TÌM HIỂU TIN MỪNG MARCO CHƯƠNG 4

CHUỖI THỨ HAI: NHỮNG DỤ NGÔN

BÀI 22: DỤ NGÔN NGƯỜI GIEO GIỐNG (4,1-9)

1. Giải thích

c 1 – “ở bờ hồ”: nơi Đức Giêsu thường gặp gỡ dân chúng. Phần Đức Giêsu thì “ngồi thuyền”. vì dân quá đông ở trên bờ, nhưng Mc cũng có ý cho thấy cảnh trang trọng, tư thế ngồi của Đức Giêsu giống tư thế các Rabbi đang giảng dạy. Chi tiết “ở bờ hồ” đối lại với chi tiết “khi Đức Giêsu ở riêng một mình” (c 10) cho thấy dụ ngôn này (và nhiều dụ ngôn khác nữa) gồm có phần nói chung với dân chúng và phần giải thích riêng cho các môn đệ.

c 3 – “các ngươi hãy lắng nghe”: ở cuối dụ ngôn, Đức Giêsu lại kêu gọi “ai có tai nghe được thì nghe”. Hai lần kêu gọi như thế cho thấy dụ ngôn hàm chứa những điều khó hiểu (vì liên quan đến Mầu Nhiệm Nước Trời), do đó phải chú ý tìm hiểu.

          - “Kìa người gieo giống ra đi” (sortir), ám chỉ Đức Giêsu là kẻ từ cung lòng Chúa Cha ra đi đến trần gian để loan báo Tin Mừng (1,38).

c 8 – Thứ tự các con số tăng dần từ 30,60 và 100 (khác với thứ tự đi xuống trong Mt 13,8), ngụ ý lạc quan.

3. Kết luận

1/ Chính Đức Giêsu là người ra đi từ cung lòng Chúa Cha để gieo hạt giống Tin Mừng. Ban đầu Ngài gặp nhiều khó khăn cản trở: bởi Satan, biệt phái, thông giáo và bởi cả những người bà con của Ngài. Nhưng chắc chắn tương lai rất hứa hẹn.

2/ Khi ghi lại dụ ngôn này, Mc cũng muốn an ủi các tín hữu mình trong giáo đoàn Rôma đang gặp rất nhiều khó khăn.

 

BÀI 23: LÝ DO ĐỨC GIÊSU DÙNG DỤ NGÔN (4,10-12)

1. Vấn đề:

          Những câu này khiến người đọc hiểu rằng Đức Giêsu mặc dù giảng dạy dân chúng nhưng muốn dành riêng cho các môn đệ hiểu, còn dân chúng thì không được hiểu ”kẻo họ ăn năn và được tha thứ”. Thực ra ta phải ghi nhận điều này là Đức Giêsu không bao giờ muốn che dấu sứ điệp của Ngài cho dân chúng và ngăn cản những kẻ “ở bên ngoài” ăn năn sám hối, trái lại những dụ ngôn của Ngài kêy gọi dân chúng khám phá mầu nhiệm Nước Trời.

           Nhưng chúng ta cũng phải biết hoàn cảnh của giáo đoàn Mc ở Rôma khỏang năm 70 (là lúc Mc soạn Tin Mừng): sứ điệp của Đức Giêsu đã thất bại ở Palestina, đa số người Do thái không đón nhận, chỉ có một thiểu số đón nhận là các môn đệ.

          Cần lưu ý đến 2 sự kiện trên thì mới giải thích đúng dụ ngôn này.

2. Giải thích

c 10 – Khi Đức Giêsu ở riêng một mình thì không chỉ nhóm 12, mà có cả “những kẻ chung quanh Ngài” tới hỏi ý nghĩa của dụ ngôn. Đây chính là gia đình thật của Đức Giêsu, những người muốn tìm hiểu thánh ý Chúa Cha để thi hành (3,35). Họ là những người “ở trong” và được bày tỏ cho biết tất cả mầu nhiệm Nước Trời, dù họ là Do thái hay dân ngoại cũng vậy. Ngược lại là những kẻ “ở ngoài”, đó là những người không chấp nhận sứ điệp của Đức Giêsu. Chính vì họ không chấp nhận nên họ không hiểu. Lỗi là tại họ, Phaolô đã mô tả việc này rất đúng như sau: Đức Giêsu chịu đóng đinh “là cớ vấp phạm cho người Do thái, là sự điên rồ đối với người ngoại” (1Cr 1,23)

