nhiều ông quan cũng trở lại đạo: tính đến năm 1629, số người nhập đạo lên tới trên 15.000”(3).

Mấy hàng vắn tắt trên đây, gợi lại trong trí chúng ta bao nhiêu trang sử tốt đẹp của việc truyền giáo buổi đầu ở nước ta do các giáo sĩ Dòng Tên phụ trách: những trang sử ấy càng thêm huy hoàng vì được chiếu rọi bởi một ngôi sao sáng lạn: bà Vương phi Minh Đức.

Các Giáo Sĩ Dòng Tên Mở Việc Giảng Đạo Ở Việt Nam.

Trước thế kỷ XVII, đã có nhiều giáo sĩ đạo Thiên Chúa đặt chân tới nước Việt Nam, nhưng công cuộc truyền giáo xứ này thường được coi là đích thực khởi sự từ khi có mặt các giáo sĩ Dòng Tên.

Ngày 18 tháng 1 năm 1615, đời chúa Sãi, hai giáo sĩ Dòng Tên, Francesco Buzomi, người Ý và Diego Carvalho, người Bồ Đào Nha, lên bộ ở Cửa Hàn. Họ được chúa Nguyễn cho phép lưu trú và lập nhà thờ giảng đạo. Carvalho chỉ ở lại một năm, còn Buzomi ở lại cho đến năm 1639, lập nên một sự nghiệp lớn lao, đáng kể là vị khai sáng Giáo hội Đàng Trong.

Trong khoảng 10 năm tiếp đó, có tất cả chừng 21 tu sĩ Dòng Tên (17 linh mục, 4 thầy phụ tá) đến giảng đạo, trong số đó, nổi tiếng nhất là các cha: Francesco di Pina, đến năm 1617; Christoforo Borri (ngài để lại một cuốn ký sự rất có giá trị đối với lịch sử chính trị, xã hội, và tôn giáo nước ta thời ấy)(4) và Pedro Marquez, đến năm 1618; Alexandre de Rhodes, đến năm 1624.

Trong thời kỳ ấy cũng như về sau này, các giáo sĩ có khi được lòng vua quan dân chúng thì việc truyền giáo rất dễ dàng, có khi lại bị dân chúng ghen ghét gièm pha, vua quan bắt bớ, cấm ngăn việc giảng đạo. Dầu vậy các giáo sĩ cũng lập được nhiều họ giáo ở Kẻ Chàm (Cacciam), ở Cửa Hàn (Đà Nẵng, Tourane), ở Hội An (Faifo) và ở Nước Mặn (Quy Nhơn, Bình Định).

Tài liệu kể trên nói việc quan trấn Quy Nhơn lưu cha Buzomi ở tỉnh mình, điều đó phù hợp với bản ký thuật của giáo sĩ Borri (5). Khi ấy, cha Buzomi đang ở Cửa Hàn, bị quan dân đọa đày, sống khổ cực thiếu thốn, lại mang bệnh tật; quan trấn Quy Nhơn nhân có việc lên Quảng Nam, thấy cảnh động lòng liền rước cha về Quy Nhơn săn sóc. Các cha Pina, Borri cũng đi theo cha Buzomi sau mới lại về Hội An và Cửa Hàn.

Tài liệu trên lại kể, trong số những người mới nhập đạo, có bà Vương phi, vợ lẽ chúa đã qua đời. Tác giả đang kể những việc xảy từ năm 1615 đến 1629, nghĩa là dưới thời chúa Sãi, tức Nguyễn Phúc Nguyên, con thứ 6 của chúa Nguyễn Hoàng.

Chúa Nguyễn Hoàng, thọ 89 tuổi, đã chết từ năm 1613. Bà Vương phi còn sống lúc đó không ai khác ngoài bà vợ trẻ nhất của chúa tức bà Minh Đức Vương thái phi, như các tài liệu khác cũng công nhận.

Nhưng bà Minh Đức trở lại đạo do giáo sĩ nào khuyên bảo, năm nào và ở đâu?

Bà Minh Đức trở lại đạo…

Trong một cuốn ký sự, giáo sĩ A-Lịch-Sơn Đắc Lộ có kể việc như sau:

“Lúc ấy tôi đang ở tỉnh Chàm (Quảng Nam) là nơi có nhiều người trước thờ bụt thần nay đã chịu phép rửa tội.

“Từ đó, chúng tôi khởi hành đi kinh đô; dọc đường chúng tôi nghỉ lại ít ngày tại tỉnh Hoá, nơi đây có một bà trong số những bà lớn nhất trong nước, có họ rất gần với chúa, và trước kia rất sùng bụt thần, sau khi được nghe cha Pina giảng đạo, được ơn Đức Chúa Thánh Thần soi sáng, liền bỏ hẳn sự lầm lạc dối trá, chịu phép rửa tội, lấy tên thánh là Maria Mađalêna, rồi từ đó trở nên cột trụ cho hội giáo mới này.

“Gương sáng và uy tín của bà là lợi khí rất mầu nhiệm làm cho nhiều người ngoại giáo trở lại và làm cho những bổn đạo mới chịu phép Thánh tẩy được vững lòng giữ đạo”. (6)

Bà Maria Mađalêna mà giáo sĩ Đắc Lộ nói đây, không phải ai khác mà chính là “bà Vương phi, vợ lẽ vị chúa đã qua đời” trong tài liệu của giáo sĩ Buzomi đã kể trên. Cha Đắc Lộ ở đây không nói đến lai lịch bà mà chỉ ghi bà là một trong số những bà lớn nhất trong nước, có họ rất gần với vị chúa đương thời, tức Sãi Vương, con kế nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng. Giáo sĩ Đắc Lộ chỉ kể “tên thánh” của bà, nhưng đối chiếu sử liệu Việt Nam, ta biết chắc chắn, người mang tên thánh đó ở hoàn cảnh lịch sử đó, không ai khác ngoài bà Vương thái phi Minh Đức, mà mối liên hệ với chúa đương thời, là liên hệ của kế mẫu với con chồng.

Chiếu theo tài liệu này của cha Đắc Lộ thì bà trở lại đạo do giáo sĩ Pina khuyên giảng và làm phép rửa tội. Còn theo tài liệu trên kia của cha Cardim, người ta biết rằng bà trở lại trong dịp nhiều nhà sư cũng xin tòng giáo.

Vậy, cuốn ký sự của giáo sĩ Borri cho biết rằng chính giáo sĩ Pina là người “rất thạo tiếng Nam, đã làm cho nhiều người nhập đạo, trong đó có cả mấy ông sư…”

Giáo sĩ Francisco di Pina, dòng Tên, người Ý, đã tới Việt Nam từ năm 1617 như đã nói trên, đã giảng đạo ở Hội An, đã theo cha Buzomi xuống Quy Nhơn rồi trở lại Cửa Hàn. Ông chết năm 1625 tại ven biển Đàng Trong, trong khi thừa hành nhiệmvụ truyền giáo đối với thuỷ thủ Bồ Đào Nha.

Châu Hóa, năm 1625……

Cũng nhờ tài liệu của giáo sĩ Đắc Lộ mà chúng ta có thể biết được bà Minh Đức rửa tội thời kỳ nào và ở đâu.

Quả thực, sau khi kể việc bà Maria trở lại đạo và nên cột trụ cho hội giáo mới, giáo sĩ Đắc Lộ có thêm câu này: “Tôi tưởng rằng bà ấy vẫn một lòng bền đỗ như vậy từ 28 năm nay”. Cuốn sách của giáo sĩ viết và in năm 1653. Trừ đi 28 năm, chúng ta biết được năm bà chịu phép rửa tội: 1625 – cũng là năm giáo sĩ Pina qua đời.

Lúc ấy giáo sĩ Đắc Lộ vừa mới tới Việt Nam, vào khoảng tháng chạp 1624, hoặc tháng giêng 1625, thoạt đầu ở tại Kẻ Chàm (Quảng Nam). Ít nhất giáo sĩ cũng phải học tiếng sáu bảy tháng rồi mới theo cha Pina đi làm việc truyền giáo trong cuộc hành trình này. Vậy hai giáo sĩ có tới “tỉnh Hóa” cũng vào khoảng giữa hoặc cuối năm 1625.

“Tỉnh Hóa” là tỉnh nào? Không phải là thành Huế vì khi đó chưa có Huế. Chúng ta nhớ rằng, đời Trần, vua Chiêm Thành dâng châu Ô, châu Lý để cưới nàng Huyền Trân. Vua nước ta đổi tên hai châu ấy thành châu Thuận, châu Hóa. Riêng châu Hóa thì ăn từ phía Nam Quảng Trị, qua tỉnh Thừa Thiên xuống đến phía Bắc Quảng Nam ngày nay. Tiếng tỉnh Hóa của giáo sĩ hẳn là chỉ “châu Hóa”, một trong hai địa hạt của tỉnh Thuận Hóa bao la.

Kinh đô chúa Nguyễn bấy giờ ở đâu? Vẫn còn ở Trà Bát, cách Quảng Trị 10 cây số về phía Bắc, nghĩa là trong châu Thuận. Nhưng sách “Đại Nam thực lục tiền biên” cho biết rằng, tháng 3 năm Bính Dần, tức tháng tư năm 1626, chúa Sãi dời đô về làng Phước Yên trong châu Hóa cách thành Huế ngày nay 10 cây số về phía Bắc.

Vậy khi ấy, trong châu Hóa, có địa điểm nào quan trọng hơn, nơi ấy hẳn là Phước Yên. Vả lại việc dời đô không phải trong một ngày mà nên. Nếu nhà vua chánh thức di đô vào tháng 3, thì ít là trước đó 5, 7 tháng hay một năm, nhiều cơ sở của chúa Nguyễn hẳn đã di chuyển trước rồi.

Và bà Minh Đức cùng Hoàng tử Khê có lẽ cũng đã từ giã Trà Bát, đến lập dinh trước tại kinh đô mới rồi. Cho nên có thể kết luận rằng, các giáo sĩ Pina, Đắc Lộ, trên con đường đi Trà Bát (kinh đô) đã dừng lại ở Phước Yên, nơi sắp thành kinh đô trong mấy tháng nữa, và lúc ấy đã có phố phường, dinh thự. Thế rồi chính ở nơi này, bà Minh Đức được nghe giáo sĩ Pina giảng thuyết, được ơn Đức Chúa Thánh Thần soi sáng và được chịu phép Rửa tội.

Chú thích

(1) Tiếng thông thường để chỉ Dòng Đức Chúa Giêsu (Compagnie de Jésus viết tắt S.J)

(2) Các bản ký thuật của các giáo sĩ thường dùng danh từ Cacciam, Cacham, Cachan, hoặc Cham, có khi chỉ xứ Quảng Nam, tỉnh Quảng Nam; có khi chỉ nơi trú đóng của cơ sở hành chánh tỉnh Quảng Nam hồi ấy. Tiếng đó bắt nguồn bởi tiếng “Chàm” chỉ đất cũ của người Chàm, xứ của người, “kẻ Chàm” mà ta mới chinh phục.

Ông Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa năm 1558, đến năm 1570, ông sát nhập thêm “xứ” Quảng Nam, từ Cửa Hàn (Tourane) vào đến ngang đèo Cù Mông, phía Nam Quy Nhơn ngày nay (theo Thực Lục tiền biên). Năm 1682, ông tổ chức “dinh” Quảng Nam, và cử người con thứ sáu (tức Sãi Vương sau này) làm Trấn thủ đầu tiên “dinh” này. Các cơ sở hành chánh quân sự của quan Trấn thủ đặt tại địa điểm này là làng Cần Húc huyện Duy Xuyên.

(3) Francois Cardim: Relation de la province du Japon écrite en Portugais par le Père Francois Cardim de la Compagnie de Jésus, procureur de cette province, Tournai 1645.

(4)&(5) Christoforo Borri: Relation de nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine, Lille 1631.

(6) Alexandre de Rhodes: Divers Voyages et Missions du P.Alexandre de Rhodes en la Chine, et autres royaumes de l’Orient, avec son retour en Europe par la Perse et l’Arménie, Paris 1653.

CHƯƠNG 3: NHÂN ĐỨC SÁNG NGỜI

 

Lúc bà Vương thái phi Minh Đức chịu phép rửa tội (1625), bà độ 57 hay 58 tuổi. Giáo sĩ Đắc Lộ  nói rằng, trước khi tòng giáo bà là “người rất sùng bái bụt thần”.

Ngay thời nay, chúng ta cũng thường thấy có những bậc mệnh phụ, phu nhân, hoặc cả những phụ nữ thường, khi sắp về già, tỏ ra một lòng sùng đạo đặc biệt: nào sớm hôm kinh kệ, nay lập đàn cầu đảo, mai hành hương lễ bái, nào xuất tiền của lập chùa chiền, miếu mạo hoặc bố thí làm phước. Bà Minh Đức ở vào số những tâm hồn mộ đạo ấy. Đến khi bà tòng giáo, bà lại đem tất cả lòng sốt sắng nhiệt thành trước kia ra phụng sự Đức tin, mà còn nhiệt thành sốt sắng hơn trước nữa vì được ơn Chúa kích động, sáng soi.

“Thực hành đầy đủ mọi nhân đức”

Giáo sĩ Đắc Lộ là người đã chứng kiến lễ rửa tội của bà Minh Đức, và sau này tiếp xúc rất thân cận bà, đã làm chứng về cuộc đời đạo đức của bà như sau:

“Trong suốt thời kỳ tôi ở xứ này, tôi vẫn gặp bà và tôi tưởng rằng từ 28 năm nay, bà vẫn một lòng bền đỗ trong sự thực hành đầy đủ các nhân đức công giáo.

“Bà lập ra trong dinh bà một ngôi nhà nguyện rất đẹp, mà bà vẫn cố duy trì trong mọi cơn cấm đạo ngặt nghèo; ngày ngày bà làm các việc đạo đức trong nhà thờ đó, và bà mở rộng cửa cho các giáo hữu cả tỉnh đến cầu nguyện; trong tỉnh này, quyền thế của bà rất lớn, một lời bà nói ra không ai dám cưỡng: bà đã dùng những lời lẽ khôn ngoan làm cho nhiều người rất sùng Phật trong nước trở lại với Đức tin công giáo, trong số đó có cả những người họ hàng với nhà chúa. Hiện nay bà vẫn là nơi nương tựa cho tất cả các giáo sĩ chúng tôi, và chẳng có giáo hữu nào mà bà chẳng hết lòng giúp đỡ”. (1)

Thật là một lời ca tụng quý giá; nó phát ra bởi một nhân chứng quan trọng mà tên tuổi rạng ngời trong lịch sử đạo Thiên Chúa ở Việt Nam, thì càng đáng cho ta chú ý biết bao!

Lo cho con cháu trở lại.

Nhân đức lớn nhất của người Công giáo là kính mến Thiên Chúa và thương yêu đồng loại. Vì vậy việc thứ nhất người giáo hữu phải quan tâm là lo cho người khác cũng được nhờ hưởng ơn cứu chuộc. Mà người khác đó là ai, nếu không bắt đầu bằng bà con, họ hàng? Thế nên, sau khi nhập đạo, bà Minh Đức hằng lo lắng cho con cháu bà cũng được ơn trọng đó.

Đối với ông Hoàng Khê, lúc ấy nghiễm nhiên là một nhân vật trọng yếu trong triều, lại đã lớn tuổi, hẳn bà không thể dùng lối khuyên bảo trực tiếp. Bà chỉ nêu gương sáng và ngày đêm cầu nguyện. Bà lại nhờ các giáo sĩ tìm cách chinh phục giùm. Vì thế, ông Hoàng Khê đã có lúc sẵn sàng chịu phép rửa tội, song việc không thành và cuối cùng chính ông lại làm khổ bà mẹ hiền đức của ông, như ta sẽ thấy sau này.

Tuy nhiên bà cũng đạt được nhiều kết quả tốt đẹp. Một tài liệu ghi chép rằng: “Bà công chúa Maria, mẹ của người em vua, giao phó cho cha Buzomi sáu đứa con khác để người rửa tội, trong đó có một thiếu nữ 20 tuổi”.

Lời trên đây rút trong một cuốn sách của giáo sĩ Buzomi (2). Cứ theo lời lẽ trước sau trong sách ấy, thì việc xảy ra năm 1627, đương triều chúa Sãi, kế vị ông Nguyễn Hoàng; bấy giờ chúa Sãi chỉ còn một người em còn sống là ông Hoàng Khê con bà Minh Đức Vương thái phi. Giáo sĩ Pina, người rửa tội cho bà Minh Đức, đã chết đuối (cuối năm 1625), và giáo sĩ Đắc Lộ đã về Macao (tháng 7 năm 1626), song cha Buzomi vẫn còn điều khiển việc truyền giáo trong xứ. Dĩ nhiên giữa cha Buzomi với bà Minh Đức mối liên lạc về đường tôn giáo rất khắng khít.

Sáu đứa con bà giao cho cha Buzomi, có phải con bà chăng? Trong cuộc hôn nhân của bà với ông Nguyễn Hoàng, hình như chỉ có sinh được một trai là Hoàng tử Khê mà thôi, hoặc giả cũng có con gái nữa mà gia phả không ghi chăng. Nếu không, thì có lẽ đây là những cháu nội bà, con của Hoàng tử Khê (ông Hoàng Khê có tất cả 13 trai, 16 gái). Hoặc cũng có thể nghĩ, đó là những con nuôi hoặc những tôi tớ của bà.

