GIA ĐÌNH VỚI NGHĨA VỤ THƯƠNG XÓT

GIA ĐÌNH VỚI NGHĨA VỤ THƯƠNG XÓT

Trong bài giảng lễ 14.6.2016 tại Vũng Áng của Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp, có đoạn như sau: “Chưa bao giờ bạo lực học đường tràn lan và công khai như hôm nay…. chưa bao giờ người dân Việt Nam xử ác, xử tệ với nhau như vậy. Chưa bao giờ con người Việt Nam bạo động, nóng nảy như vậy. Chỉ cần nhìn lại đường phố, chỉ cần nhìn lại giao thông, chỉ cần một va chạm nhỏ là sừng sộ với nhau, chửi bới nhau để rồi cuối cùng đi đến án mạng, thương tích, đâu còn tình nghĩa đồng bào, đâu còn những giá trị văn hóa tâm linh xưa kia…”

Thư chung HĐGMVN 2017 cũng có đoạn như sau: “Làm sao không âu lo trước tình hình đạo đức xuống cấp nghiêm trọng, tội ác gia tăng không những về số lượng mà cả về mức độ dã man, phá thai và nghiện ngập tràn lan, nhất là nơi giới trẻ! (2).

Qua các thông tin trên báo chí và các trang mạng, chúng ta càng rõ hơn về sự tha hóa hôm nay, người ta làm ngơ trước những nỗi đau khổ của người khác; người ta dã tâm chiếm hữu của cải của người khác vì những lợi ích cá nhân của mình; người ta không ngần ngại bằng mọi hình thức đã chà đạp lên nhân phẩm, sự sống của người khác, sống vô tâm, vô cảm…

Cũng qua những phương tiện truyền thông, cùng những điều tai nghe mắt thấy trong cuộc sống mỗi ngày, chúng ta phải chua chát nhận thấy một thực tế đau lòng: đó là các mối quan hệ trong rất nhiều gia đình đang trở nên lỏng lẻo, mong manh; không thiếu những cảnh xào xáo, xung đột nơi gia đình giữa các thế hệ, giữa anh chị em với nhau, đưa tới bạo hành, ly thân, ly dị.

Sự khủng hoảng và rạn nứt này luôn luôn là mối bận tâm mục vụ của Giáo Hội. Điều càng này thúc đẩy các gia đình Kito hữu thể hiện nghĩa vụ lòng thương xót, không chỉ giữa các thế hệ trong gia đình, mà còn phải vươn ra xa hơn nữa. Như men trong bột, gia đình Kitô giáo phải làm dậy lên lòng thương xót trong mọi môi trường sống của mình. Trước tiên nghĩa vụ thương xót phải được thực hiện ngay trong đời sống gia đình, sau đó hướng đến một gia đình rộng lớn hơn bao gồm mọi thành phần trong xã hội.

I. TRONG GIA ĐÌNH

1. Gương Chúa Giêsu

Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người trong khung cảnh mái ấm gia đình Nazarét, khiêm tốn vâng lời Thánh Giuse và Đức Maria. Chính từ trong nền giáo dục đầy yêu thương của mái ấm gia đình Nazareth, Ngài đã học cách sống yêu thương và vâng phục thánh ý của Thiên Chúa.

Ngài xác tín về tầm quan trọng của bầu khí yêu thương và giáo dục của gia đình: “Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt” (Mt 7, 16). Chính Ngài đã thánh hóa tình yêu vợ chồng, thánh hóa mối tương quan giữa cha mẹ với con cái, các anh chị em với nhau và ông bà với cháu chắt (FC 3&15).

2. Giáo huấn của Giáo hội.

a. Gia đình Kitô hữu là cộng đoàn phục vụ con người (FC 63).

Khi nói về Những Bổn Phận của Gia Đình Kitô hữu, Đức GP II đã xác định: Gia đình Kitô hữu là cộng đoàn phục vụ con người. Cũng như Đức Kitô thực thi vương quyền của Người bằng cách đem thân phục vụ con người; Kitô hữu tìm được ý nghĩa đích thực của việc dự phần vào vương quyền của Chúa mình bằng cách chia sẻ tinh thần và thái độ phục vụ con người của chính Chúa.

b.Toàn bộ đời sống gia đình là một “mục vụ” với lòng thương xót” (AL 322).