c 12 – Người Kitô hữu đã tìm hiểu lỳ do của tình trạng đó. Họ chạy tới Thánh Kinh. Và họ đã gặp được lời giải đáp trong sách Isaia: Việc Israel từ chối Đấng Messia đã được dự trù trong chương trình của Thiên Chúa (Cv 13,44-48). Cũng như Isaia ngày xưa đã gặp rất nhiều thất bại tạm thời thì Đức Giêsu ngày nay cũng gặp thất bại, tuy nhiên đừng thất vọng, vì dụ ngôn người gieo giống đã hứa hẹn một tương lai tươi đẹp (4,1-9).

          - Phàn thứ hai của câu trích Isaia có nhiều người dịch là: “Kẻo họ ăn năn trở lại và được tha thứ”. Thực ra “kẻo” (sinon) không có ghi mục đích (Đức Giêsu, Thiên Chúa muốn cho người ta đừng ăn năn), mà có nghĩa hậu quả: vì họ nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu, cho nên họ không ăn năn trở lại và không được tha thứ. Đây cũng là lời cảnh cáo đồng thời là lời khuyến khích tín hữu hãy cố gắng hiểu Lời Chúa.

 

BÀI 24: GIẢI THÍCH DỤ NGÔN NGƯỜI GIEO GIỐNG (4,13-20)

c 13 – Lần đầu tiên  đề cập đến chủ đề các môn đệ không hiểu. Đây là một chủ đề quen thuộc trong Tân Ước (Mc 6,52  7,18  8,17.18.20.33 9,10-32  10,38).

c 14 – “Lời”: Trong GH sơ khai “Lời” có nghĩa tương đương với Tin Mừng. Chú ý chữ Lời được dùng tới 8 lần trong đoạn ngắn này.

c 15 – Từ câu này, Đức Giêsu giải thích ý nghĩa dụ ngôn. Trong dụ ngôn, trọng tâm là sự phong phú của Lời. Nhưng sang phần giải thích thì trọng tâm đổi sang những trạng thái tâm hồn của người nghe.

          Có 8 hạng người mà Lời không sinh hiệu quả

          * Những kẻ bị Satan phá.

          * Những kẻ không kiên trì trong gian truân và bắt bớ.

          * Những kẻ lo lắng chuyện thế gian và quá ham mê của cải vật chất.

          Nhưng cũng có hạng người mà Lời sinh hiệu quả phong phú, đó là những kẻ đón nhận và đem Lời ra thi hành.

*** Lời giải thích này vừa cảnh giác tín hữ hãy coi chứng những yếu tố có thể gây hại cho Lời, vừa khuyến khích họ hãy biết đón nhận và đem Lời ra thi hành.

 

BÀI 25: DỤ NGÔN CÂY ĐÈN (4,21-23)

c 21 – “Họ”:  cũng là những người đã nghe dụ ngôn trước, tức là những kẻ chung quanh Ngài: không chỉ nhóm 12, mà còn tất cả những ai đang nghe Ngài. Ở đây Mc cũng muốn gồm những tín hữu giáo đoàn Rôma.

          - “Đến”: động từ này dùng cho cây đèn thì kỳ lạ, nhưng Mc ám chỉ việc Đức Giêsu đến

c 22 – “Không gì dấu kín mãi mà không lộ ra, không gì dấu lâu mà sau không biết”: ám chỉ đến: 1/ Tin Mừng; 2/ Mầu nhiệm Nước Trời; 3/ Bản thân Đức Giêsu.

          - Ý nghĩa dụ ngôn: Đức Giêsu đem Tin Mừng đến trần gian, giảng dạy về Nước Trời, thành lập GH. Ngài không muốn những điều trên dành riêng cho một nhóm nười nào riêng biệt, nhưng muốn thông ban cho mọi người. Riêng các Kitô hữu, họ phải sống sao cho người ta nhìn vào mà nhận ra Tin Mừng Nước Trời. Họ đã được hưởng ánh sang Tin Mừng thì họ đừng giữ cho riêng mình, đừng dập tắt, trái lại phải tìm cách làm lan tỏa ánh sang đó ra chung quanh.

c 23 – Một lần nữa Đức Giêsu kêu gọi “ai có ai nghe được thì hãy nghe”: phải chú ý để Lời Ngài khỏi ra vô ích.