Lo cho con cháu trở lại chưa đủ, bà Minh Đức còn làm việc tông đồ trên một phạm vi rộng rãi hơn nữa, giữa đồng bào khắp nước, như độc giả sẽ thấy ở chương sau.

Chú thích

(1) Alexandre de Rhodes: Voyages et Mission… sách đã kể.

(2) Bartoli: De l’Historia della Compagnia di Gesù: La Cina tái bản ở Turin, 1825.

 

CHƯƠNG 4: TIỀN HÔ CÔNG GIÁO TIẾN HÀNH VIỆT NAM

Khi các tông đồ Chúa Giêsu mới ra giảng đạo, có nhiều người tuy ở ngoài thế gian, sống bậc vợ chồng, nhưng rất nhiệt thành cộng tác vào việc Tông đồ.

Họ đi theo để giúp đỡ các thánh Tông đồ, họ triệu tập các giáo hữu để các thánh Tông đồ giảng dạy, họ che chở, bênh vực các thánh Tông đồ trong thời cấm đạo, chính họ cũng khuyên dụ được nhiều người tòng giáo. Lịch sử Giáo hội, nhất là sách Công vụ các Tông đồ, còn ghi chép tên tuổi nhiều “chiến sĩ đức tin” ấy. Các Đức Giáo hoàng ngày nay thường kể họ là những bậc “tiền hô của phong trào công giáo tiến hành”.

Bà Minh Đức Vương thái phi, đối với Công giáo tiến hành Việt Nam, cũng là một bậc tiền hô, một chiến sĩ buổi đầu. Vì bà đã nhiệt thành cộng tác vào việc tông đồ dưới mọi hình thức: gây dựng nhà thờ, giúp đỡ giáo sĩ, che chở giáo dân, làm gương sáng, khuyến dụ nhiều người trở lại với Chúa…

Lễ phục sinh 1640

Đây chúng tôi lại xin nhường lời cho cha Đắc Lộ làm chứng về hành động tông đồ của bà Minh Đức.

Ta biết rằng cha Đắc Lộ đã rời xứ Đàng Trong năm 1626 để về Macao, rồi sang xứ Bắc giảng đạo. Đến sau vì chúa Trịnh ngoài Bắc ra lịnh cấm đạo, ngài lại về Macao và đến tháng hai năm 1640, được bề trên cử sang xứ Đàng Trong, để thay thế giáo sĩ Buzomi đã về Macao năm trước và từ trần ở đó. Tới Cửa Hàn, cha Đắc Lộ lên kinh đô, và ở đấy cha lại gặp bà Minh Đức.

“Bà lớn này (lời cha Đắc Lộ) mà về phương diện đạo đức lại càng lớn hơn nữa, xưa đã được cha Pina rửa tội và đặt tên thánh là Maria… (nghe tin tôi tới) bà lập tức mời tôi đến nhà bà, tại đó bà đã lập một nhà thờ làm nơi trú ẩn cho tất cả giáo hữu trong tỉnh lớn này.

“Tôi bắt đầu tận tuỵ ngày đêm với các giáo hữu, họ đến chịu các phép Bí tích với một lòng ham mộ ít ai ngờ. Ngày nào tôi cũng làm lễ. Những ngày chúa nhật và lễ trọng, vì có đông người tới dự, tôi phải làm nhiều lễ. Tôi ở đấy cả Tuần thánh và tôi thú thật rằng chính ở đấy chứ không phải bên Au Châu mà người ta thấu cảm sự thương khó Chúa.

“Trong 30 ngày tôi ở tỉnh này, có tất cả 94 người xin nhập đạo, được chịu phép rửa tội, trong số đó có ba bà có họ rất gần với nhà chúa, và tôi đã rửa tội rất long trọng cho họ ngày lễ Phục sinh.

“Ngoài ra lại có một thầy chùa, nhờ lời bà Maria (tức bà Minh Đức) khuyên bảo, đã quyết lòng bỏ đàng lầm lạc, và trở nên nhiệt thành đến nỗi, từ ngày trở lại đạo, đã giúp cho nhiều người khác cũng trở về đàng chính, thật là điều lạ lùng”. (1)

Ngày lễ Phục sinh đáng ghi nhớ đó, tính theo lịch, nhằm ngày mùng 8 tháng 4 năm 1640, đời Công Thượng Vương Nguyễn Phúc Lan (tục gọi chúa Thượng) (1635-1648), con kế nghiệp chúa Sãi.

Thầy giảng Y-nha-xô

Trở sang Đàng Trong lần thứ hai này, giáo sĩ Đắc Lộ ở lại được 8 tháng: đến tháng chín năm 1640, cha lại phải buộc lòng rời bỏ các giáo hữu Việt Nam, vì lệnh chúa Thượng trục xuất.

Trước kia, khi giảng đạo Đàng Ngoài, cha đã đào tạo được một số “thầy giảng” bản quốc, họ giúp việc truyền giáo rất đắc lực. Nay vào Đàng Trong, cha đem kinh nghiệm ấy ra thực hiện. Vì thế trong khi giảng đạo, cha đã tuyển lựa một số thanh niên xuất sắc để đào luyện thành những “thầy giảng”.

Nhà bà Minh Đức hiến cho giáo sĩ được một “thầy giảng” rất đắc lực, mà giáo sĩ ghi tên trong các bản ký sự bằng “tên thánh” là “Y-nha-xô”.

Y-nha-xô trước kia đã có vợ, có con, sau vợ chết, vào giúp việc trong dinh ông Hoàng Khê. Y-nha-xô vốn người đức hạnh, ngay chính, thấy gương sáng của bà Minh Đức thì động lòng, khi được nghe bà và các giáo sĩ cắt nghĩa lẽ đạo, liền quyết trở lại đàng thật và trở nên một đạo mục giúp cha Đắc Lộ.

Sau khi cha Đắc Lộ bị bắt buộc rời xứ, Y-nha-xô cùng mấy thầy giảng khác và nhất là bà Minh Đức, đã trở nên cột trụ cho tất cả bổn đạo nương cậy trong lúc thiếu linh mục.

Lễ Sinh nhật năm 1643

Câu chuyện lễ Sinh nhật năm 1643 là một tích chứng hùng hồn về tinh thần tiến giáo của bà Minh Đức và thầy giảng Y-nha-xô.

Lễ Sinh nhật này cha Đắc Lộ không có mặt tại Việt Nam; mặc dầu cha đã trở lại đây, lần thứ ba, hồi tháng giêng 1642, song cha chỉ ở được đến tháng chín 1643 thôi. Cũng không một linh mục nào khác có mặt trong xứ. Thầy giảng Y-nha-xô và bà Minh Đức thay thế các linh mục tổ chức mừng lễ Chúa giáng sinh rất long trọng.

Đây là lời tường thuật của cha Đắc Lộ:

“Y-nha-xô trở lại triều đình và mừng lễ Sinh nhật tại đó với rất đông giáo hữu. Họ lập một hang đá rất xinh đẹp trong nhà bà lớn Maria, mẹ người chú của chúa (Nguyễn) là một tín hữu rất xứng đáng, đã nhiều phen chịu thử thách mà đức tin rất vững vàng.

“Lòng đạo đức của bà hôm ấy thật sáng tỏ: bà đã làm cho người con của bà và các cháu của bà đến thờ lạy và triều yết Vua Vinh hiển xuống thế làm người; chính bà lại đem những sự cao cả của Người mà rao giảng cho những kẻ từ khắp nơi kéo đến kính viếng Người trong hang đá này”. (2)

Cảm động thay buổi lễ Sinh nhật ấy ở chốn triều đình Việt Nam ba thế kỷ trước! Không một bóng linh mục, không một lễ Misa, chỉ có một phụ nữ để rao giảng “Tin Tốt Lành”: Vua trên các vua đã ra đời.

Người phụ nữ ấy, nhờ tài liệu này, càng được biết chắc chắn là Minh Đức Vương thái phi, không một chút nghi ngờ. Vì hồi này đương thời chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan, con kế nghiệp chúa Sãi, Nguyễn Phúc Nguyên. Ông Hoàng Khê, em chúa Sãi, tức là chú chúa Thượng. Vậy “bà lớn Maria, mẹ người chú chúa Thượng”, là ai, nếu không phải là Minh Đức Vương thái phi? Thật là rõ ràng.

Chú thích

(1) Alexandre de Rhodes: Voyages et Missions (đã kể)

(2) A.de.Rhodes: Relation des Progrès de la Foi au Royaume de la Cochinchine vers les derniers quartiers du Levant, Paris 1652.

CHƯƠNG 5: NHÀ THỜ CỦA BÀ MINH ĐỨC, MỘT TRUNG TÂM TRUYỀN GIÁO

 

Hồi các giáo sĩ Dòng Tên đến giảng đạo ở “Đàng Trong”, các ngài lập trụ sở ở một nơi ngoại ô Cửa Hàn (Đà Nẵng) vì đây là nơi tàu bè qua lại, người ngoại quốc tới buôn bán đông đúc, có nhiều điều thuận tiện cho các giáo sĩ.

Tuy nhiên, một nơi khác cũng đáng gọi trung tâm sự hoạt động truyền giáo thời ấy, là ngôi nhà thờ của bà Minh Đức Vương thái phi.

Ngôi nhà thờ quan trọng này ở đâu?

Trước đây, ta đã thấy khi cha Đắc Lộ và cha Pina gặp bà Minh Đức lần đầu tiên và bà chịu phép rửa tội, năm 1625, thì có lẽ bà đang cư ngụ tại Phước Yên ở phía Bắc thành Huế ngày nay 10 câysố, và lúc ấy, thủ phủ chúa Sãi còn đóng tại Trà Bát, nơi chúa Nguyễn Hoàng lập dinh trại từ năm 1558. Từ Trà Bát, Sãi vương di trụ sở về Phước Yên mùa xuân năm 1626. Mười năm sau, tháng giêng hoặc tháng hai năm 1636, con kế nghiệp Sãi vương là Công Thượng Vương lại di đô một lần nữa, về Kim Long, thuộc ngoại ô thành phố Huế ngày nay. Ông Nguyễn Phúc Khê con bà Minh Đức, chiếu di mệnh của Sãi vương, giữ trọng trách như phụ chính đại thần, tất không thể không ở ngay kinh đô để ngày đêm phụ giúp tân vương. Theo tục lệ và đạo tam tòng, bà Minh Đức, lúc ấy góa bụa, chỉ có ông Hoàng Khê là con trai, tất không thể không ở với con. Vì vậy khi giáo sĩ Đắc Lộ trở lại Đàng Trong kỳ thứ hai, năm 1640, hẳn là gặp bà ngay tại Huế, hoặc Kim Long: đó là kinh đô chúa Nguyễn, đó là “Thuận Hóa” “Sinua” trong ký sự của các giáo sĩ. Dinh ông Hoàng Khê ở đó thì cũng là dinh bà Minh Đức. Và chính trong dinh đó, bà đã cất ngôi nhà thờ lịch sử.

Điều ấy được xác nhận trong nhiều tài liệu. Trước đây, ta đã thấy, nhân ngày lễ Sinh nhật năm 1643, bà Minh Đức đã lập hang đá “ngay trong nhà thờ của bà”, và bà đã làm cho người con của bà và các cháu của bà đến thờ lạy Chúa giáng sinh. Sau đây, ta sẽ thấy khi ông Hoàng Khê phá nhà thờ của bà, thì bà liền “bỏ nhà con” và trong tám ngày liền, chỉ những than thở khóc lóc thôi. Và cha Đắc Lộ còn cho biết: “Trong dinh của bà” có người “quản lý sự vụ cho con bà”, rất nhiệt thành giúp việc tông đồ. Thật rõ ràng ngôi nhà thờ của bà Minh Đức ở ngay trong dinh ông Quận Công Nguyễn Phúc Khê, cũng là dinh của bà, tại Kim Long hoặc miền phụ cận Huế ngày nay.

Như bạn đọc đã nhận thấy ở các chương trên, ngôi nhà thờ này không phải chỉ là nơi thờ phượng và cầu nguyện riêng của bà Minh Đức và con cháu bà. Bà đã biến nó thành nơi trú ngụ, chỗ hội hiệp của các giáo sĩ, các thầy giảng và các bổn đạo. Những tích truyện về Lễ phục sinh năm 1640, lễ Sinh nhật năm 1643 chẳng những đã nêu cao tinh thần tiến giáo của bà Minh Đức mà còn chứng tỏ ngôi nhà thờ của bà là một căn cứ truyền giáo.

Nhưng thời kỳ mà cơ sở truyền giáo ấy, xem ra hoạt động nhất, là vào khoảng mấy năm chót của giáo sĩ Đắc Lộ ở xứ này.

Ngày lễ Lá long trọng năm 1644

Giáo sĩ Đắc Lộ từ căn cứ Macao trở lại Đàng Trong lần thứ tư – và cũng là lần chót – đầu tháng ba năm 1644. Sau khi lên bộ ở Cửa Hàn, giáo sĩ liền tới kinh đô yết kiến chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn lúc ấy vẫn là Công Thượng Vương, đóng đô tại Kim Long, ngoại ô thành Huế ngày nay.

Nguyên hồi tháng 9 năm trước, giáo sĩ đã phải buộc lòng tạm rời xứ này, để nhà vua khỏi sinh ác cảm. Nay cha trở lại với nhiều lễ vật lạ lùng (đồng hồ, máy móc) định mang cho nhà chúa để sự lưu trú được dễ dàng.

Khi giáo sĩ ra mắt chúa với những phẩm vật ấy, quả nhiên được chúa Thượng trọng đãi, lưu lại trong triều, đến nỗi cha nhớ bà Minh Đức mà không ra thăm được. Trong khi đó, bà Minh Đức luôn luôn cho tin mời giáo sĩ. Bà tỏ ra nóng lòng muốn được mau sớm chịu các phép Bí tích vì đã lâu không được gặp thầy cả nào.

Sau cùng cha Đắc Lộ tới nhà bà Minh Đức, và mở “Lễ Lá” ở đó, vì vừa bắt đầu đến Tuần thánh. Cha đến lúc ban đêm, và cũng mở lễ ban đêm, trong tư dinh bà Minh Đức, để khỏi mất lòng vua quan và những người không ưa đạo mới. Tuy vậy, cuộc lễ rất long trọng, sốt sắng. Cha Đắc Lộ kể rằng:

“Tôi đến kín đáo ban đêm để khỏi mất lòng chúa. Tôi được bà ấy (chỉ bà Minh Đức) tốt lành về mọi nhân đức công giáo, tiếp đón tôi như tôi là một thiên thần. Bà lo liệu cho cả gia đình bà chịu các phép Bí tích – mà gia đình bà rất đông đúc.

“Bà xưng tội rước lễ đầu tiên; tất cả bổn đạo từ khắp nơi cũng đến thông công việc đạo đức. Tôi phải ở luôn hai ngày với họ, và vì có nhiều người xưa nay chưa được dự lễ làm phép lá lần nào, nên tôi triệu tập họ lại sáng chúa nhựt lúc còn đêm tối để làm Lễ Lá cho họ dự.

“Họ dự lễ với một lòng hoan hỉ đến nỗi khiến tôi tưởng như được chứng kiến sự hân hoan của dân Giêrusalem lấy cành và lá đón mừng Chúa Giêsu vào thành vậy”. (1)

Tra cứu lịch, ngày Lễ lá đặc biệt này nhằm ngày 20-3-1644.

Những linh hồn được khai sanh trong nhà bà Minh Đức…

Sau ngày Lễ Lá nói trên, cha Đắc Lộ trở về Cửa Hàn (ngài chép là Kean) và ngày thứ Tư Tuần thánh; cha mở lễ truyền phép Thánh thể và lễ Phục sinh tại tỉnh này.

Đến trung tuần tháng tư năm ấy (1644), cha Đắc Lộ lại lên kinh đô, cách kín đáo, để giúp việc đạo đức cho các bổn đạo đang chờ mong. Nhà bà Minh Đức lại là nơi trú ngụ quý giá của vị Tông đồ. Lần này cha Đắc Lộ ở lại luôn 8 ngày, ngày nào cũng có người tới xưng tội rước lễ không ngớt, mặc dầu đã phải hoãn nhiều người vì nhận thấy họ chưa dọn mình đủ. Và giáo sĩ kể:

“Tôi lại rửa tội cho nhiều người ngay trong dinh chúa (Nguyễn) trong số đó có một người thợ kim hoàn mà chúa (Nguyễn) yêu chuộng lắm. Người thợ ấy trở lại rồi, lại giảng đạo cho kẻ khác, lượm được nhiều kết quả tốt đẹp, nhất là ở chỗ quê hương.” (2)

Và những tông đồ được tác tạo ở đấy…

Từ kinh đô (Kim Long), cha Đắc Lộ, trên đường truyền giáo, cứ đi lần lên phía Bắc, đến tận Quảng Bình, nơi có thành luỹ kiên cố làm giới hạn cho xứ Đàng Trong. Bên kia bức tường đó, là cả một Giáo hội đẹp đẽ do cha gây dựng trong bao năm trước, và ở đó Ngài còn để biết bao kỷ niệm tốt lành: Giáo hội Đàng Ngoài (Bắc Kỳ).