Khi bàn về linh đạo Hôn nhân và Gia đình, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tuyên bố: “Toàn bộ đời sống gia đình là một “mục vụ” với lòng thương xót”. Từ đó, ngài kêu gọi “Chúng ta hãy chăm sóc nhau, nâng đỡ nhau và khích lệ nhau, đồng thời hãy sống tất cả những điều này như thành phần linh đạo gia đình của chúng ta”.

Ngài cho biết, mỗi chúng ta đều khắc họa vào cuộc đời của người khác bằng sự chăm sóc của mình, nhằm giúp họ thăng tiến. Đó là một cách thờ phượng Thiên Chúa, Đấng đã gieo rất nhiều điều tốt lành nơi người khác với hi vọng chúng ta sẽ làm cho nó triển nở.

c.Gia đình Kitô hữu: dấu chỉ sống động của Tình Yêu Thiên Chúa

[1].

Xuất phát từ tâm tình trên, HĐGM Việt Nam cổ võ việc phát huy tình yêu thương giữa các thành phần “hạt nhân” trong gia đình: “Mối tương quan giữa vợ chồng, cha mẹ và con cái cũng như giữa anh chị em với nhau, phải là dấu chỉ sống động của Tình Yêu Thiên Chúa. Vì thế, các gia đình công giáo phải loại bỏ mọi thứ bạo hành, “hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa, nhẫn nại, chịu đựng và tha thứ cho nhau” (Cl  3,12-13).

Đàng khác, Hội thánh tha thiết mời gọi các gia đình can đảm chống lại những xu hướng thế tục muốn giảm thiểu, hay loại trừ những thành phần yếu đuối, vốn rất dễ trở thành nạn nhân của sự thờ ơ, thiếu tôn trọng hay bỏ rơi trong gia đình, như người cao niên, hay trẻ em và thai nhi: “Hội Thánh không thể và không muốn đi theo một tâm thức vô cảm, hay dửng dưng với và khinh miệt, đối với tuổi già. Chúng ta phải đánh động cảm thức tập thể về lòng biết ơn, quý trọng, hiếu khách, làm cho những người cao niên cảm thấy mình là một thành phần sống động trong cộng đoàn... Người cao niên là những người cha và mẹ, đã từng đi trước chúng ta trên cùng một con đường, sống trong cùng một ngôi nhà của chúng ta, chiến đấu trong cùng một cuộc chiến hàng ngày của chúng ta hầu mưu tìm một cuộc sống xứng đáng”[2].Hội Thánh thách thức nền văn hóa đào thải bởi một niềm vui tràn trề qua vòng tay mới mẻ ôm chặt giữa người trẻ và người già” (AL 191). Quả thực, gia đình là nơi chốn để Tình yêu Thiên Chúa trở nên hữu hình, hiện thực và sống động.

3. Cách thức thể hiện lòng thương xót

a. Nhận ra Đức Kitô nơi nhau (AL 323).

Cần chiêm ngắm từng người thân trong gia đình bằng đôi mắt của Thiên Chúa và nhận ra Đức Kitô nơi họ. Điều này đòi hỏi một sự sẵn sàng đáp ứng cách vô cầu, giúp ta quí trọng phẩm giá của họ. Người ta chỉ có thể hiện diện trọn vẹn với một người nếu biết hiến thân không vì một lí do nào khác và quên đi mọi chuyện xảy ra xung quanh. Đức Giêsu là mẫu gương về điều này, bởi vì khi bất cứ người nào đến nói chuyện với Người, Người đều chăm chú nhìn và đem lòng yêu thương (x. Mc 10, 21).