 

BÀI 26: DỤ NGÔN CÁI ĐẤU (4,24-25)

c 24 - Đức Giêsu bắt đầu bằng lời khuyến cáo hãy coi chừng về sự nghe, sau đó dùng hình ảnh cái đấu để giải thích. Đấu là đồ người ta dùng để đong. Có Đức Giêsu muốn nói rằng ai càng biết lắng nghe Lời thì càng được ban nhiều, ngược lại ai không đón nghe Lời thì chẳng được gì cả.

c 25 – Những người có mà còn được cho thêm có lẽlà các tín hữu chăm nghe Lời Chúa; còn những người không có mà cái gì họ có cũng bị lấy đi có lẽ là những người Do thái.

 

BÀI 27: DỤ NGÔN HẠT GIỐNG (4,26-29)

*** Dụ ngôn này chỉ một mình Mc ghi lại.

c 26 – Câu đầu tiên của dụ ngôn không xác định rõ thính giả như dụ ngôn trước. Có lẽ lần này Đức Giêsu nói với đám đông dân chúng chứ không phải với một nhóm ở chung quanh Ngài. Câu cuối cùng của loạt bài dụ ngôn khiến ta có thể hiểu như vậy (4,33).

c 27 – “Về Nước Chúa”: Chính Đức Giêsu xác định dụ ngôn này là so sánh cho ta hiểu về mầu nhiệm Nước Chúa.

          - Đức Giêsu dùng hình ảnh nghề nông với tất cả các giai đoạn: gieo, nảy mầm, mọc lên, sinh hoa trái. Nhưng trọng tâm là khâu nào? Là sức lớn tự nhiên của Nước Chúa dù cho hoàn cảnh bên ngoài có thế nào đi nữa.

          - Ý nghĩa dụ ngôn:

                    1/ Đức Giêsu trấn an các môn đệ rằng thế nào Nước Chúa cũng phát triển mạnh mẽ.

                   2/ Mc cũng khuyến khích các tín hữu giáo đoàn Rôma để họ đừng nản chí trước những khó khăn nhất thời.

c 29 – Dụ ngôn kết thúc với hình ảnh mùa gặt: dù con người phản ứng thế nào trước Tin Mừng, Thiên Chúa vẫn kiên trì thực hiện cho đến cùng kế hoạch của Ngài. Thật là một tương lai đầy an ủi.

 

BÀI 28: DỤ NGÔN HẠT CẢI (4,30-34)

c 30 – Thính giả cũng như dụ ngôn trên. Và đối tượng so sánh cũng là Nước Chúa.

c 31 – Điểm riêng biệt của dụ ngôn này không những là sức phát triển tự nhiên của Nước Chúa, mà còn là sức phát triển vô địch: một hạt cải bé tí xíu mà lớn thành một cây to.

c 32 – “Chim trời có thể nương thân núp bóng”: Hình ảnh này quen thuộc trong Cựu Ước (Ed 17,23  31,6; Dn 4,9-18): Nước Chúa sẽ phổ cập tới muôn dân muôn nước.

c 34 – Các môn đệ nhờ liên kết với Đức Giêsu nên có thể hiểu sâu xa hơn dân chúng.

 

4 HÀNH VI QUYỀN NĂNG CỦA ĐỨC GIÊSU

          Qua những hành vi quyền năng này, Mc muốn chứng minh rằng Vương triều Thiên Chúa không chỉ thể hiện bằng lời giảng dạy của Đức Giêsu mà còn bằng hành động của Ngài.

          4 hành vi quyền năng này được sắp xếp theo một thứ tự địa dư có tính toán: trước tiên Đức Giêsu dẫn các môn đệ đi qua hồ Ghênêzarét và có việc làm cho bão tố yên lặng. Từ bờ phía Tây Đức Giêsu đi sang bờ phía Đông là phần được gọi là Thập tỉnh, phần đất của dân ngoại, ở đó diễn ra việc cứu một người bị quỷ ám ở Ghêrasa. Rồi Ngài trở về phần đất của Israel và cứu sống con gái ông Giairô và chữa bệnh cho một phụ nữ bị băng huyết.