Không vượt qua biên cương được, cha lại trở về Huế, khoảng đầu tháng sáu 1644. Hãy nghe cha kể:

“Khi nào tôi thấy nhà vua tỏ ra có cảm tình, thì tôi cố gắng tìm cách khôn ngoan làm cho việc truyền bá Đức tin được nhiều điều thuận lợi như chúng tôi ước muốn.

“Trong dinh bà Maria (tức bà Minh Đức) có người quản lý sự vụ cho con bà (ông Hoàng Khê), tức là chú của chúa (Thượng), giúp chúng tôi thực hành ý muốn một cách có hiệu quả lạ lùng. Người ấy lợi dụng mọi dịp mình có thể gặp, để làm cho những người lầm lạc được nhận biết và trở về đàng thật”. (3)

Cha Đắc Lộ, ở một chỗ khác, còn ghi rõ tên thánh người quản lý nói trên là Gioan. Trước đây, chúng ta đã thấy nhiều người trở nên “tông đồ” trong ngôi nhà thờ của bà Minh Đức. Nào ông sư trở lại, rồi đi khuyên người khác trở lại. Nào thầy giảng Y-nha-xô… Nào người thợ kim hoàn làm chiến sĩ Công giáo. Bấy giờ lại thêm một thầy giảng thế giá và đắc lực, xuất thân tự ngôi nhà thờ bà Minh Đức!

Một vị Hiệp công truyền giáo

Cha Đắc Lộ bị trục xuất lần chót và mãi mãi ra khỏi Đàng Trong ngày 3 tháng 7 năm 1645. Để tóm lại công cuộc truyền giáo của ngài suốt thời kỳ kế vị cha Buzomi (1640-1645), ngài viết trong một cuốn sách khác như sau:

“Tôi đi khắp cùng hết cả họ giáo của tôi, một họ giáo bao la ăn rộng tới sáu trăm hai mươi dặm mà chỉ có mình tôi là linh mục. Mỗi năm tôi rửa tội được ít là 1.400 đến 1.500 bổn đạo mới.

“Tôi đã thâu nhận nhiều thầy giảng, họ sống như thiên thần, và tận tâm làm cho người ngoại giáo trở lại một cách có kết quả lạ lùng.

“Mặt khác, một bà cô mẫu của chúa là Maria Mađalêna (tức là bà Minh Đức) đã giúp đỡ chúng tôi một cách lạ lùng trong công việc theo ý muốn chúng tôi. Nói tóm lại, thì bổn đạo Đàng Trong chẳng bề nào thua kém giáo hữu Đàng Ngoài”.(4)

Thật là một lời ca ngợi chân thành đối với sự nghiệp tông đồ của bà Maria Mađalêna Minh Đức Vương Thái Phi!

Nếu người ta có thể nói nhà truyền giáo là một Giêsu khác, “Alter Christus”, thì trong trường hợp này người ta cũng có thể nói: bà Minh Đức là một Maria khác.

Chúa Giêsu là Đấng cứu chuộc loài người.

Đức Bà Maria là Đấng Hiệp công cứu chuộc.

Đối với 12 Tông đồ trực tiếp của Chúa Cứu Thế, Đức Mẹ Maria giữ vai trò thế nào, thì bà Maria Minh Đức cũng đóng một vai trò tương tự đối với 10 hay 12 thầy giảng của cha Đắc Lộ, những tông đồ người Việt đầu tiên.

Và nếu các cha Buzomi và Đắc Lộ là những nhà khai sáng Giáo hội Việt Nam, thì bà Minh Đức là người đồng công khai sáng Giáo hội Việt Nam vậy. Đức sáng của bà Minh Đức thật đã chứng tỏ bà hằng thi hành lời Chúa dạy:

“Chúng con phải là ánh sáng, soi đường cho dân gian. Phố xá xây trên đỉnh đồi, thì không thể che khuất được; không ai đốt đền rồi bỏ vào thùng, phải để lên đế, như vậy mới sáng cả nhà được. Anh sáng của chúng con cũng phải chiếu giãi trước mặt dân chúng để họ xem thấy việc lành chúng con làm mà ngợi khen Cha chúng con ở trên trời”. (Matthêu V.14-15)

Chú thích

(1)     Alexandre de Rhodes, Voyages et Missions

(2)     (2) Alexandre de Rhodes, Voyages et Missions

(3) Alexandre de Rhodes, Voyages et Missions (đã kể)

(4) Sommaire de divers voyages et missions apostoliques du P.Alexandre de la Compagnie de Jésus, à la Chine, et autres royaumes de l’Orient avec son retour de la Chine à Rome. Depuis l’année 1618 jusques à l’année 1653, Paris, 1653.

CHƯƠNG 6: ĐƯỜNG THÁNH GIÁ

Thấy bà Minh Đức có địa vị lớn trong triều chúa Nguyễn, và làm được nhiều công cuộc tốt đẹp, ta đừng vội tưởng đường đời của bà luôn luôn là đường hoa gấm.

Không, từ ngày tòng giáo, bà đã phải đương đầu với rất nhiều nỗi gian truân, đau khổ. Bà đau khổ nhất về tinh thần, không khác gì những đau khổ của Đức Mẹ khi cùng Con chí thánh đi trên con đường Thánh giá đầu tiên vậy.

Một mối tâm tang…

Chúng ta còn nhớ, bà Minh Đức chịu phép rửa tội vào khoảng giữa năm 1625, và cha linh hồn của bà là Francesco de Pina, người Ý. Ngày nay chúng ta thường thấy mối cảm tình thâm sâu ràng buộc cha rửa tội với người chịu phép rửa tội, nhứt là khi người đó đã lớn tuổi và đã biết tự ý chọn cha rửa tội cho mình.

Cha Pina là vị giáo sĩ đầu tiên hiểu rành rẽ và nói thông thạo tiếng Việt Nam. (1) Trước khi rửa tội cho bà Minh Đức, hẳn cha đã thu phục được trọn vẹn tình cảm của bà; sau khi rửa tội cho bà rồi, tình phụ tử siêu nhiên càng nên bền chặt. Như vậy đủ hiểu nỗi đau đớn của bà ngay mấy tháng sau, khi tiếp được hung tin từ Cửa Hàn đưa lại: cha Pina đã chết đuối trong khi làm phận sự linh mục. Một mối tâm tang cho bà Minh Đức!

Bà càng lo buồn hơn nữa, vì cùng lúc ấy chúa Sãi ra lịnh cấm đạo lần đầu tiên, bắt buộc các giáo sĩ phải tập trung ở Hội An không được đi lại. Trước đây, sở dĩ chúa để các giáo sĩ tự do giảng đạo, chỉ cốt lấy lòng người Bồ Đào Nha cho dễ việc buôn bán có lợi.

Nhưng đạo bắt đầu truyền bá, thì cũng bắt đầu có số người, quan chức hay sư vãi, tỏ ra phản đối. Năm ấy (1625) không có một chiếc tàu nào đem hàng hóa đến đổi chác, nhà chúa liền nghe lời xúc xiểm của họ, ra lệnh cấm đạo.

Đối với một linh hồn còn mới mẻ, bỡ ngỡ trong đường Tín ngưỡng như bà Minh Đức lúc ấy, tang đau đớn kia với lịnh ác nghiệt này dồn dập xảy đến, gây nên sóng gió biết bao!

… Bao phen thử thách

Không kể cha Pina, cha Đắc Lộ là giáo sĩ thân thiết nhất của bà Minh Đức, vì chính giáo sĩ cũng đã giúp bà học đạo, và chứng kiến lễ rửa tội của bà. Thế mà, tang giáo sĩ Pina chưa nguôi, hơn nửa năm sau, bà lại buồn rầu vì sự ly biệt của cha Đắc Lộ (tháng 7-1626).

Từ đây bà chỉ tìm yên ủi thiêng liêng nơi cha Bề trên Buzomi, người đã rửa tội cho con cháu bà. Song tình hình tôn giáo trong xứ vẫn bấp bênh. Trong thời cha Buzomi làm Bề trên, triều đình ba lần hạ lệnh trục xuất các giáo sĩ, cấm dân chúng theo đạo. Tuy vậy cha Buzomi vẫn ẩn náu được qua những cơn bão táp ấy. Mãi đến năm 1639, vì tuổi già sức yếu, ngài phải về Macao. Bà Minh Đức rất lo buồn: buồn vì phải từ biệt cha linh hồn thân mến, lo vì số phận cả một đoàn chiên không người chăn dắt.

Qua năm sau (1640) cha Đắc Lộ mới được cử tới trông coi Giáo hội Đàng Trong. Lúc ấy đã sang đời con chúa Sãi là chúa Thượng, tức Công Thượng Vương (1635). Nhưng chính sách của triều đình đối với đạo Thiên Chúa vẫn không thay đổi. Ngay tháng chín năm đó, cha Đắc Lộ phải trục xuất khỏi xứ. Đối với bà Minh Đức, thực là “chưa vui xum họp đã sầu chia ly”!

Hội ngộ rồi lại phân lý: tấn tuồng ấy diễn đi diễn lại tới bốn lần trong thời kỳ thứ hai cha Đắc Lộ hoạt động truyền giáo ở Đàng Trong (1640-1645).

Giáo sĩ Đắc Lộ là người rất am tường văn hóa Việt Nam, rất thông thạo Việt ngữ: chính trong thời kỳ này mà ngài hoàn thành việc sáng tạo chữ Việt theo mẫu tự La mã. Ngài rất trọng phong tục và tập quán người Việt. Ngài rất yêu mến nước Việt Nam và có cảm tình đằm thắm đối với dân tộc Việt Nam nói chung, và người Công giáo nói riêng. Vì thế, mối lần ngài rời xứ, để lại biết bao buồn thương tiếc nhớ trong tâm hồn tín hữu, nhứt là bà Minh Đức, người đứng đầu trong tất cả giáo hữu Đàng Trong lúc ấy!

Đình thần ghen ghét

Hồi ấy những lệnh cấm đạo trước hết nhằm vào các giáo sĩ, nhưng các tín hữu cũng phải chịu những ảnh hưởng khốc hại, nhứt là bà Minh Đức. Bà nghiễm nhiên là một bậc vương phi, hơn nữa là “dì”, rồi lại là “bà” của các chúa đương triều, đứng ngang hàng một bậc hoàng thái hậu, lại có con là ông Hoàng Khê, vừa là quốc thúc, vừa là đệ nhứt công thần, thế mà vì nhiệt thành với Đức tin, bà đã trở nên cái đích cho sự ghen ghét của Triều đình.

Giáo sĩ Đắc Lộ mỗi khi vào nước thường đem những máy móc tân kỳ sang dâng cho chúa Nguyễn và các quan: ngài biết cách xử dụng, điều khiển và giải thích các máy móc ấy, nhất là lại biết xem thời tiết mưa gió, nhờ có hàn thử biểu và phong vũ biểu v.v… nên được vua quan coi là một nhà toán học thông thái, một nhà chiêm tinh sâu sắc.

Vì giáo sĩ năng đi lại nhà bà Minh Đức, nên người ta nghi cho bà có ý nhờ giáo sĩ tìm đất cất đặt mồ mả cho mình, để sau này giật ngôi báu về tay con cháu mình: như vậy là tội rất lớn, tội âm phưu phản bội triều đình vậy!

Mối nghi kỵ đó là nguyên do mọi điều ghen ghét trong Triều đối với bà Minh Đức. Ngày Lễ Lá năm 1644, bà không dám tổ chức ban ngày, phải xin cha Đắc Lộ mở lễ lén lút ban đêm, ấy cũng vì có làn không khí nặng nề kia bao phủ nhà bà!

Tống thị lộng hành

Trong cung chúa Thượng, có một tay “Điêu Thuyền” rất lợi hại, dùng sắc đẹp mê hoặc chúa, làm nên lắm điều ngang trái, đến nỗi qua đời chúa Thượng, chúa Hiền phải lên án xử tử. Sách Liệt truyện chính biên (2) kêu nàng là Tống thị. Cha nàng là Tống Phúc Thông can tội thông đồng với chúa Trịnh phản lại chúa Nguyễn.

Giáo sĩ Saccano trong một tập ký sự, có nói đến một bà “Hoàng Hậu” đời Thượng Vương như sau: “Bà Hoàng hậu trước kia là vợ của người anh của chúa, nay lại trở nên vợ chính thất của chúa, mặc dầu theo pháp luật không được nhận là hoàng hậu”. (3)

Cha Đắc Lộ thuật rằng một hôm (năm 1644) tại nhà một quan lớn trong triều, có một cuộc bàn cãi tôn giáo giữa ngài, thấy giảng Y-nha-xô với nhiều sư vãi. Người cãi với Y-nha-xô phải thua lẽ, xấu hổ quá, thành như điên dại.

Từ đấy, họ lập tâm giết Y-nha-xô, nhưng muốn được việc, họ nhờ thần thế “một bà mà chúa (Thượng) coi như vợ nhưng bà ấy trước kia đã là vợ của người anh chúa, một điều mà luật nước không dung- song sự dâm ô xá kể gì luật pháp”. (4)

Người đàn bà ấy chính là Tống thị trong Liệt truyện chính biên, là “dâm hậu” trong cung chúa Thượng theo ký sự Saccano vậy.

Cha Đắc Lộ cho biết Tống thị rất ghét người có đạo, nhất là thầy giảng Y-nha-xô, thân tín của bà Minh Đức. Vào quãng tháng bảy – vẫn theo ký sự của giáo sĩ Đắc Lộ – Tống thị ra lệnh cho quan trấn Quảng Nam đến khám nhà giáo sĩ. Họ bắt được Anrê, một trong mười “thầy giảng” của cha Đắc Lộ trong khi giáo sĩ đi vắng, và Y-nha-xô cũng không có ở nhà.

Thầy giảng Anrê

Anrê là một thanh niên Việt Nam, quê ở Raman (?) 19 tuổi(5). Ba năm trước (1641) anh được ánh sáng đức tin soi lòng, xin tòng giáo, và được cha Đắc Lộ rửa tội. Nghe tiếng chúa gọi, anh gia nhập đoàn thể các thầy giảng. Ngày 31 tháng 7 năm 1643, lễ thánh Y-nha-xô, sáng lập Dòng Tên, Anrê cùng với 9 đồng đạo, trong đó có Y-nha-xô, người nhà bà Minh Đức, long trọng làm lễ khấn hứa trước mặt cha Đắc Lộ và các bổn đạo, dâng trọn đời phụng sự Hội thánh, không bao giờ lấy vợ, và vâng lời các cha Dòng đến giảng đạo trong nước, hoặc các vị mà các cha Dòng sẽ gửi đến thay thế mình.

Các thầy giảng chia làm hai toán: một toán do Y-nha-xô cầm đầu, trong đó có Anrê, được phái đi hoạt động ở các tỉnh miền Bắc, tới luỹ Đồng Hới chia đôi đất nước. Một toán xuống miền Nam, tới đèo Cù Mông giáp giới Chiêm Thành.

Sau khi các giáo sĩ phải rời xứ (tháng 9 năm 1643), các thầy giảng đem hết nhiệt tâm ra làm nhiệm vụ. Nhóm tông đồ miền Nam rửa tội được 293 người trong lúc nguy hiểm gần chết, và đã dạy giáo lý cho mấy trăm người khác chờ các linh mục tới rửa tội. Những kết quả đó đã gây nên sự ghen ghét của một số người chống báng Đạo mới, và quan trấn Phú Yên cho đi lùng bắt các thầy giảng. Trong lúc xét bắt, người ta đã không kiêng nể cả bà Maria Mađalêna, là vợ của quan trấn cũ tỉnh này, nay đã đổi đi tỉnh Quảng Nam. Bà này đã tòng giáo từ năm 1641, với sự ưng thuận của chồng bà. Từ đó bà rất nhiệt thành với Tín ngường, xây nhà thờ, giúp truyền giáo, làm việc phúc thiện, nhất là cất một nhà thương. Lính xét nhà bà không bắt được thầy giảng nào, gây nhiều thiệt hại trong nhà, song bà vui lòng vì được chịu khó vì Chúa(6)

Thầy giảng Y-nha-xô, cùng phái đoàn miền Bắc rửa tội được 303 người ngoại. Nhưng trong làng quê của Y-nha-xô (Hen Cum?), thì chỉ có mình mẹ và bà nội của thầy giảng, năm ấy ngoài 80 tuổi, trở lại mà thôi.

Qua tháng bảy năm sau (1644) thì thầy giảng Anrê trong nhóm của Y-nha-xô bị bắt tại nhà cha Đắc Lộ, do ý Tống thị.

Của lễ đầu mùa: Anrê tử đạo

Anrê bị giải đến dinh quan trấn Quảng Nam, bị cáo về “tội truyền đạo Thiên Chúa”, và bị kết án tử hỉnh.

