NGHỆ THUẬT CÔNG BỐ LỜI CHÚA (2)

NGHỆ THUẬT CÔNG BỐ LỜI CHÚA (2)

(Tiếp theo)

 

1.      “ Ta sẽ mở miệng cho ngươi”

Linh mục chủ tế vừa hoàn tất lời Tổng Nguyện. Cộng đoàn phụng vụ thưa: Amen, và mọi người ngồi xuống, trừ một người rời khỏi ghế và chậm rãi đi về hướng giảng đài để đọc bài đọc thứ I (BĐ1). Mọi người đều biết anh: anh “hai lúa” của họ đạo mình. Tiếng anh hơi đục, nặng – giọng của người bắc di cư ! anh bình tĩnh, bước lên bục đọc sách và mở miệng “Bài trích sách…”, những gì anh đọc đều rõ ràng.

Người đàn ông này không phải là Ê-dê-ki-en: anh là người giáo dân tốt, cha của một gia đình. Tuy nhiên, khi anh đi lên giảng đài để đọc sách, có cái gì đó đến với anh như đã từng đến với ngôn sứ thời xưa:

“ Nhưng khi nào Ta phán với ngươi, Ta sẽ mở miệng cho ngươi và ngươi sẽ nói với chúng: Ðức Chúa là Chúa Thượng phán thế này…” (Ed 3, 27).

Bất cứ người đọc sách nào (nam hay nữ), bất kể bài đọc nào được chọn, thì người đọc được đặt trong tình huống này: Chúa nói với người ấy, Chúa mở miệng người ấy, Chúa trao cho người ấy sứ mệnh nói với con người (cộng đoàn) trong chất giọng của người ấy (Bắc, Trung, Nam…).

“Khi nào Ta phán với ngươi…”, như vậy, trước khi là người đọc sách, anh đã là người nghe Chúa nói với anh. Người đọc phải là một người được tuyển chọn, vì khi đọc, chính là lúc người ấy nói nhân danh Chúa. Có thể người đọc sẽ rất lo lắng vào thời điểm đang công bố Lời Chúa, Lời Chúa được thốt ra từ chính miệng của mình! Nhưng, từ rất nhiều ngày trước, anh đã được chỉ định để đọc sách, anh đã chuẩn bị, dò bài đọc trước, suy gẫm bài đọc. Các Lời bài đọc đã hiện diện trong anh.

“Ta sẽ mở miệng cho ngươi…”. Người đọc sách này là ai bất kỳ! Không ai có thể nghe được tiếng Chúa, và cũng không ai thấy Người (x. Ga 1,8), nhưng, chính Người đang nói với chúng ta, Người mở miệng một người trong chúng ta.

“ ngươi sẽ nói với chúng…” người đọc sách không nói về chính mình. Chúng ta nghe chính âm giọng của họ, nhưng đó Lời của Thiên Chúa. Người đọc không lựa chọn từ ngữ, hình ảnh hay văn phong. Họ phục vụ Chúa, Đấng muốn nói với Dân Người qua việc mượn chất giọng của con người.

“Đức Chúa phán…” Công Đồng Vatican II, trong Hiến Chế Phụng Vụ số 7 xác định về sự hiện diện của Chúa Kitô giữa cộng đoàn phunng vụ qua nhiều cách thế:

“ Người hiện diện trong Lời của Ngài, bởi vì chính Ngài nói khi chúng ta đọc Kinh Thánh trong Hội Thánh”.

 

2. Từ Lời đến quyển sách

Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài” (Dt 1, 1-2).

Như vậy, đã từ lâu Thiên Chúa nói. Người không bao giờ ngưng nói. Từ những ngày đầu của công trình sáng tạo “Chúa phán: hãy có ánh sáng! và có ánh sáng”. Đến thời sau hết, Người nói với chúng ta qua “Thánh Tử”, Lời của Người, “Ngôi Lời đã trở nên xác phàm” (Ga 1,14).

Để không một lời nào của Người phán ra bị mất đi, Chúa đã mượn tay các thợ khắc, các kinh sư, các văn sĩ để đánh dấu một nơi chốn, ghi lại một quyển sách, để con người thuộc mọi thời đại, mọi nơi có thể tưởng niệm và thực hiện Lời của Người.

 

3. Từ quyển sách đến Lời

Nhưng đây là một quyển sách! Oh, chắc hẳn, nói được tôn trọng hơn mọi sách khác! Đây chính là “Sách”: một quyển sách mà chúng ta tôn kính, xông hương, thắp sáng…nhưng đây cũng chỉ là một quyển sách và một quyển sách thì không phải là lời. Lời được chứa đựng trong sách, nhưng là “lời câm”. Cần phải cho “lời câm” này một chất giọng.