 

BÀI 29: BÃO TỐ LẶNG YÊN (4,35-41)

1. Giải thích

c 35 – “Ngay hôm đó”: Mc xếp những hành vi quyền năng vào cùng một ngày với việc Đức Giêsu đi rao giảng nhằm cho thấy sức mạnh của Vương triều Thiên Chúa tỏ ra trong cả giáo huấn lẫn việc làm của Đức Giêsu.

          - “Đức Giêsu liền bảo”: sáng kiến này là của Đức Giêsu.

          - “khi chiều đã xuống”: sang kiến dùng thuyền đi trên hồ như thế thật là táo bạo, vì:

          a) hồ này thường có bão, mà bão ban chiều thì nguy hiểm hơn ban ngày.

          b) người ta tin rằng bão là sào huyệt của những sức mạnh gian tà, và các sức mạnh này hay nổi dậy vào ban đêm.

          - “sang bờ hồ bên kia”: bờ phía Tây, vùng đất của dân ngoại thù địch.

c 37 – “Cơn bão tố ầm ầm”: Hồ này thường bị bão và lốc nổi lên đột ngột khi những luồng gió từ Địa Trung Hải và Syri chạm nhau. Mc cho thấy sự nguy hiểm đang đe dọa con thuyền, vì “sóng tạt cả vào khoang làm thuyền đầy nước”.

c 38 – Nhưng Đức Giêsu vẫn gối đầu nằm ngủ. Đây là cái ghế đằng lái, dành cho tài công, có lót nệm.

c 39 – “Hăm đe gió”: Động từ này được Mc dùng trong những tường thuật trừ tà (1,25).

          - “Truyền lệnh cho biển”:  việc làm này là của Thiên Chúa.

c 41 – “Các con chưa có lòng tin hay sao?”: Đây là lòng tin vào quyền năng của Thiên Chúa hoạt động trong Đức Giêsu.

          - “kinh hoàng sợ hãi”: sự sợ hãi thánh khi đứng trước uy quyền của Thiên Chúa.

2. Ý nghĩa

1/ Tất cả câu chuyện diễn tiến trong bầu khí căng thẳng, hiểm nguy, để làm nổi bật phần kết thanh thản bình an và câu hỏi “Ngài là ai mà cả gió và biển cũng phải vâng phục?”

2/ Chuyện này như tóm tắt số phận của Đức Giêsu: cả cuộc đời Ngài là một cuộc chiến đấu với thế lực gian tà giữa biển cả thế gian này. Thánh Kinh lại hay dùng giấc ngủ để diễn tả cái chết. Đức Giêsu ngủ tượng trưng rằng Ngài sẽ bị chết. Ngài đi vào cõi chết một cách bình an thanh thản, trong khi đó các môn đệ sợ hãi cuống cuồng. Ở đây cũng như sau này khi Đức Giêsu ở trên thập giá, sự thiếu đức tin của các môn đệ hiện ra rõ ràng. Nhưng sau đó Đức Giêsu “thức dậy”, đây cũng là động từ chỉ việc phục sinh, Đức Giêsu sẽ sống lại.

3/ Câu hỏi “Ngài là ai mà cả gió và biển cũng phải vâng phục” đã hạm chứa câu trả lời: Trong Thánh Kinh, chỉ có Thiên Chúa mới có quyền chế ngự được biển cả của sự chết (Tv 107,23-30).

4/ Mc cũng có hai bài học muốn nhắn gởi giáo đoàn của ông:

          a) họ đang bị bách hại, như là bị bao vây bởi bão tố trong khi Đức Giêsu xem ra như ngủ. Mc an ủi rằng thế nào Ngài cũng “thức dậy”.

          b) bão tố nổi lên ngay khi Đức Giêsu quyết định dẫn các môn đệ mình ra đi truyền giáo ở miền lương dân. Phải chăng các tín hữu của giáo đoàn Rôma cũng coi việc đem Tin Mừng cho lương dân là một công việc nguy hiểm.