Giáo sĩ Đắc Lộ và các thương gia, thuỷ thủ Bồ Đào Nha từ Cửa Hàn vội vã đến công đường Quảng Nam cầu khẩn, vận động xin tha cho thầy giảng, nhưng quan trấn vẫn không lay chuyển. Anrê đã “thú nhận” mình theo đạo Thiên Chúa và nói “dù chết cũng không bỏ đạo”…

Bốn mươi lính điệu thầy Anrê tới pháp trường, ở ngoài thành nửa dặm. Và đây, trang sử đau thương thuật theo chính lời cha Đắc Lộ:

“Tôi không còn cách gì hơn là đi theo Anrê đến nơi thọ hình. Thầy giảng can đảm xưng đạo ấy phải mang gông trên cổ rất nặng, dầu vậy, thầy đi rất nhanh, tôi phải gắng lắm mới theo kịp. Tôi ở luôn bên thầy, và giúp đỡ thầy trong lúc chịu cực hình. Thầy quỳ gối, hai mắt ngẩng lên trời, miệng luôn luôn đọc thánh danh Chúa Giêsu. Trước hết thầy bị ba mũi giáo đâm vào người mà không lay chuyển, không ngã xuống đất, rồi bị hai lát gươm chém vào cổ, đầu liền rơi khỏi mình. Lúc ấy tôi nghe thấy rõ ràng tên Giêsu phát ra tự vết thương nơi cổ, và tất cả những người có mặt cũng nghe rõ như tôi. Sau đó, lính rút về, tôi được tự do thu lượm thi hài khả kính và hứng lấy vài giọt máu quý giá đã đổ ra vì Chúa Giêsu” (7)

Vì Chúa Giêsu, vì quyền tự do tín ngưỡng, máu đã chảy! Máu của một chiến sĩ đang độ thanh niên, đầy tình yêu thương, thơm mùi trinh khiết!

Thật xứng đáng là của lễ hy sinh đầu mùa của Giáo hội Việt Nam.

Ngày đáng kính nhớ ấy là 26 tháng 7 năm 1644.

Cuộc tử đạo anh dũng đầu tiên này là một chiến thắng tinh thần của Giáo hội Việt Nam, nhưng theo lẽ thường, cũng là một tiếng chuông báo động ảo não đối với người đồng đạo đương thời.

Từ Quảng Nam, chuông báo động ấy ngân vang khắp xứ và tức khắc đến tai bà Minh Đức, tại Kim Long. Thầy giảng Anrê, cũng như nhiều thầy giảng khác, đối với bà chẳng những không xa lạ, mà còn có liên lạc chặt chẽ trong nghĩa tông đồ. Vì thế cuộc tử đạo của thầy làm cho bà xúc động đau đớn vô ngần. Đã hẳn, vì địa vị đặc biệt của bà, Tống thị và các kẻ nghịch khác không làm gì nổi bà, song chúng sẽ đánh vào những “anh em” thân yêu của bà, những con cháu chân tay của bà.

Như mây đen là điềm giông tố, cuộc tử đạo của thầy giảng Anrê mở đầu giai đoạn hy sinh đau đớn của Giáo hội Việt Nam, và dọn lòng bà Minh Đức đón lấy cho chính mình một cuộc tử đạo, hoặc trong thực tế, hoặc trong tinh thần.

Chú thích

(1) Bulletin des Amis du Vieux Huế, 1931. Les Européens qui ont vu le Vieux Huế: Christoforo Borri (Xem bài tựa của cha Cadière).

(2) quyển VI, tờ 33

(3) Saccano: Relation des Progrès de la Foi au Royaume de la Cochinchine des années 1646 et 1647. Paris, 1651

(4) Alexandre de Rhodes, Voyages et Missions (đã kể)

(5) Theo bút tích của một người Ao, Horace Massa, đã chứng kiến cuộc tử đạo của Anrê (trong Louvet: La Cochinchine religieuse, Paris 1885) thì Anrê quê ở “thị trấn Raman”, có lẽ tiếng này cũng như “Ramran”, “Raran” hay “Đamram” chỉ tỉnh Phú Yên ngày nay, lúc đó đã có một nhà thờ và đông bổn đạo, song không chắc hẳn.

(6) Tiếc thay trong cuộc cấm đạo năm 1665, vì không chịu nổi các cực hình, bà trót sa ngã chối đạo, làm cho nhiều người theo gương xấu ấy. Nhưng liền sau đó, bà đã ăn năn hối cải và được tha thứ. Bà sinh khoảng 1560-1565, chết hồi nào không rõ. Các giáo sĩ đương thời nói bà có họ gần với chúa Nguyễn.

(7) Xác vị tử đạo Anrê được đem về Macao trên một chiếc thuyền lớn. Theo bút tích của một chứng nhân gửi về Tòa thánh La mã thì khi tàu đi ngang qua đảo Hải Nam một trận bão lớn nổi dậy. Tất cả các tàu gặp trận bão ấy dẫu lớn và có buồm to đến đâu cũng đều chìm đắm; duy có chiếc thuyền chở xác vị tử đạo, mặc dầu chở nặng và buồm thì kém, nhưng đã tới Macao bình an, không hư hại chút nào. Xác vị tử đạo được đón rước rất long trọng tại trường các cha Dòng Tên ở Macao.

Cha Đắc Lộ tường thuật rất kỹ cuộc tử đạo và lễ đón rước thi hài thầy Anrê trong cuốn “Relation des Progrès de la Foi”. Sau lại viết riêng một cuốn sách có nhan đề “La glorieuse mort d’Anré, catéchiste de la Cochinchine, qui a versé son sang pour la querelle de Jésus-Christ en cette nouvelle Eglise”, có phần phụ lục kể “các ơn riêng Đức Chúa Trời đã làm tại Paris do lời cầu nguyện của hiền nhân Anrê.”

CHƯƠNG 7: ÔNG HOÀNG KHÊ PHÁ NHÀ THỜ CỦA BÀ MINH ĐỨC

Sau khi thầy giảng Anrê chết, cuộc cấm đạo vẫn tiếp tục. Các giáo hữu phải trốn tránh, và giữ đạo kín đáo. Cha Đắc Lộ thường phải ẩn náu dưới thuyền. Tại Quy Nhơn, nhiều giáo hữu bị bắt giam, bị đánh đập… Chính trong hoàn cảnh ấy, bà Minh Đức phải vượt chặng đường thánh giá đau đớn nhất của bà: ngôi nhà thờ của bà bị tàn phá! Và kẻ ác phạm lại chính là con ruột bà, ông Hoàng Khê!

Mối lo cả một đời

Ngay từ khi bà mới trở lại, ông Hoàng Khê, con bà đã là mối lo lắng thứ nhất của bà. Ngày đêm bà những cầu mong cho ông cùng đi một đường tín ngưỡng với bà. Có một lúc, ông Hoàng Khê đã tỏ ra sẵn sàng trở lại. Đó là vào khoảng đầu năm 1641. Cha Đắc Lộ mới trở sang Việt Nam lần nữa. Lần này có cha Benoit de Matthos, cùng ở Macao sang với Ngài.

Sau khi cùng lên bộ ở Cửa Hàn ngày 24-12-1640 hai giáo sĩ chia hai ngả đi viếng bổn đạo: cha Đắc Lộ xuống miền Nam, cha Matthos lên phía Bắc. Tới Huế, giáo sĩ Matthos vào yết kiến chúa Thượng, được chúa tiếp đãi ân cần. Giáo sĩ đến viếng ông Hoàng Khê, vị quan cao nhất trong triều. Ông Hoàng Khê tiếp đón giáo sĩ rất niềm nở.

Giáo sĩ liền nhân cơ hội khuyên ông trở lại đạo. Ông Hoàng tỏ ý bằng lòng, song ông muốn chịu phép rửa tội cách kín đáo, không cho ai biết. Nếu chỉ có thế thì giáo sĩ Matthos cũng đã rửa tội cho ông rồi, nhưng khi giáo sĩ hỏi thêm: “Nếu chúa Thượng biết mà hỏi rằng ông có đạo ông, thì ông sẽ trả lời sao?” Ông Hoàng trả lời: “Tôi sẽ nói tôi không có đạo”.

Thấy tâm trạng ông Hoàng Khê như thế, giáo sĩ không rửa tội cho ông, lại nói cho hay, Chúa Giêsu chỉ nhận vào Nước Chúa những ai sẵn lòng xưng danh Chúa tỏ tường. Cũng vì lẽ ấy, giáo sĩ đã phải hoãn việc rửa tội cho cả hai người cháu nội của ông, mà ông định cho theo đạo.

Cử chỉ ấy của ông Hoàng Khê làm cho bà Minh Đức buồn rầu lắm. Bà đã từng khuyên bảo được biết bao người trở lại, trong số có cả những nhà sư rất sùng bụt trước kia, thế mà con bà vẫn không đi một đường với bà, hơn nữa, còn đang tay phá nhà thờ của bà.

Ông Hoàng Khê phá nhà thờ của mẹ!

Một hôm, vào khoảng trung tuần tháng hai dương lịch năm 1645, một chiếc tàu gặp bão ngoài đại dương chạy vào trú tại Cửa Hàn. Chiếc tàu này có chở bốn nữ tu sĩ dòng Kín bà thánh Clara, đi với hai giáo sĩ dòng thánh Phanxicô, đều là người Y-pha-nho. Các vị này trước kia từ Phi luật tân đến Ao môn định lập một nhà dòng Kín tại đó, nhưng công việc không thành, nay đáp tàu trở về Phi luật tân, chẳng may bị gió đánh tạt vào cửa bể Việt Nam.

Chúa Thượng được tin báo, liền truyền cho các giáo sĩ và nữ tu lên kinh đô yết kiến. Cùng đi với các giáo sĩ và nữ tu lên kinh đô, lại có mấy sĩ quan và thuỷ thủ Y-pha-nho. Họ được chúa Thượng tiếp kiến vào ngày 20 tháng 2 năm 1645. Trong buổi triều yết, mấy binh sĩ Y-pha-nho muốn làm đẹp lòng vị Quốc vương tiếp đãi mình, nên họ cử hành mấy điệu nhảy Au châu và múa gươm đấu kiếm rất tài giỏi, ngoạn mục.

Thấy sự tài khéo của họ, nhà chúa chẳng những không vui, “lại có ý sợ” – theo lời cha Đắc Lộ. Quay lại phía ông Hoàng Khê, chúa tỏ vẻ giận, nói “kháy” ông Hoang Khê rằng:

- Hẳn khanh đã học được nhiều điều khéo léo kia của người ngoại quốc, bởi lẽ họ đi lại nhà khanh, vì mẹ khanh có đạo mà!

Câu nói không có tính cách quở trách nặng nề, nhưng ông Hoàng Khê cảm thấy ngay một sự nghi ngờ của chúa đối với lòng trung quân ái quốc của mình. Thấy thái độ chúa Thượng đối với mình như vậy, ông lấy làm đau lòng lắm, quyết dùng mọi cách để vua quên giận. Mà muốn như thế, ông đang tâm hành hạ chính mẹ mình và để cho các cháu hành hạ bà nữa!

Ngay ngày hôm ấy (20-2-1645) ông Hoàng Khê phá bình địa ngôi nhà thờ nhỏ, nơi mà bà Minh Đức mẹ ông, hằng ngày cầu kinh cùng với gia nhân cháu chắt, và các giáo hữu.

Hành động này của ông Hoàng Khê thoạt xem như thấy mâu thuẫn với tính hạnh và tư cách của ông. Vì giữa hai mẹ con, mặc dầu tôn giáo bất đồng từ hai chục năm nay, nhưng chưa hề bao giờ có sự bất hòa. Hai mẹ con luôn luôn có nhau như hình với bóng, tình mẫu tử thật là đằm thắm. Đàng khác, chiếu theo đạo “phu tử tòng tử”, thì khi bà Minh Đức nhập đạo cũng như khi bà lập nhà thờ trong dinh, tất cả đã có sự đồng tình của Hoàng tử Khê. Chính Hoàng tử cũng đã nhiều lần dự lễ tôn giáo với bà, và đã chịu phép rửa tội nếu không có một chút ngăn trở. Nhưng chút ngăn trở này lại có ảnh hưởng rất tai hại cho linh hồn ông, cũng như cho công việc tông đồ của mẹ ông.

Như trên ta đã thấy, Hoàng tử Khê là một Đại công thần, chỉ chăm lo phò vua giúp nước, không nghĩ tới bản thân, tới quyền lợi riêng. Tích sau đây có ghi lại trong “Việt Nam Sử Lược” của Trần Trọng Kim, cho biết tinh thần công nghĩa và đạo trung quân của ông đến mức nào:

“Lúc ấy Anh ở Quảng Nam nghe tin chúa Sãi mất rồi, anh lên nối nghiệp (chúa Thượng) bèn phát binh làm phản. Bấy giờ có Nguyễn Phúc Khê giúp chúa Thượng, sai quân vào đánh, bắt được Anh, lấy nghĩa “anh em là tình riêng, phép nước là nghĩa lớn” đem giết đi”.

Vốn sẵn tinh thần tôn quân và trọng lẽ công hơn tình riêng như vậy, mà lại bị nhà vua nói chạm đến và tỏ ý ngờ vực, ông Hoàng Khê tưởng không còn cách gì thanh minh hơn là phá ngay ngôi nhà thờ, dầu là nhà thờ của mẹ mình. Ở đây, trung thần đã thắng hiếu tử, chỉ tiếc cho ông Hoàng Khê đã không biết nhìn nhận Vua trên hết các vua, Cha nhân lành của muôn dân, mà muôn dân cũng như vua chúa đều có bổn phẩn phụng thờ kính mến!

Nỗi đau đớn của bà Minh Đức

Thế là ngôi nhà thờ thân yêu của bà Minh Đức, một trung tâm truyền giáo xứ Đàng Trong, đã bị phá huỷ! Đau đớn thay cho bà Minh Đức! Giáo sĩ Đắc Lộ thuật lại thái độ của bà lúc ấy như sau:

“Bà Vương phi nhân đức ấy, tuổi thọ thất tuần (1) nguyên bản tính tốt lành, lại có một đức độ lớn lao, khi thấy hành động vô đạo ấy, bà đau khổ quá chừng, liền bỏ nhà con ra đi và trong tám ngày liền, bà chỉ những than thở và khóc lóc không thôi, như thể chính mình cũng có can phạm một phần nào vào tội xúc phạm đến nhà Chúa bởi vì bà đã chẳng ngăn cản con bà được”.

Giáo sĩ Đắc Lộ lúc ấy đang ở Hội An, bà Minh Đức liền sai người xuống bày tỏ sự tình cùng giáo sĩ. Cha Đắc Lộ gửi lời lên yên ủi bà, nói quyết rằng, tội ác kia là trái với ý muốn của bà, vả lại bà không đủ sức ngăn cản, thì bà vô tội trước mặt Chúa, nhất là bà lại vẫn một lòng đạo đức sốt sắng như xưa thì không có gì phải lo sợ.

Giáo sĩ lại bày tỏ cho bà hay, đền thờ mà Thiên Chúa yêu chuộng hơn hết, ấy là linh hồn thánh thiện. Người lại nói, nếu từ nay bổn đạo không tựu hợp nhau được trong nhà thờ như trước, thì nên kiếm cách hội nhau nơi khác, để việc đạo đức khỏi bị gián đoạn, sao lãng.

Sau đó, cha Đắc Lộ sai thầy giảng Y-nha-xô đi thăm “các giáo hữu ở kinh đô lúc ấy đang phải lo buồn sợ hãi vì các sự bạo hành của ông chú chúa Thượng đối với mẹ mình”.

Rồi đến lượt chính cha Đắc Lộ cũng thân hành đi thăm các giáo hữu ở kinh đô, cách rất kín đáo. Ngài rất muốn vào thăm và yên ủi bà Minh Đức, song vì khi đó các cửa vào dinh bà, đều bị canh giữ nghiêm ngặt, ngài không dám vào. Ngài sai một bổn đạo vào thay mặt ngài hỏi thăm bà.

Bà lão phụ nhân đức, nghe tin cha Đắc Lộ tới, đang đêm đi lén ra ngoài, tới nhà giáo sĩ trọ, cùng với mấy người tuỳ tùng. Bà Minh Đức cùng gia nhân đều xin xưng tội. Sau khi giải tội, cha Đắc Lộ làm lễ, và cho bà cùng mọi người rước lễ. Ngay đêm ấy trước khi trời sáng, bà Minh Đức trở về dinh không ai biết.

Các việc này xảy ra vào khoảng tháng ba năm 1645. Mười tám tháng sau, ngày 22 tháng tám 1646, ông Hoàng Khê con bà Minh Đức từ trần.

Hai năm sau nữa, ngày 19 tháng 3 d.l.1648, đến lượt chúa Thượng trở về với tro bụi.

Nhưng ngôi nhà thờ của bà Minh Đức cũng như các công nghiệp khác của bà còn sáng tỏ muôn đời trước tòa Thiên Chúa, và được thay thế ở trần gian bằng trăm ngàn ngôi nhà thờ khác, rải rác trên khắp nước này…

Chú thích

(1) Trong cuốn “Relation des Progrès de la Foi” cha Đắc Lộ có chỗ nói bà Maria thọ “ngoài bảy mươi sáu” tuổi (viết trọn chữ), cách mấy trang sau lại ghi “70” tuổi (bằng con số). Cha Cadière cho rằng con số thứ hai này là do kẻ chép sai hoặc in sai, và bà Maria thọ ngoài bảy mươi sáu tuổi là đúng. (Bul.Amis Vieux Huế, 1939)

CHƯƠNG 8: ĐƯỜNG THÁNH GIÁ NỞ HOA

Từ khi Chúa Giêsu và Đức Mẹ đi con đường thánh giá đầu hết trên núi Sọ, “đường thánh giá” đã trở nên “đường lý tưởng” của người Công giáo: Nhờ sức mạnh của Đức tin, người Công giáo không sợ các sự khốn khó, lại sẵn sàng chịu khó vì Chúa Giêsu, chết vì Chúa.