“Ta sẽ mở miệng ngươi…” và đây chính là tính năng tuyệt vời đã được trao phó cho người đọc sách: Chúa đã phán; Lời của Người được ghi lại. Cần phải làm cho Thánh Kinh trở thành Lời. Chúng ta hiểu rõ điều này. Nó không đơn giản là mở quyển sách, vạch một trang và đọc lớn tiếng. Nhưng cần phải cho những chữ được đọc “nói” với tất cả người nghe. Người đọc sách cần phải đọc sao cho người nghe có thể tự nhủ rằng: “Nhờ bởi giọng đọc mà tôi nghe Chúa đang nói với tôi ngày hôm nay.”

Bổn mạng của thừa tác viên đọc sách không phải là thánh Giê-rô-mi-nô (người dịch Kinh Thánh sang Latinh), cũng không phải là thánh Gioan Kim Khẩu (người giảng thuyết lừng danh), nhưng bổn mạng của thừa tác viên đọc sách chính là Chúa Giêsu. Chúng ta hãy nghe Ngài đọc:

“(14) Ðược quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Ðức Giêsu trở về miền Galilê, và tiếng tăm Người đồn ra khắp vùng lân cận. (15) Người giảng dạy trong các hội đường của họ, và được mọi người tôn vinh.

 (16) Rồi Ðức Giêsu đến Nadarét, là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sabát, và đứng lên đọc Sách Thánh. (17) Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ Isaia. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng:

(18) Thần Khí Chúa ngự trên tôi,

vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi,

để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.

Người đã sai tôi đi công bố

cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha,

cho người mù biết họ được sáng mắt,

trả lại tự do cho người bị áp bức,

(19) công bố một năm hồng ân của Chúa.

(20) Ðức Giêsu cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. (21) Người bắt đầu nói với họ: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe". (22) Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người.” (Lc 4, 14-21)

Cho phép Thánh Kinh trở thành Lời cho ngày hôm nay, đó chính là chức năng của thừa tác viên đọc sách. Chức năng này chính Chúa Giêsu đã thi hành.

“ Các bài đọc lấy từ Thánh Kinh, cùng với các bài hát xen giữa, tạo nên phần chính của phụng vụ Lời Chúa; còn bài diễn giảng, kinh Tin Kính và lời nguyện cho mọi người, cũng gọi là lời nguyện tín hữu, khai triển và kết thúc phần này. Qua các bài đọc, được bài diễn giảng giải thích, Thiên Chúa nói với dân Ngài. Ngài mạc khải mầu nhiệm cứu chuộc và ơn cứu độ, đồng thời cung cấp lương thực thiêng liêng; chính Ðức Ki-tô dùng lời của mình mà hiện diện giữa các tín hữu. Nhờ thinh lặng và các bài hát, dân chúng làm cho Lời Chúa thành của mình; nhờ lời tuyên xưng đức tin, họ gắn bó với Lời Chúa; và khi được Lời Chúa nuôi dưỡng, nhờ lời nguyện cho mọi người, họ cầu xin cho các nhu cầu của Hội Thánh và cho cả thế giới được cứu độ.”[1]

4. Lời trở thành xác phàm

“Ngôi Lời đã trở nên người phàm, và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14)

Vào ngày Truyền Tin, Ngôi Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa, Lời của Người, đã trở thành xác phàm, đã thụ thai trong lòng Trinh Nữ Maria. Biến cố Lời thần thiêng thụ thai, giờ đây đã đi vào lịch sử cứu độ. Và kể từ biến cố phục sinh, Chúa Kitô không còn bị giới hạn trong con người Giêsu nữa. Qua bí tích Rửa Tội, người tín hữu trở thành chi thể trong Thân Thể. Nhờ bí tích Thánh Thể, họ “trở thành cái mà họ lãnh nhận”, nói như thánh Augustinô, nghĩa là người tín hữu trở thành Thân Thể của Chúa Kitô.

Sự kết hợp cũng xảy ra nhờ Lời Chúa. Chúa Phục Sinh không chỉ hiện diện bên cạnh người môn đệ, nhưng trong họ. Người trao nộp chính mình cho họ để họ trở thành Thân Thể Người. Người trao ban cho họ Lời của Người để chính họ cũng trở thành Lời của Người, để sau cùng họ cũng trao ban chính thân xác mình cho Lời của Người.

Qua giọng đọc, thừa tác viên đọc sách trao ban thân xác mình cho bản văn Thánh Kinh để nó trở thành Lời của Chúa. Trong khi nghe Lời được công bố, mỗi thành viên của cộng đoàn và toàn thể cộng đoàn đón nhận điều mà Thiên Chúa muốn nói với thế giới cũng như đón nhận sứ mạng trở thành “tiếng” sẽ nói cho thế giới.

Người tín hữu đã được thanh tẩy trong Chúa Kitô “Vua, tư tế và ngôn sứ”. Phụng vụ Lời Chúa là thời điểm nổi bật để thực hiện sứ mệnh của Chúa Kitô ngôn sứ, Đấng đã làm cho các Kitô hữu thành “thân thể ngôn sứ” của Người trong thế giới ngày nay.

 

 

Lm. Gs Lê Ngọc Ngà

 

(còn tiếp)

 


 

[1] QCTQ, số 55.