Người chưa có Đức tin, tưởng như thế thì đời công giáo chỉ là đầy ải, sầu thương mà thôi! Nhưng không, Chúa là Hạnh phúc, Chúa là Nguồn vui, có thể nào Chúa để môn đệ Chúa héo hắt trong thảm sầu đen tối? Trọng Chúa và vì Chúa, người Công giáo đổi sầu nên vui, lấy nhẫn nại thắng đau thương. Hơn nữa, Chúa nhân lành không bao giờ để con cái chịu khó quá sức mình, nên ngay trên đường thánh giá của họ, Chúa cũng thường cho phép nảy nở những hoa tươi đẹp như báo trước những ngày vinh quang sẽ đến sau đời tạm gửi.

Chính vì thế mà đường thánh giá của bà Minh Đức đã trổ nhiều bông hoa tươi đẹp.

Vui bề đạo hạnh

Ngày bà Minh Đức chịu phép rửa tội, đó là ngày hạnh phúc nhất của bà. Lúc ấy bà đã ngoài 50 tuổi thọ. Là một bậc vương phi, bà đã hưởng nhiều hoan lạc trải nhiều vinh quang. Song tất cả chỉ là mây khói sánh với hạnh phúc mới của bà trong ngày rửa tội, vì bà biết tự nay bà đã “sống lại” trong sự sống thật, bà đã nên con một Đấng nguyên thuỷ mọi điều Thiện Mỹ, Hạnh Phước.

Lúc ấy, chúa đương triều còn thiện cảm với các giáo sĩ, và các giáo sĩ Dòng Tên đang được quan dân mến chuộng. Cho nên bà Minh Đức đã có thể tổ chức cuộc lễ rửa tội của mình (1625) và con cháu mình (1627) cách công khai.

Của báu thế gian, chỉ cho người ta vui mừng lúc mới kiếm được. Lâu rồi phải chán. Nhưng của báu vô giá là Đức tin đem lại cho ai tìm được nó, một vui mừng không bao giờ chán. Hơn nữa Đức tin càng tăng thì sự vui mừng bên trong càng lớn. Ta đã thấy đức tin của bà Minh Đức mạnh mẽ dường nào; ta đã thấy đức tin ấy phát huy ra ngoài và truyền bá cho kẻ khác. Như vậy đủ hiểu sự vui vẻ thiêng liêng tràn ngập tâm hồn bà Minh Đức! Có thể nói rằng, ngay trong những lúc bà chịu gian nan nhất, bà vẫn tìm được sự yên ủi thiêng liêng trong Đức tin của bà.

Vui đường tiến giáo

Từ ngày được phước vào đạo, bà Minh Đức lại được thêm sự vui mừng khác, là đem đức tin truyền bá cho kẻ khác. Người ta có thể tưởng tượng nỗi vui sướng của bà Minh Đức trong ngày lễ khánh thành ngôi nhà thờ trong dinh bà, cũng như trong mọi lễ nghi khác bà tổ chức ở đấy.

“Một ngôi nhà thờ nhỏ”. Các tài liệu nói thế. Nhưng các tài liệu cũng cho biết, ngôi nhà thờ đó là nơi tụ tập chung các giáo hữu toàn tỉnh hồi đó. Vậy chí ít ra cũng là một ngôi nhà ba gian, hai chái, rộng rãi, lịch sự, kiểu như “từ đường” cổ truyền, mái ngói cột sơn, bên trong có hoành phi câu đối, chạm trổ tinh vi. Quả thực các tài liệu đều nói: “Ngôi nhà thờ ấy rất xinh xắn”.

Ngôi nhà thờ xinh xắn đó là tượng trưng cái tâm hồn vui bề đạo đức của bà Minh Đức vậy. Biết bao cuộc lễ tưng bừng đã diễn ra trong ngôi nhà thờ ấy, biết bao người đã được phước chịu đạo trong nhà thờ ấy, biết bao cuộc hội họp đầy tình luyến ái Chúa Kitô trong thánh đường ấy: Đó toàn là những cớ vui mừng, sung sướng của bà Minh Đức.

Nhưng bà chẳng phải chỉ thỏa mãn với nhóm giáo hữu chung quanh bà mà thôi. Trái tim bà mở rộng theo đà tiến triển của Giáo hội Việt Nam lúc ấy, và đó cũng là một nguồn hoan hỉ siêu nhiên của bà. Mặc dầu khi ấy Luỹ Đồng Hới phân đôi đất nước như sông Bến Hải ngày nay, nhưng Đức tin nơi Chúa Cứu Thế không hề có biên cương, và cũng không ranh giới nào ngăn cản được sự cảm thông của hai Giáo hội mà chỉ là một: Đàng Trong và Đàng Ngoài.

Dựa trên sử liệu (1), không tiểu thuyết hóa, ta hãy hình dung lại đây cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa bà Minh Đức và cha Đắc Lộ, khi ngài trở lại Kim Long, sau 14 năm xa cách (1626-1640).

- Thưa cha, bà Minh Đức cảm động nói – bấy lâu nay chúng tôi nhớ cha biết bao mà không mong gì có ngày gặp lại. Thế mà hôm nay, may mắn sao cha trở lại với chúng tôi! Mừng quá! Để tôi mau mau kêu tất cả các cháu lại đây chào cha!…

Trong chốc lát, các cháu nội, ngoại, trai, gái, cùng gia nhân xúm xít chung quanh bà. Rồi cả họ giáo Kim Long cũng tựu lại không thiếu một người: Dinh bà Thái phi bỗng nhiên tưng bừng như một ngày hội! Mà quả là một ngày hội thật!

- Thưa cha – một bô lão hỏi – khi xưa cha từ biệt chúng tôi, rồi cha có tới được Đàng Ngoài như Bề trên dạy chăng?

- Có chứ! Từ Ao-môn (Macao) tôi đáp tàu Bồ Đào Nha đến Cửa Bạng trong tỉnh Thanh Hóa, chính ngày lễ thánh Giuse, 19 tháng 3 năm 1627 (2). Rất đông người kéo đến xem tàu và các thứ hàng của thương gia Bồ Đào Nha. Không chần chừ, tôi cũng đem thứ hàng của tôi, rao cho người ta biết đó là món hàng quý giá hơn và lại rẻ tiền hơn mọi thứ hàng, ai muốn lấy tôi sẵn lòng cho không: ấy là đạo thật và đường ngay dẫn đến hạnh phúc. Tiếp đó, tôi giảng một bài ngắn. Khi chưa lên bộ, đã có hai người vào bậc nho sĩ ngỏ ý quyết định xin chịu phép rửa tội. Hai tháng sau, tôi rửa tội được hai trăm người.

- Thưa cha – đến lượt một thanh niên hỏi – hồi ấy chúa Trịnh Tráng đang có mặt ở tỉnh Thanh Hóa để điều khiển cuộc tấn công vào Đàng Trong, có phải không?

- Chính thế, chúa Trịnh đóng quân không xa Cửa Bạng. Chúa chỉ huy 120.000 lục quân và 400 chiến thuyền. Quân Đàng Ngoài bị thua quân chúa Nguyễn. Chúa Trịnh phải rút binh về. Tôi có yết kiến chúa, dâng cho chúa một đồng hồ quả lắc, và một quyển sách Toán bằng chữ Hán bìa in chữ vàng rất đẹp. Chúa rất bằng lòng, thường gọi tôi đến nói chuyện thiên văn hay nghe âm nhạc, và cho tôi đi chung thuyền với chúa, ngược dòng Sông Cái để về Hà Nội. Tới Hà Nội ngày 2 tháng 7.

- Tại Hà Nội có nhiều anh em chị em theo đạo chăng? – câu hỏi của bà Minh Đức.

- Nhiều lắm. Nhiều hơn ở đây nữa. Có một bà em chúa Trịnh cũng theo đạo, tên thánh là Catarina; bà ấy làm cho 17 người khác trong nhà bà tòng giáo, có cả bà mẹ bà ấy nữa, và bà này lại sốt sắng khuyên bảo nhiều bà trong triều trở lại đạo và tập tành nhân đức. Chúa Trịnh cho tôi một căn nhà bằng gỗ rộng rãi, gần bên phủ chúa, tôi chỉ ở một gian hẹp còn để làm nhà thờ. Đó là ngôi nhà thờ đầu tiên ở Đàng Ngoài. Mà tôi quên chưa nói, bà Catarina là một nữ sĩ, bà diễn giáo lý và tiểu sử Chúa Giêsu thành thơ quốc âm. Nhiều sư vãi cùng xin tòng giáo. Cuối năm ấy tôi rửa tội được 1.200 người tại Hà Nội; năm 1628: 2000 người, và năm 1629: 3000 người.

- Một mình cha làm sao xuể được, có ai giúp cha không?

- Có thầy Pierre Marquez, cũng là tu sĩ Dòng Tên (cha Hòa Lan, mẹ Nhật Bản), nhưng vì không nói được tiếng Việt, nên không giúp giệc giảng đạo được bao nhiêu. Song tôi đã đào tạo được nhiều thầy giảng Việt Nam, các thầy cộng tác rất đắc lực vào việc tông đồ, đứng đầu là Phanxicô, Anrê, và Y-nha-xô. Chính các thầy ấy, nhờ ơn Chúa đã tạo nên những tiến triển của Giáo hội Đàng Ngoài.

Đến đây, đôi mắt bà Minh Đức sáng lên:

- Thưa cha, vậy kỳ này cha cũng đào tạo một số thầy giảng trong này đi. Chắc tôi cũng có mấy thanh niên đạo đức sẽ hiến cho cha.

Sau đó cha Đắc Lộ kể những khó khăn bắt đầu đến cho Giáo hội Đàng Ngoài, do những kẻ ghen ghét và một số cung phi, thê thiếp những người tòng giáo vì không được giữ hai vợ, gây nên. Năm 1630, chúa Trịnh cấm đạo. Bị trục xuất, cha Đắc Lộ theo đường biển vào tới dinh Bố Chính (miền Hà Tĩnh), rồi lại được tầu Bồ Đào Nha đưa về Hà Nội. Biết không thể ở lâu được nữa, cha tổ chức lễ khấn hứa long trọng cho các thầy giảng giao nhiệm vụ lại cho các thầy, rồi từ giã Đàng Ngoài (tháng 5 – 1630) trở về Macao. Cha đi rồi, các thầy giảng đi khắp xứ giảng đạo, rửa tội được 3.340 người trong năm 1631. Giáo hội gầm có 20 nhà thờ, và đã có một vị tử đạo đầu tiên: một giáo hữu rất can đảm, giúp việc trong nhà người em chúa Trịnh… Từ đó, Giáo hội vẫn mở rộng, mặc dầu gặp trở ngại.

Câu chuyện cha Đắc Lộ còn kéo dài nhiều ngày, và gieo trong tâm hồn bà Minh Đức một niềm vui vô hạn: lần đầu tiên, bà được nghe tin rõ ràng, đầy đủ chi tiết về xứ Bắc thân yêu, nguồn gốc của dân tộc, với những thành tích rực rỡ của Đức tin. Những thành tích ấy đã khích lệ thêm lòng nhiệt thành truyền giáo của bà.

Đối với sự tiến triển của Giáo hội Đàng Ngoài nếu bà chỉ vì thông cảm mà mừng, thì đối với Giáo hội Đàng Trong, mỗi bước tiến đều có sự góp sức trực tiếp hay gián tiếp của bà, làm sao bà không vui…

Nhận xét trên đây không phải chỉ do phân tích tâm lý mà có, nhưng một triết lý phổ thông về lịch sử cũng cho phép nhận định như vậy.

Vui nhận áo Dòng tu

Vui tín hữu, vui tông đồ, bà Minh Đức còn được chia hạnh phúc của bậc tu trì. Trong đời Chúa Giêsu, có khi nào Chúa đau khổ bằng “đêm hấp hối” trong vườn Giệtsimani. Nhưng chính đêm ấy, Chúa lại được Chúa Cha sai Thiên thần từ trên xuống an ủi cách riêng. Giữa lúc bà Minh Đức phải chịu đau khổ hơn hết vì việc ông Hoàng Khê phá nhà thờ, bà đã được một ơn yên ủi đặc biệt: tình thương yêu thánh thiện của các nữ tu dòng Kín thánh Clara.

Ở chương trên, các bạn đã thấy bốn nữ tu này được mời lên kinh đô yết kiến chúa Nguyễn. Các bà luu ở Thuận Hóa 10 ngày, vào hạ tuần tháng hai năm 1645. Bổn đạo khắp xứ kéo đến rất đông thăm viếng các bà, ai nấy đều vui mừng.

Bà Minh Đức vì thấy thái độ khắt khe của chúa Thượng và ông Hoàng Khê, không dám đón tiếp linh đình các nữ tu kia lần thứ nhất xuất hiện ở Việt Nam. Song bà cũng tìm cách vi hành ra một nơi đã hẹn trước để tiếp xúc với các nữ tu ấy.

Giáo sĩ Đắc Lộ ghi chép cuộc gặp gỡ đó như sau:

“Cuộc tiếp xúc chuyện trò với các nữ tu dòng Kín đã làm cho bà (Minh Đức) được vui mừng và yên ủi trong lòng không thể nào tả xiết. Và bà tỏ ra lòng thiết tha yêu mến các bà phước kia; đến nỗi như không thể nào rời bỏ được.

“Để bù lại sự phân ly quá sớm, và để đánh ghi mối tình thương yêu tha thiết, bà (Minh Đức) xin các bà dòng Kín một bộ áo dòng như dấu hợp nhất tâm hồn, và để mặc vào mình trong giờ chết và khi an táng.

“Các bà Phước sẵn lòng tặng bà (Minh Đức) món quà ấy, với tất cả tấm lòng yêu mến, rồi từ giã nhau một cách rất âu yếm cảm động. Ngay sau đó, các bà Phước trở về Cửa Hàn.” (3)

Trong một tài liệu khác (4) cha Đắc Lộ cho biết chi tiết rằng, lúc ấy các bà nữ tu trao cho bà Minh Đức bộ giây áo, còn chính áo dòng thì khi về tới Phi luật tân các bà mới gửi sang sau. Các bà và hai cha rời Cửa Hàn ngày 15-4-1645. Chiều hôm trước, cha Đắc Lộ có gặp và tiễn chân.

Nhận áo dòng “để mặc vào mình trong giờ chết và khi an táng”, phải chăng bà Minh Đức là người Việt Nam đầu tiên tham gia một dòng tu lớn trong Hội thánh, ở bậc giáo hữu? Trong trường hợp này, tức là “Dòng Ba” thánh Phanxicô.

Mặc dầu cha Đắc Lộ không nói rõ điều ấy, chỉ tả một việc cụ thể – nhưng cốt yếu – là trao áo dòng, nhưng xét hoàn cảnh đặc biệt, nhất là tình quyến luyến của bà đối với Dòng, lòng thương yêu của các cha Dòng và các nữ tu đối với bà, ta có thể nghĩ rằng, bằng một phương thức đơn giản, các cha đã đặc cách nhận bà vào đại gia đình thánh Phanxicô.

Dầu sao chăng nữa, bà Minh Đức đã được vui mừng nhận áo thánh, và chắc chắn, từ đó bà hằng cảm thông, hằng kết hiệp với các con cái thánh Phanxicô và nữ thánh Clara.

Chú thích

(1) Những câu trả lời của cha Đắc Lộ đều rút ý theo các ký sự của giáo sĩ. (Đối chiếu: Chappoulie, Rome et les Missions d’Indochine au XVIIe siècle). Còn các câu hỏi là một thuật của tác giả để linh động hóa một sử liệu xác thực.

(2) Về sau, các Đức Giám mục đã chọn thánh Giuse làm bổn mạng chung các địa phận Đàng Ngoài.

(3) A.de. Rhodes “Relation des progrès de la Foi…”

(4) Alexandre de Rhodes, Voyages et Missions

CHƯƠNG 9: NHỮNG NĂM CUỐI CÙNG - TỬ ĐẠO THIÊNG LIÊNG

Cuộc tử đạo thiêng liêng của bà Minh Đức, khởi đầu từ lúc thầy giảng Anrê bị hành quyết (26-7-1644) và việc ông Hoàng Khê phá nhà thờ (20-2-1645) sẽ còn kéo dài liên tiếp bốn năm liền trước khi bà về cùng Chúa.

Quả thực, hai cuộc bạo hành nói trên chưa làm thỏa lòng những kẻ ghét đạo, họ còn muốn tìm cách triệt hạ một Giáo hội sơ khai đầy sinh lực. Lòng thù oán của Tống thị, sự hiềm khích của một số người vì ác ý hoặc vì hiểu lầm đạo mới, thêm vào đó, một ít nghi ngờ vô căn cứ của chúa Thượng, đã là nguyên nhân gây nên tình trạng căng thẳng giữa Chính quyền và Giáo hội.

Sau khi ngôi nhà thờ duy nhất ở kinh đô bị tàn phá, bà Minh Đức đau khổ nhưng không sờn lòng, định tập hợp giáo dân ngay ở nhà riêng mình ở để cầu nguyện và dự lễ chung với nhau. Nhưng lệnh của chúa Thượng rất nghiêm ngặt, cấm bà không được tập hợp người đồng đạo, và nếu còn giữ đạo thì chỉ được giữ một mình thôi.

Điều ấy cũng khiến bà đau khổ trong lòng không kém việc phá nhà thờ!

Cha Đắc Lộ từ giã Việt Nam

Ta đã biết cha Đắc Lộ bị khám xét lần đầu tiên vào tháng bảy năm 1644. Sáu tháng sau, ngay sau lễ Sinh nhật 1644, ông quan Bố tỉnh Quảng Nam, mà ta biết là người chịu ảnh hưởng của Tống thị, truyền cho lính đến bắt cha Đắc Lộ. Sau mấy ngày bị giam giữ trong khám đường, giáo sĩ được trả tự do, song chỉ được tự do sống trên một chiếc thuyền, mà không được phép giảng đạo hoặc tiếp xúc với bổn đạo như trước.

Qua đầu mùa Xuân năm 1645, sau khi đoàn giáo sĩ và nữ tu dòng thánh Phanxicô từ biệt Cửa Hàn để về Ma-ní, cha Đắc Lộ lại bị bắt cùng với 9 giáo hữu trong đó có thầy giảng Y-nha-xô. Lần này giáo sĩ bị giải lên tận kinh đô để thuộc quyền chúa Thượng định đoạt. Đây ta hãy nghe chính Giáo sĩ tự thuật:

“Chúa (Thượng) truyền cho tôi phải xử trảm quyết. Nhưng than ôi, tôi chẳng đáng được Đức Chúa Trời ban phước ấy (phước tử đạo) vì tội lỗi riêng tôi. Có người đã cản ngăn, và nhà chúa đã đổi ý.

“Từ trước đến nay không có người nào trong triều dù lớn đến đâu, khi thấy vua cả giận ra án như vậy mà dám hở môi, vì sợ vua càng giận hơn bởi có người dám chống lại mình. Song Đức Chúa Trời đã ban phép cho một quan lớn kia mà năm ngoái tôi đã trú tại nhà ông và tôi đã rửa tội cho vợ ông cùng cả nhà ông, khi nghe vua lên án, liền quỳ lạy và tâu:

“Sao chúa nỡ lòng giết giáo sĩ? Giáo sĩ sang xứ ta, đi đâu cũng chỉ làm sự lành và dạy những điều nhân đức, lẽ nào chúa lại quyết định một việc vốn không hợp với đức minh chính của chúa, làm cho bảo kiếm phải vương máu kẻ vô tội như vậy?

“Chúa Thượng bỗng đổi thái độ, dịu lời nói:

“Ta đã xử tử nhiều quan lớn, cả đến em ruột ta, mà chưa ai dám can lời nào, nay nghe lời người trần tấu, thì được, ta cho người ấy sống, nhưng phải ra khỏi nước ta ngay.

“Ta truyền giải giáo sĩ xuống Hội An và trả cho người Bồ Đào Nha, rồi đi đâu thì đi, song phải rời khỏi nước ta cho mau, vì ta không biết y dùng phù phép gì đối với dân ta, mà dân ta theo ý hết, vâng lời y như mù quáng. Ta không bằng lòng cho y ở trên đất nước ta nữa”.

Lệnh chúa Thượng lập tức được thi hành.

Ông quan trước đã xử tử thầy giảng Anrê, nay được lệnh đến lãnh cha Đắc Lộ đưa về Hội An. Sau 22 ngày giam giữ, các quan dẫn giáo sĩ xuống tận tàu của người Bồ Đào Nha, tuyên đọc một sắc lệnh cấm không cho giáo sĩ trở lại Việt Nam, thuyền trưởng nào chở ông trở lại sẽ bị xử chém.

Ngày mồng 3 tháng 7 năm 1645, cha Đắc Lộ vĩnh biệt nước Việt Nam, sau hai mươi năm tận tuỵ với việc truyền giáo từ Nam ra Bắc, gián đoạn bằng 10 năm ẩn náu tại Ao-môn vì 5 lần trục xuất!

Giữa lúc con thuyền Giáo hội Việt Nam vượt phong ba, thì người hoa tiêu duy nhất lại bị tách lìa khỏi tay lái: Sự ly biệt này đã làm cho giáo hữu phải đau đớn không khác một lịnh cấm đạo nghiêm khắc nhất. Nhưng nếu có ai buồn sầu hơn cả trong hoàn cảnh ấy, thì chính là bà Minh Đức, chị cả của đại gia đình giáo hữu Đàng Trong.

Từ lúc cha Đắc Lộ bị bắt, bà hằng theo rõi từng biến cố nhỏ nhất xảy đến cho người. Từ dinh ông Hoàng Khê, ngay cạnh Triều đình, bà đã phải đau đớn như xé lòng khi nghe tin cha linh hồn bị án trảm quyết. Vì không thể trực tiếp can thiệp với chúa Thượng, chắc hẳn bà đã liên lạc bàn tính với vợ con ông quan kia, là người đồng đạo, mà cha Đắc Lộ đã nói đến, để can thiệp cho giáo sĩ được cải án.

Không phải khóc cuộc tử biệt, nước mắt bà đã dàn dụa vì lẽ sinh ly!

Hai thầy giảng Y-nha-xô và Vinh Sơn tử đạo.

12 ngày sau, đến lượt Y-nha-xô và 8 đồng đạo cùng bị bắt với cha Đắc Lộ, phải giải đến trước mặt chúa Thượng. Ta nhớ rằng Y-nha-xô chính là người mà Tống thị, vợ chúa Thượng ghét hơn hết và đã quyết “báo thù”. Chính chúa thẩm vấn những người này, tưởng như thế thì họ phải khiếp sợ hơn các quan.

- Có phải các anh theo “Hoa Lang đạo” (1) chăng? Nếu trót theo rồi, thì ta truyền phải bỏ.

Y-nha-xô thay mặt cả bọn, trả lời:

- Muôn tâu chúa Thượng, tất cả chúng tôi đều theo đạo Thiên Chúa, chúng tôi quyết giữ đạo dầu phải chết cũng không bỏ.

Công Thượng Vương vô cùng tức giận:

- Để coi bay có sức chịu nổi hình phạt của ta chăng!

- Tâu chúa, Y-nha-xô thưa lại- chúng tôi yếu đuối nhưng ơn Thiên Chúa sẽ cho chúng tôi đủ sức mạnh để chết vì Thiên Chúa.

Trong bọn, có một thầy giảng khác nữa tên thánh là Vinh Sơn, cũng lên tiếng biều đồng tình với Y-nha-xô. Những người khác thì gật đầu tỏ sự đồng ý. Cuộc thẩm vấn rất vắn tắt. Chúa lên án trảm quyết tức khắc hai đạo mục, còn bảy người kia thì phải chặt một ngón tay.

Ngay ngày hôm ấy, 15 tháng 7 năm 1645, hai trăm lính điệu hai thầy giảng và bảy giáo hữu ra pháp trường. Mặc dầu cổ đeo gông nặng, “họ đi rất nhanh như có cánh”. Rất đông bổn đạo đi theo họ, không phải để khuyến khích, vì họ chẳng cần phải khuyến khích, mà chính là để học gương can đảm của họ.

Bà mẹ của Y-nha-xô cũng đi theo và hằng ở bên con để khuyến khích: Y-nha-xô không cầm được nước mắt khi từ giã mẹ để hy sinh vì Chúa, song nói rõ cho mọi người hiểu không phải vì sợ mà khóc, chỉ vì tình mẫu tử chia ly!

Y-nha-xô lại từ biệt mọi người. Thầy bị chém bằng một lát gươm, và người ta tưởng còn nghe thấy tên Giêsu ở miệng thầy lúc đầu đã lìa thân rồi. Đến lượt Vinh Sơn cũng chết cách can đảm như vậy. Còn bảy giáo hữu khác chỉ bị chặt một ngón tay, lấy làm tiếc không được hy sinh vì Chúa Kitô.

Sau cuộc hành quyết, các bổn đạo xông vào xé áo mình thấm lấy máu các vị tử đạo, hoặc hốt lấy đất có nhuốm máu thiêng, đem về làm kỷ niệm tôn kính. Bà Minh Đức cũng được chia một phần những di vật quý báu để tôn kính trong nhà – không biết do giáo hữu có mặt đem về cho bà, hay chính bà tàng hình xen lẫn vào đám đông dự cuộc hành quyết.

Trước cái chết của Anrê, bà thương khóc một, thì đối với cuộc tử biệt của Y-nha-xô, bà thương khóc mười. Vì như ta đã biết, Y-nha-xô, thủ lĩnh của các thầy giảng, chính là “người nhà” của bà Minh Đức trước đây, một viên chức trong dinh ông Hoàng Khê, mà chính bà đã cải hóa và dìu dắt lên đường tông đồ.

Đây ta hãy ghi thêm chi tiết về tiểu sử Người để kính nhớ: Ông Y-nha-xô (không rõ tên thật là gì), sinh năm 1610 tại làng Liêm Công, miền Cửa Tùng; học thức rộng, tinh thông kinh sử, được bổ nhiệm một chức vụ tại Phủ Tổng trấn, tức dinh ông Hoàng Khê. Ông đã lập gia đình, song vợ chết sớm. Năm 30 tuổi (1640) trở lại Công giáo do cha Đắc Lộ rửa tội. Hai năm sau ông từ chức quan để nhập đoàn thầy giảng và được cử làm đầu các thầy giảng. Sau ba năm lập nhiều thành tích truyền giáo, ông được phúc tử vì đạo, thọ 37 tuổi. Em ruột là Phêrô, cũng được tử vì đạo. Mẹ là người đạo đức đã can đảm dự lễ hy sinh của con; cảnh ấy khác nào bà mẹ của các con Macabê trong Cựu ước, hay Đức Mẹ Maria trên núi Golgotha! Các cha Đắc Lộ và Saccano trong các bản ký sự đều khen ngợi nhân đức của vị thủ lãnh các thầy giảng Việt Nam đã đổ máu làm chứng cho Chúa Giêsu. (2)

Cuộc bắt đạo vẫn tiếp tục

Giáo hội Đàng Trong đã trải bảy tháng không linh mục, và những thầy giảng đắc lực nhất cũng đã tử đạo rồi… Tuy nhiên, các thầy giảng còn sống vẫn tiếp tục sứ mạng Tông đồ: họ đã rửa tội thêm 200 người, và dạy giáo lý cho 200 người khác sắp nhập đạo. (3)

Ngày 11 tháng 2 năm 1646, cha Dòng Tên Metello Saccano, người Ý, cùng với một giáo sĩ Bồ Đào Nha vâng lệnh Bề trên ở Ao môn tới Cửa Hàn với nhiệm mụ trông coi giáo hữu Việt Nam. Hai cha lên kinh đô yết kiến chúa Thượng, dâng tặng những hột trai quý giá, chúa rất bằng lòng. Cha Saccano được chúa Thượng cho phép ở Hội An, nhưng không được đi lại giảng đạo. Trước khi rời kinh đô, ngài rửa tội được 60 bổn đạo mới và làm phép Bí tích cho các bổn đạo cũ. Theo Ngài nhận xét, thì trong Triều rất nhiều người sẵn lòng hưởng ứng Phúc âm, song không dám lộ ra bề ngoài. Bà Minh Đức và vợ con ông quan dạy học cho con chúa Thượng, làm gương đạo đức cho cả Triều đình.

Chính trong thời kỳ này, ngày 22 tháng 8-1646, ông Nguyễn Phúc Khê từ trần. Sự cứng lòng của ông, đến giờ chót, có phải thua đức nhẫn nại, lòng bác ái và hiệu năng của lời cầu nguyện và những hy sinh của bà mẹ đạo đức kia chăng, điều ấy chỉ một mình Thiên Chúa biết. Còn ta chỉ biết rằng bà Minh Đức chịu thêm một tang đau đớn, và càng ngày càng bị dồn vào thế cô quạnh!

Trong lúc đó cuộc cấm đạo vẫn tiếp tục. Tại tỉnh Quảng Bình, sáu giáo hữu bị bắt. Cha Saccano tường thuật như sau:

“Sáu lực sĩ của chúng ta bị dẫn đến pháp trường, các người ngoại giáo, lính tráng và viên chức tư pháp đứng một bên, các giáo hữu, cả đàn ông và đàn bà đứng một bên, thành hai hàng song song với nhau. Lòng bác ái can đảm của một phụ nữ công giáo phát hiện ngay nơi pháp trường, vì bà tiến lại gần các người sắp bị xử, trải chiếu cho họ ngồi, để máu khỏi đổ xuống đất; lòng khiêm nhường của các người bị xử tử chối hân hạnh ấy, song phải nhượng bộ vì lời năn nỉ của bà. Người nữ tân tòng mà đạo đức ấy đã chẳng sợ xưng đạo ra như vậy, mặc dầu viên lục sự vừa đọc chiếu chỉ của chúa định rằng những ai bị bắt vì theo “đạo Hoa Lang” sẽ bị trảm quyết. Những giáo hữu khác cũng chẳng sợ hãi, và chẳng ai rút khỏi pháp trường”.

Hai người bị trảm quyết: Alêxi và Augustin. Những người khác bị đánh đòn, cắt một ngón tay và cạo trọc đầu, trong số đó, có ông già Simeon mười ngày sau từ trần vì vết thương.

Cha Saccano không thể đến khuyến khích những người tử đạo và yên ủi giáo hữu, ngài cử các thầy giảng đi thay, song đến nơi đã xử rồi. Hôm ấy là mồng 1 tháng 6 năm 1647.

Theo giáo sĩ Saccano, thì chúa Thượng trong lòng cũng công nhận đạo Thiên Chúa là đạo thánh thiện, song không muốn cho người ta công khai giữ đạo, vì lý do nào không nói ra. Còn đối với giáo sĩ Tây phương sở dĩ chúa khoan hồng là vì sự ngoại giao khéo léo của các giáo sĩ, lại vì muốn giữ mối giao thương kiếm lợi với người Bồ Đào Nha, tránh cho họ khỏi giao tiếp với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài.

Công Thượng Vương từ trần ngày 19 tháng 3 năm 1648, thọ 48 tuổi. Con thứ hai là Nguyễn Phúc Tần, tức Hiền Vương, lên nối nghiệp, đối với tôn giáo chẳng những không đổi thái độ mà sau lại cấm đạo gay gắt hơn.

Bà Minh Đức từ trần

Chính nhờ ký sự của Giáo sĩ Saccano, mà ta được biết chi tiết rõ ràng về cái chết tốt lành của bà Minh Đức trong thời kỳ này, và lòng thương tiếc xót xa của toàn thể Giáo hội đối với bà. Giáo sĩ ghi chép như sau:

“Hồi ấy, Giáo hội Đàng Trong rất đau buồn vì cái chết của bà Vương phi Maria, là cô mẫu của vua mới chết… Các giáo hữu đã phải thiệt hại rất nhiều vì sự từ trần của bà chúa này, lúc sinh tiền đã che chở họ trong những cơn đau buồn, và rất sốt sắng chinh phục các linh hồn cho Chúa Giêsu. Bà tôn kính giữ nước phép trong nhà để phân chia cho các giáo hữu, và giáo hữu rất có lòng cung kính dùng nước phép; việc ấy đã làm cớ cho một trong những cháu nội của bà tố cáo bổn đạo một tội nặng nề. Ông hoàng này thấy trong phòng bà nội mình có những bình nước phép và mấy mảnh vải thấm máu các vị tử đạo, liền phao đồn đi khắp nơi rằng nước phép của bổn đạo là một thứ bùa ếm làm bằng chân và tay chặt của trẻ em. Tiếng đồn này làm cho người ta ghê tởm người có đạo, nhưng kẻ phao đồn chẳng bao lâu bị Trời phạt: nó bị xử tử vì một tội xấu xa thông đồng cùng cô mẫu nhà vua”. (4)

Giáo sĩ Saccano tường thuật những việc kể trên, cùng với nhiều việc khác, như đã xảy ra trong thời kỳ ngắn mà ngài phải tạm lìa Việt Nam: từ tháng bảy 1648 đến năm 1649. Ông vua mới chết trong thời kỳ ấy, không ai khác Công Thượng Vương. Bà Vương phi Maria, cô mẫu của vua mới chết ấy, không ai khác bà phi của chúa Nguyễn Hoàng, mẹ hoàng tử Khê chú của chúa Thượng, mà sau được truy phong tước hiệu là Minh Đức Vương Thái Phi.

Bà chết sau chúa Thượng ít lâu thôi, thì tức là vào khoảng cuối năm 1648 hay cùng lắm đầu năm 1649. Không có linh mục nào giúp đỡ bà lúc lâm chung, vì lúc ấy cha Saccano vắng mặt, và dầu người có mặt trong xứ cũng không thể rời Hội An lên kinh đô làm việc tôn giáo được.

Nhưng chắc chắn bà vẫn trung thành giữ đạo cho đến hơi thở cuối cùng. Trên, ta đã thấy, mặc dầu chúa Thượng trục xuất cha Đắc Lộ và xử tử các thầy giảng, và mặc dầu ông Hoàng Khê phá ngôi nhà thờ của bà, chúa Thượng vẫn để cho bà tự do theo luật đạo Thiên Chúa, riêng một mình, miễn là không tập hợp bổn đạo trong nhà như trước nữa (5). Sự buồn thương nhớ tiếc của cả Giáo hội, với những lời khen ngợi của giáo sĩ Saccano, chứng tỏ bà đã từ trần trong bầu không khí đạo đức.

Trong tài liệu kể trên, lòng tôn kính của bà đối với các vị tử đạo đã được xác nhận. Bà cất giữ vải thấm máu các vị tử đạo (nhất là Y-nha-xu) để thúc giục mình luôn luôn noi gương kiên nhẫn và hy sinh của các vị ấy, và chắc hẳn ngày đêm bà hằng cầu nguyện và dọn mình để được phước tử đạo.

Mặc dầu Chúa đã định cho bà một đường lối khác để về cùng Chúa, nhưng cuộc đời của bà đã là một đường thánh giá liên tiếp, thì cái chết của bà là một cuộc tử đạo thiêng liêng vậy!

Bà hưởng thọ ngoài 80 tuổi (6), thủ tiết 36 năm, và đã can đảm giữ Đức tin, tận tuỵ với việc tông đồ trong khoảng 24 năm liền.

Chú thích

(1) Hồi ấy người ta dùng tiếng Hoa-Lang để chỉ người Bồ Đào Nha và tất cả các người Au Châu tới buôn bán, nên cũng gọi đạo Thiên Chúa là đạo Hoa Lang.

(2) Xem L.Cadière: Une princesse chrétienne… Bul.Amis Vieux Huế, 1939.

(3) Saccano: Relation des Progrès de la Foi au Royaume de la Cochinchine ès années 1646 et 1647. Paris 1653.

(4) Saccano: sách đã kể.

Về người cháu nội kể ở đây, cha Cadière nghĩ là một trong 13 con trai ông Hoàng Khê, và có lẽ là con cả, đã làm trưởng tộc từ năm 1646, sau khi ông Khê từ trần, nay kiếm dịp này để “tâng công” với chúa mới, Hiền Vương- cũng như xưa ông hoàng Khê phá nhà thờ mẹ để “tâng công” với chúa Thượng.

“Tội xấu xa thông đồng với cô mẫu nhà vua”: Theo câu văn, cô mẫu này không phải là “cô mẫu vua mới chết”, tức bà Minh Đức, mà là “cô mẫu” vua đương triều, chúa Hiền, có lẽ là Tống thị, mà chính chúa Hiền sẽ xử tử.

(5) Saccano: sách đã kể, và xem trang 75. Hồi này là năm 1647.

(6) Lúc này cha Đắc Lộ đang trên đường về La mã. Khởi hành từ Ao môn ngày 20-12-1645, sau 4 năm hành trình vất vả mới tới Tòa thánh ngày 27-6-1649. Người không biết tin bà Minh Đức chết, vì năm 1653, khi người viết và xuất bản cuốn “Divers voygages et missions…”, người nó: “Tôi tưởng từ 28 năm nay bà vẫn thực hành đầy đủ mọi nhân đức công giáo”. Nếu nhờ câu ấy mà tính được năm bà Minh Đức rửa tội thì cũng do câu ấy mà thấy rằng, khi cha Đắc Lộ nói bà 76 tuổi, là kể cái tuổi của bà trong trường hợp người đang kể tức 1644-1645, chứ không phải tuổi thọ của bà lúc chết. Thêm một lý do để chúng tôi không theo cách cha Cadière tính năm sinh của bà Minh Đức.

CHƯƠNG 10: GIÁO HỘI VIỆT NAM THỜI BÀ MINH ĐỨC

Bà Minh Đức đã từ trần!

Cả một Giáo hội thương khóc bà!

Trong lịch sử Giáo hội Việt Nam, chưa bao giờ một nhân vật Công giáo qua đời mà được ghi nhớ bằng những lời như vậy, do chính một vị Bề trên Giáo hội viết ra.

Kể từ ngày các cha Dòng Tên thực thụ khai nguyên Công giáo trên đất Việt Nam đến ngày có tang đau đớn này, 34 năm vừa trôi qua. Trong thời gian ấy, bà Minh Đức Vương thái phi đã được vinh hạnh góp 24 năm phụng sự, với tất cả nỗ lực, hy sinh và cầu nguyện!

Cuộc đời bà đã dâng trọn cho Chúa, thì Giáo hội Chúa là lẽ sống của bà: Bà vui mừng với những tiến triển của Giáo hội, đau khổ vì những khổ đau đến cho Giáo hội, và chứa chan kỳ vọng ở ngày mai của Đức tin Công giáo đem đến ơn cứu chuộc và hạnh phúc thật cho toàn thể đồng bào.

Bà Minh Đức từ trần mà trái tim bà như chưa thôi đập trong Giáo hội. Như vậy tiểu sử của bà chưa đầy đủ, nếu ở đây, chúng ta không đưa một tầm nhãn quang rộng rãi để nhìn bao quát tình hình Giáo hội Việt Nam trong giai đoạn phát động mạnh mẽ này.

Từ con số không…

Người ta không rõ, năm 1625, khi bà Minh Đức tòng giáo, nước Việt Đàng Trong đã có bao nhiêu môn đệ Chúa Cứu Thế.

Cha Buzomi lúc đến Cửa Hàn lần đầu tiên (1615) có gặp một vài người Việt đã chịu phép rửa tội do các giáo sĩ theo tàu buôn đến mấy năm trước – có tác giả nói là bổn đạo của cha Aduarte năm 1596. Cha Buzomi dạy thêm giáo lý cho những người ấy và rửa tội cho nhiều người Việt Nam khác, không biết đông bao nhiêu, nhưng trong số đó có một bà quý phái tên thánh là Gioanna (1615-1616). Qua năm 1618, cha Christoforo Borri đến Cửa Hàn cũng có khuyên được vài ba người trở lại. Sau đó hai cha này cùng với cha Pina vào Quy Nhơn, nhưng hình như không rửa tội được người nào, đến cả quan trấn thủ là bạn thân mà cũng đành phải chết bất ngờ. Mãi đến năm 1621, mới bắt đầu có kết quả khả quan: 114 người được rửa tội tại Hội An (27 người Nhật) và 158 người tại Quy Nhơn (1) 

Vậy mà đến năm 1629 – 4 năm sau khi bà Minh Đức với đông bà con trở lại – số giáo hữu đã tăng lên tới 15.000 người (2). Tiếp 10 năm sau, khi nhiệm vụ của cha Buzomi chấm dứt (1639) số Giáo hữu ước lượng được 50.000 người (3).

Đến khi cha Đắc Lộ trở lại kế vị cha Buzomi (1640) Giáo hội Việt Nam lại có một hoạt lực mới, nhất là với sự xuất hiện của tổ chức tông đồ đầu tiên ở xứ này: đoàn thể các “thầy giảng”. Trong năm năm hoạt động, mặc dầu ba lần bị gián đoạn khá lâu, và nhiều năm không có linh mục nào khác giúp đỡ, mỗi năm cha Đắc Lộ cũng rửa tội được từ 1.400 đến 1.500 tín hữu như bạn đọc đã thấy trên đây. Sau khi cha vĩnh biệt xứ này, mặc dầu tôn giáo bị cấm, các thầy giảng vẫn tiếp tục truyền bá Đức tin, trong một năm 1647 chinh phục được thêm 400 người tòng giáo. Như vậy, đến cuối năm 1648 hay đầu năm 1649, lúc bà Minh Đức từ trần, Giáo hội Việt Nam ở Đàng Trong chắc hẳn đã có trên con số 60.000 tín hữu.

Thành phần và tổ chức Giáo hội

Các giáo hữu tiên khởi này thuộc mọi từng lớp nhân dân. Nếu giới bình dân đứng đầu về số đông, đó không phải một sự ngẫu nhiên mà chính hợp với lòng khao khát của Chúa Cứu Thế, như lời Chúa nói: “Ta thương quần chúng” và “Phúc cho kẻ khó nghèo vì nước Đức Chúa Trời là của họ!”. Nhưng lớp thượng lưu, trí thức cũng đã nhiệt thành tiếp nhận Đức tin.

Đại diện cho lớp này, ngoài bà Vương thái phi Minh Đức là nổi tiếng nhất, còn có nhiều nhận xét khác như: Bà Gioanna, một bà quý phái tại Kẻ Chàm, được cha Buzomi rửa tội năm 1616-1617, và đã giúp rất nhiều vào việc cất ngôi nhà thờ đầu tiên ở Quảng Nam:

- Hai vợ chồng vị sứ thần đầu tiên của chúa Nguyễn phái sang Cao Miên, cả hai cùng trở lại đạo với trên 20 gia nhân năm 1621 tại Nước Mặn (tỉnh Bình Định) nơi các cha Buzomi và Borri đang trú ngụ. Ông tên thánh là Giêgoriô, bà là Ursula:

- Bà Maria Mađalêna, vợ quan trấn thủ dinh Phú Yên, được rửa tội khoảng năm 1641.

Ay là chưa kể vợ ông quan dạy học cho con chúa Thượng, người đã can thiệp cho cha Đắc Lộ khỏi án tử hình; và thầy giảng Y-nha-xô, trước làm quan trong dinh ông Hoàng Khê. Lại có những sĩ quan hoặc binh lính trở lại đạo v.v…

Các giáo hữu này tập hợp đông hơn cả ở năm trung tâm chính sau đây, có nhà thờ, nhà giáo sĩ và cả một nhà thương nữa. Ngôi nhà thờ đầu tiên được xây dựng tại Cửa Hàn ngay khi cha Buzomi mới tới (1615-1616). Nhà thờ này rất rộng lớn, có thể làm lễ công khai và khi giảng thì nhờ thông ngôn. Do mấy bổn đạo mới gây dựng, nhà thờ này bị kẻ nghịch đốt cháy năm 1616 hay 1617, sau lại được các cha Dòng Tên dựng lại.

Trung tâm thứ hai ở ngay Dinh Chàm (Cacciam), nơi đóng dinh của quan trấn Quảng Nam, cách thành Quảng Nam bây giờ hai hoặc ba cây số. Năm 1615, chính nhà cầm quyền chỉ cho cha Buzomi chỗ để cất nhà thờ ấy và bà quý phái Gioanna giúp nhiều tiền bạc.

Nhà thờ Nước Mặn, lập năm 1618, do quan trấn Quy Nhơn giúp sức, sau được vợ chồng quan sứ thần Đàng Trong tại Cao Miên công đức mở rộng thêm. Tất nhiên ở Hội An lúc ấy cũng có một ngôi nhà thờ, nhưng sử liệu không cho biết chi tiết.

Ngôi nhà thờ của bà Minh Đức tại Huế là trung tâm truyền giáo thứ năm trong xứ và thứ nhất tại Cố đô. Đến sau, số bổn đạo tăng lên năm, sáu chục ngàn, tất là các nhà thờ cũng tăng lên mới đủ nhu cầu, nhất là tại Phú Yên (quê bà Maria Mađalêna) Quảng Bình (quê các vị tử đạo năm 1647).

Hoạt động xã hội và văn hóa.

Ngoài những hoạt động thuần tuý tôn giáo, Giao hội mới đã bắt đầu có hoạt động về xã hội và văn hóa theo đúng tinh thần bác ái và truyền thống vẻ vang của Giáo hội hoàn cầu.

Ngôi nhà thương của bà Maria Mađalêna ở Phú Yên mở đầu cho các công cuộc từ thiện của Giáo hội Việt Nam, và chắc chắn là bệnh viện tư nhân đầu tiên trong nước.

Về văn hóa, thời kỳ này chính là thời kỳ thai nghén của một cuộc cách mạng vĩ đại trong văn tự nước nhà, một cuộc cách mạng tối quan trọng đối với tiền đồ Việt Nam: việc sáng tạo chữ “Quốc ngữ”.

Như chúng tôi đã nói ở trên, cha linh hồn của bà Minh Đức, Francisco di Pina, là giáo sĩ đầu tiên thông thạo tiếng Việt và là giáo sư tiếng Việt của cha Đắc Lộ. Lúc ấy tại Hội An có một số khá đông người Nhật trú ngụ. Các cha Dòng Tên đã giảng đạo cho họ bằng những sách đạo do máy in của các cha in tại Nhật bản bằng thứ tiếng “rômaji” – một lối viết chữ Nhật bằng vần La Mã – sáng chế bởi một người Công giáo Nhật Bổn, Yajiro, mà chính thánh Phanxicô Xaviê đã rửa tội. (4) Chúng tôi không biết lối chữ “rômaji” này có liên can gì đến việc sáng tạo chữ “quốc ngữ” chỉ biết rằng những kiểu quốc ngữ đầu tiên còn lưu lại đến nay là một số những chữ quốc ngữ có in trong cuốn Ký sự bằng tiếng Ý in năm 1631 của cha Christoforo Borri (hoạt động ở Đàng Trong từ 1618-1621). Như vậy chính ở Đàng Trong, vào thời kỳ này, mà chữ quốc ngữ được khai sanh bởi công các nhà truyền giáo Dòng Tên với sự cộng tác của thầy giảng Việt Nam. Đến sau cha Đắc Lộ đem lối viết ấy ra Bắc để dùng trong Giáo hội Đàng Ngoài. Do đó nảy ra hai cuốn tự điển quốc ngữ viết tay đầu tiên (nay không còn nữa): Tự vựng Annam – Bồ Đào Nha của cha Gaspard d’Amaral (kế vị cha Đắc Lộ năm 1631); và cuốn “Tự vựng Bồ Đào Nha –Annam”, của cha Antoine Barbosa (đến Đàng Ngoài năm 1636). Phần cha Đắc Lộ, trong 10 năm truyền giáo tại Việt Nam cũng như 10 năm làm giáo sư tại Ao Môn, hẳn là không lúc nào không lưu tâm mài dũa cái lợi khí vô song ấy để truyền bá tư tưởng, nên khi vừa về tới La Mã hơn một năm (1651), ngài đã cho in hai tác phẩm quốc ngữ đầu tiên:

- “Tự vị Annam- Bồ Đào Nha- La tinh: Dictionnarum Annamiticum – Lusitanum et Latinum” – và “Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội, mà beào (vào) đạo Thánh Đức Chúa Blơi (Lời, Trời): Catechismus proquibus volunt suscipere baptismum in octo dies divisum”.

Vị Tông đồ của Giáo hội Việt Nam cũng là người có công đầu trong cuộc cách mạng văn tự Việt Nam vậy!

Ngoài ra, Giáo hội mới này còn đóng góp một phần quý báu vào khoa học lịch sử của Việt Nam: Đó là những sách biên khảo về lịch sử, địa lý, phong tục, tôn giáo của người Việt Nam. Đáng chú ý nhất là cuốn “Ký sự” của cha Borri, có một phần quan trọng nói về tình hình chính trị và quân sự xứ Đàng Trong và cuốn “Lịch sử xứ Bắc Kỳ” (Tunkinensis Historioe) của cha Đắc Lộ. Nhà sử học không thể bỏ qua những tài liệu quý giá này khi nghiên cứu tình hình Việt Nam về thế kỷ XVI và XVII.

Giáo hội Đàng Ngoài

Trong khi đó thì ở Đàng Ngoài, việc truyền giáo tuy khởi sự chậm hơn Đàng Trong mười năm, nhưng chẳng bao lâu đã theo kịp và còn tiến triển vượt bực.

Mặc dầu cha Julien Baldinotti, người Ý (đến Đàng Ngoài ngày 2 tháng 2 năm 1626) được chúa Trịnh Tráng tiếp nhận và cho phép giảng đạo, nhưng vì ngài không biết tiếng Việt nên đã nhường công khai đạo cho cha Đắc Lộ. Với những kinh nghiệm và thông giỏi Việt ngữ mang từ miền Nam ra Bắc, cha Đắc Lộ đã thành công một cách rực rỡ trong ba năm hoạt động (1627-1630) như chúng tôi đã gợi ra trong đoạn trước. Ngay trên con đường trục xuất lần thứ nhất (tháng 3-1629) cha đã rửa tội được viên thuyền trưởng và 27 thuỷ thủ, khiến họ giải phóng ngay cha trên bãi biển Bắc Bố Chính. Từ đó cha đi xuống miền Nam, đến gần giáp ranh đất chúa Nguyễn, rửa tội được 25 người, đứng đầu là một nho sĩ: đó là họ giáo đầu tiên của tỉnh Quảng Bình ở phía bắc cửa Nhật Lệ. Tránh không muốn vượt ranh giới để khỏi bị chúa Nguyễn nghi ngờ, cha đi ngược lên phía Bắc tới tỉnh Nghệ An, dạy dỗ và rửa tội thêm được 600 người, không kể những người được rửa tội lúc lâm chung.

Sau khi cha Đắc Lộ bị trục xuất vĩnh viễn (tháng 5-1630) các thầy giảng Bắc Việt hoặc tự lập, khi không có linh mục, hoặc hiệp tác với các giáo sĩ kế tiếp (nhất là cha Bề trên Gaspard d’Amaral (1630), các cha Girolano Majorica (1632), Martino Coelho (1635), Antoine Barbosa (1636), Tomaso Rodriguez (1640) v.v…) đã làm nên những việc phi thường về Đức tin. Số các thầy lần lượt tăng lên tới 100 người. Năm 1633 hai thầy Gioan và Tôma được cha bề trên Amaral cử sang Lào với nhiệm vụ ngoại giao với nhà vua lân quốc và nghiên cứu việc truyền giáo. Một thầy được vua Lào giữ lại, một thầy về đưa tin cho các cha biết hảo ý của vua Lào. Bốn năm sau, từ Việt Nam, giáo sĩ Bonelli cùng hai thầy giảng xuất sắc, Anrê và Tôma, mang ánh sáng Đức tin tiến vào xứ Lào. Tiếc thay, giáo sĩ Bonelli và thầy Anrê phải bỏ mình nơi biên giới (1638). Thầy Tôma tiếp tục cuộc hành trình, đến tận kinh đô, nhưng lúc ấy dân Lào chưa sẵn sàng nghe tiếng Chúa, nên sau một năm hoạt động không kết quả, thầy trở về. Ít lâu sau đến lượt một nhóm thầy giảng Đàng Trong cùng với giáo sĩ Leira lại vào nước Lào theo ngả sông Cửu Long. Những hoạt động này đã nêu cao tinh thần xung phong truyền giáo của những tông đồ Việt Nam tiên khởi. (5)

Tính đến năm 1639, Giáo hội Đàng Ngoài đã có 82.500 tín hữu, hơn 100 nhà thờ và 128 nhà nguyện nhỏ. Đến 1640, số giáo hữu tăng lên 100.000; năm 1641:108.000. Mặc dầu từ năm 1643 có lệnh cấm đạo và trục xuất giáo sĩ rất gắt, đến năm 1648, số giáo hữu cũng đã tăng lên tới 195.777 người. (6)

Tiếng vọng về La Mã

Con số này, thêm vào với số giáo hữu Đàng Trong, và những tiến triển của hai Giáo hội trong hai năm nữa, khiến cho cha Đắc Lộ, năm 1650, có thể tường trình với Tòa thánh La Mã số ước lượng giáo hữu Việt Nam lên tới 300.000 người và mỗi năm tăng lên 15.000 linh hồn, cần phải có 300 linh mục để dìu dắt (7).

Cha Đắc Lộ từ Cửa Hàn qua Ao Môn, đã về tới La Mã ngày 27 tháng sáu 1649. Tường trình trước các Đức Hồng y trong thánh bộ truyền giáo với những yếu tố nói trên, giáo sĩ không có ý vận động đưa một số giáo sĩ người Au lớn lao như vậy sang Việt Nam, là điều không thể thi hành, và có thi hành cũng không trông kết quả mỹ mãn. Giải pháp của giáo sĩ là đào tạo ngay các giáo sĩ bản quốc, lựa chọn trong số các thầy giảng nhiệt thành “hiện đang tu đức như trong bậc linh mục”. Giáo sĩ đề nghị xin Đức Thánh Cha cử các giám mục sang Việt Nam để thi hành việc ấy. Cha Đắc Lộ được đề cử vào chức vụ cao trọng đó, song vì hoàn cảnh, ngài đã phải từ chối. Sau ngài được Bề trên Dòng Tên phái sang lập nhà Dòng tại nước Ba Tư, và từ trần ở đó năm 1660, hưởng thọ 70 tuổi. Trước khi nhắm mắt, ngài đã được an tâm và toại nguyện đối với tiền đồ Giáo hội Việt Nam vì năm 1658, Đức Giáo Hoàng Alexandre đã cử hai Giám mục đầu tiên, Lambert de la Motte và Francois Pallu, cho hai địa phận Đàng Trong và Đàng Ngoài, và năm 1659, Hội truyền giáo ngoại quốc Ba Lê được thành lập với mục đích đào tạo giáo sĩ bản quốc.

Trước những kết quả diệu kỳ, thực hiện trong thời gian 35 năm, với bao nỗi khó khăn và giá máu các vị tử đạo, một sử gia công giáo đã bình luận như sau:

“Đối với những Giáo hội tân lập, Thiên Chúa thường hay cho phép tái diễn Mầu nhiệm ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống; đó là ngày giờ của những giáo hội mới. Thánh sủng Chúa đổ tràn xuống nhiều hơn trên tất cả mọi linh hồn ngay lành, và lòng người cũng sẵn sàng hơn để tiếp thụ thánh sủng bởi vì họ chưa bao giờ lạm dụng ơn Chúa. Giáo hội Việt Nam lúc ấy sống trong những ngày tươi đẹp của lửa nhiệt ái buổi đầu; trong thánh ý Chúa những ngày tươi đẹp ấy cốt để chuẩn bị và tăng cường Giáo hội hầu đối phó với những gian nan thử thách của ngày mai”. (8)

Vai trò của bà Minh Đức

Chúng ta vừa làm một bảng tổng kết tình hình Công giáo Việt Nam lúc bà Minh Đức từ trần. Đã hẳn, vì hoàn cảnh đất nước chia đôi, bà không thể hoạt động gì, giúp đỡ gì cho Giáo hội Đàng Ngoài, nhưng nhờ sự liên lạc thường xuyên với cha Đắc Lộ và các cha Dòng Tên khác là những tông đồ đứng trên mọi biên giới để chỉ hoạt động cho “một đoàn chiên duy nhất dưới quyền một Chúa chiên duy nhất” – nhờ mối liên lạc ấy, bà đã hiểu thấu những tiến triển của Giáo hội Đàng Ngoài và hoàn toàn cảm thông với Giáo hội ấy.

Còn đối với Giáo hội miền Nam, vai trò của bà đã rõ rệt, như những chương trên đã chứng minh. Không cần phải nhắc lại đây bao lời ca tụng của các giáo sĩ đương thời, chúng tôi chỉ đan cử ý kiến của một giáo sĩ hiện đại, kiêm sử gia uyên bác, sau khi nghiên cứu cuộc đời của bà, đã phát biểu như sau:

“Bà chẳng những là người bảo trợ các giáo hữu mà còn là người lãnh đạo giáo hữu!” (Elle était la protectrice des Chrétiens mais aussi leur directrice) (9)

Cho nên cải Giáo hội đã để tang trong lòng, khi ngôi sao của bà khuất lặn!

Khung cảnh lịch sử Đất nước

Nhưng muốn hiểu rõ hơn nữa vai tuồng của bà Minh Đức, ta hãy đặt bà vào khung cảnh lịch sử của đất nước thời ấy.

Đây không phải là chỗ luận bàn về nguyên do và tính chất của cuộc Nam Bắc phân tranh. Ta chỉ khách quan nhận định rằng, giai đoạn này, mặc dầu bị hoen ố bởi bảy trận nội chiến trong khoảng một trăm năm, nhưng lại là một trong những giai đoạn quan trọng nhất của cuộc tiến hóa tinh thần và vật chất của nòi giống Lạc Hồng.

Quả thực chính trong giai đoạn này, dân tộc Việt Nam bắt đầu mở rộng trí não và tầm mắt tiếp xúc với các trào lưu văn hóa nhân loại từ bốn phương dồn dập tới, để rồi rút lấy tinh hoa, góp lại vật liệu, xây dựng một nền văn hóa mới, đủ sức di dưỡng tinh thần, bồi bổ sinh lực và luyện chí quật cường để sinh tồn và tiến hóa.

Mặt khác trên con đường sinh lộ tiến về phương Nam, dân tộc Việt trải qua mấy ngàn năm mới phát triển đến vùng Nam Ngãi. Nhưng sau khi ông Nguyễn Hoàng đã tổ chức xong một cuộc di định cư lớn lao, lần thứ nhất có trong lịch sử, thì chỉ trong một thế kỷ XVII, dân tộc ta đã tiến đến giáp vịnh Thái Lan, làm tăng gấp đôi diện tích đất nước, với những nguồn tài nguyên phong phú nhất. (10)

Trong công cuộc sau này, bà Minh Đức không có phần vụ trực tiếp, nhưng chính chồng con bà và những người có trách nhiệm chính thức kế nghiệp chồng bà, đã làm tròn nhiệm vụ ấy, trước con mắt chứng kiến của bà – ít là trong phần khởi đầu.

Sứ mạng của bà ở trong việc gây dựng đạo đức, nền tảng của văn hóa. Bà đã sớm giác ngộ sứ mạng ấy, đã đem hết tâm tình và cuộc đời đón nhận và thi hành sứ mạng một cách mỹ mãn. Và nếu tôn giáo là hình thức tinh khiết nhất, cao sâu nhất của văn hóa, thì sự nghiệp của bà đối với văn hóa Việt Nam rất đáng kể, và ảnh hưởng của bà trong cuộc tiến hóa tinh thần và xã hội của dân tộc Việt Nam cũng không nhỏ vậy.

Chú thích

(1) Lettre du Père Gaspar Luis sur la “Concincina” Annotations par L.Cadière, Bul.Amis Vieux Huế, 1931.

(2) Ký sự Cardim đã kể trên (tr.20)

(3) Marini: Histoire nouvelle et curieuse des Royaumes de Tunquin et de Lao, Paris 1666.

(4)Ý kiến này của P.Huard và M.Durand trong “Connaisance du Vietnam” 1954

(5) Ký sự của cha Cardim có kể cuộc khởi hành của cha Leria và các thầy giảng miên Nam sang Lào, song khi đó, tác giả chưa biết kết quả cuộc truyền giáo này ra sao (Bonifacy: Les débuts du Christianisme en Annam).

(6) A.Brou: Les statistiques dans les anciennes Missions. Revue d’Histoire des Missions VI. 1929.

(7) Chappoulie: Rome et les Missions d’Indochine

(8) Louvet: La Cochinchine religieuse.

(9) L.Cadière: Une princesse chrétienne… B.A.V.H 1939

(10) 1611: chiếm đất Chiêm Thành lập ra phủ Phú Yên; 1653: mở rộng biên giới đến Phan Rang; 1693: lập đất Thuận phủ; 1697: lập huyện Yên Phúc, chiếm hết đất Chàm và bắt đầu di dân vào Chân Lạp; 1698: hoàn thành Việt Nam hóa Chân Lạp, lập ra xứ Gia Định, Nam phần ngày nay.

ĐOẠN KẾT

BỐN THẾ KỶ SAU…

 

… Bốn thể kỷ chia cách chúng ta với bà Minh Đức. Ngày nay, chúng ta còn giữ được di tích nào về nhân vật trọng yếu ấy chăng?

Di tích vật chất ư? – Không một mảy may!

Người ta không rõ mộ bà chôn tại chỗ nào, và bà cũng không có phủ thờ.

Chồng bà, ông Nguyễn Hoàng tức Thái tổ Gia Dụ Hoàng đế, trước chôn tại làng Thạch Hãn huyện Hải Lăng, gần thành Quảng Trị ngày nay, sau được dựng lăng tại làng La Khê, huyện Hương Trà, vùng phụ cận Huế.

Con bà, ông Nguyễn Phúc Khê tức Nghĩa Hưng Quận Vương, chôn tại làng Hiền Sĩ (miền cố đô Phước Yên) thuộc huyện Phong Điền tỉnh Quảng Trị, dưới chân một ngọn đồi nhỏ gọi là Sơn Lăng trong thôn Khánh Mỹ, cách thành Huế chừng 15 cây số về phía Bắc. Trước biến cố 1945, tại đó có lăng, dân sở tại kêu là “Lăng ông Tổng trấn”.

Theo cổ lệ Việt Nam, vợ thường chôn gần chồng, mẹ gần con. Vậy bà Minh Đức chôn cạnh ông Nguyễn Hoàng tại Thạch Hãn, hay gần bên con ở Hiền Sĩ, hoặc nơi nào khác nữa? Điều ấy, chính cha Cadière, trong nhiều năm hoạt động tại Huế, đã tìm mà không biết: “Thật là điều đáng tiếc! – lời giáo sĩ – vì nếu biết mộ bà Maria ở đâu, tôi đã đem lòng thành đến kính viếng!” (1).

Trái với các bậc vị vọng khác trong hoàng tộc, bà Minh Đức không có phủ thờ. Trong phủ thờ của ông Nghĩa Hưng Quận Vương, tại làng Nam Phổ, trên đường ra cửa Thuận An, có đủ hương án và bài vị của ông bà Quận Vương và các con, các cháu, nhưng không có vật gì nhắc đến bà Minh Đức. Điều ấy cũng dễ hiểu vì bà đã dạy cho con cháu biết chỉ phải thờ một đấng Thiên Chúa, Cha muôn loài mà thôi, và bà đã nên mẹ của một thế hệ mới rồi, thì không lẽ con cháu còn “thờ” bà theo tục lệ cũ.

May mắn thay, lịch sử còn lưu lại cho chúng ta tước hiệu của bà trong Ngọc điệp của nhà vua: Minh Đức Vương Thái Phi! Ngoài cái ý nghĩa về ngôi thứ trong hoàng tộc như chúng tôi đã giải thích ở chương đầu, tước hiệu này phù hợp hoàn toàn với những lời ca tụng của các giáo sĩ đương thời nói về bà:

“Rất đáng tín cẩn về lòng đạo đức và các công cuộc thiện ích” (très recommandable par sa piété et ses bonnes oeuvres(2)) – “Tốt lành về mọi nhân đức Công giáo” (excellente en toutes les vertus chrétienne) – “Từ 28 năm nay, bà vẫn một lòng bền đỗ trong sự thực hành đầy đủ các nhân đức Công giáo” (je crois qu’elle persévère encore depuis vingt-huit ans dans la pratique de toutes les vertus chrétienne) v.v… Nhất là câu khen bà “bản tính ngay lành, lương tri sáng suốt và đức độ còn lớn lao hơn nữa” (de très bon sens et d’une probité encore plus éminente) diễn tả đủ ý nghĩa tổng hợp của hai chữ “Minh Đức” và nghĩa riêng của mỗi chữ. Nhưng cái may mắn hơn cả là nguồn sử liệu công giáo cho biết những chi tiết rõ rệt, những hành vi cụ thể của bà Minh Đức. Những bút tích đó còn quý báu gấp ngàn lần những lăng tẩm nguy nga mà không nói gì với hậu thế.

Chính nhờ những vật liệu quý giá kia, mà chúng tôi xây dựng nên “Đài Kỷ niệm tinh thần” là cuốn sách này, để kính nhớ một vị đã có công lớn trong việc gây dựng Giáo hội Việt Nam, và cũng là người có liên hệ mật thiết nhất với những nhà khai sáng giang sơn miền Nam. Mặc dầu không cho biết đủ hết mọi trường hợp trong đời bà, và chỉ nói nhiều đến những năm sau chót, sử liệu đã rọi ánh sáng chan hòa trên bức chân dung bà Minh Đức, làm nổi bật những nét tinh vi, linh động, mỹ miều.

***

Ngoài tính cách là một “Đài kỷ niệm”, cuốn sách này còn là một chuyến đò chở khách thập phương đến kính viếng – không phải một ngôi mộ – mà chính nguồn gốc của đạo Công giáo Việt Nam – nói theo kiểu một nhà văn duy linh: pèlerinage aux sources.

Cuộc kính viếng này cho ta thấy nguồn ta trong biết bao, gốc ta vững biết mấy, lại dồi dào sinh lực dường nào!

Giữa lúc chúng tôi viết đến trang chót này, thì tự Hương Cảng, vọng về với chúng tôi những lời sau đây của một Giám mục phương xa, trong một bài khảo luận về Giáo hội Việt Nam đăng trên tạp chí Anh ngữ “Mission Bulletin” do nhà truyền giáo danh tiếng Mark Tennien chủ trương.

Giám mục James E.Walsh đã viết:

“Những thành công buổi đầu của mấy nhà truyền giáo Dòng Tên sở dĩ đạt được, theo cha Đắc Lộ, phần lớn là nhờ sự hiệp tác diệu kỳ của chính nhân dân sở tại. Qua những trang ký sự của ngài, ta thấy rõ những giáo hữu đầu tiên đã tỏ ra sớm biết hưởng ứng và quý mến Đức tin, tuyệt đối trung thành với Đức tin, và lại nhiệt liệt truyền bá Đức tin. Ngài kể những bổn đạo mới do ngài chinh phục được (hàng mấy chục ngàn người) phần lớn đều do sự giúp đỡ của các giáo hữu và các thầy giảng, họ chia nhau từng toán nhỏ đi thăm viếng khắp các thôn xóm của đồng bào, giảng dạy đạo lý, săn sóc và cầu nguyện cho người bệnh nạn, dìu dắt cả từng làng tìm học giáo lý – và họ tiến hành các công việc ấy ngay cả trong lúc cấm đạo.

“Sự cộng tác rất cụ thể của nhân dân Việt Nam vào công cuộc truyền giáo của các giáo sĩ đầu tiên ấy, là một thứ giây chuyền vàng được tiếp nối liên tục qua khắp các giai đoạn lịch sử xứ này. Thế là, do ý Chúa quan phòng, hướng đã được định ngay tự phút đầu, không nghi ngờ gì nữa. Cha Đắc Lộ đã tỏ ra sớm hiểu biết tài năng ấy của dân tộc này, cũng như ngài đã luôn luôn chú ý vận dụng tài năng ấy. Ngài còn tổ chức và điều động một trường đào tạo thầy giảng – chắc chắn đó là một biện pháp tiên liệu tích cực để đối phó với những ngày khó khăn sẽ đến…” (3)

Qua những dòng trên đây, mặc dầu bốn thế kỷ cách biệt, chúng ta còn nhận thấy phảng phất anh hồn của bà Minh Đức với những Anrê, Y-nha-xô của bà!

 

Chú thích

(1) Cadière: Une princesse chrétienne B.A.V.H 1939

(2) Voyages et travaux de Missionnaires de la compagnie de Jésus… Mission de la Cochinchine et du Tonkin, par les P.P.F.M de Montez et Ed.Estève, Paris 1858.

(3) Trích dịch trong bài “Harvest Time” của Đức cha James E.Walsh, trong “Mission Bulletin”, Hong Khong, June 1954.

 

Tác giả Phạm Đình Khiêm