Đây là điều chúng ta kinh nghiệm trong đời sống hằng ngày của gia đình. Trong đó chúng ta được nhắc nhở rằng mỗi người sống bên ta đều xứng đáng được ta lưu tâm cách tận tình, vì họ có phẩm giá vô hạn: là đối tượng của tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Từ đó sẽ nảy sinh sự dịu dàng vốn có thể “khơi lên trong lòng người khác niềm vui cảm thấy mình được yêu thương. Sự dịu dàng được diễn tả một cách đặc biệt trong việc quan tâm cách tinh tế trước những hạn chế của người khác”.

b. Luôn trở về với lòng thương xót của Thiên Chúa

“Giữa một thế hệ gian tà và sa đọa”, các gia đình Kitô hữu cũng không tránh khỏi những ảnh hưởng nặng nề của tội lỗi. Tội làm đổ vỡ mối hiệp thông giao ước, làm sứt mẻ tình nghĩa gia đình. Tội là một sự thất bại, vì không thể yêu thương nhau như Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta. Tội lỗi khiến ta xa lạc với Thiên Chúa và gia đình. Vì thế, cần liên tục hoán cải, trở về với tình yêu Thiên Chúa, cũng là trở về với tình yêu gia đình.

Rất may Chúa còn để lại một phương dược chữa lành tội nhân: bí tích Sám hối hay Hòa giải. Bí tích này cần được sống nhiều hơn và sâu hơn trong thời đại quay về với Lòng Thương Xót của Chúa như ngày nay. Khiêm tốn nhận ra mình là tội nhân yếu đuối, tin tưởng vào lòng từ bi, nhẫn nại và hay thương xót của Chúa, các đôi vợ chồng biết mình được yêu thương tha thứ thì cũng tha thứ cho nhau, và để Thần Khí của ơn tha thứ chan hòa biến đổi cả gia đình, và lan tỏa ra các gia đình xung quanh.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói:“Chúa không bao giờ mệt mỏi vì tha thứ.Chính chúng ta mới mệt mỏi vì đã không khẩn xin tha thứ”

[3].

 

II. NGOÀI GIA ĐÌNH

1. Gương Chúa Giêsu

Khi thi hành sứ vụ công khai, Chúa Giêsu bày tỏ mối quan tâm đặc biệt đến đời sống gia đình: dấu lạ đầu tiên Người thực hiện là tại tiệc cưới Cana để giúp đôi tân hôn vượt qua khó khăn (x. Ga 2,1-11); Người chia sẻ tình bạn với gia đình ông Lazarô (x. Lc 10,38); đến thăm gia đình ông Phêrô (x.Mc 8,14); chia sẻ nỗi niềm với các gia đình đang chịu thử thách (x. Mc 5,41; Lc 7,14-15). 

Mọi lời Ngài nói, mọi việc Ngài làm, mọi phép lạ Ngài thực hiện đều nhằm biểu lộ lòng thương xót của Thiên Chúa. Vì thế, đi đến đâu là Ngài thi ân giáng phúc đến đó. Điều này đã được ngôn sứ Isaia tiên báo: “Nơi đây sẽ không còn nghe tiếng than khóc kêu la. Nơi đây sẽ không còn trẻ sơ sinh chết yểu và người già tuổi thọ không tròn…” (Is 65,19-20). Và chính Ngài cũng đã quả quyết: “Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).

2. Giáo huấn của Giáo hội

a. Hướng đến một gia đình rộng lớn hơn (AL 187).

Giáo hội đề cao việc khắng khít và tăng tiến sự hiệp thông giữa các mối tương quan và các thế hệ trong gia đình, gia tộc: “Gia đình là hạt nhân cần tương tác với gia đình rộng lớn hơn được hình thành bởi cha mẹ, cậu mợ, chú bác, cô dì, họ hàng thân quyến và hàng xóm láng giềng. Đại gia đình này có thể có những thành viên cần phải giúp đỡ hay ít ra cần sự đồng hành và tình cảm, hay an ủi khi đau khổ”.

Được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, gia đình không chỉ đón nhận sự sống trong phạm vi gia đình, nhưng còn mở ra, đi ra khỏi chính mình để tuôn ban những thiện ích của mình cho người khác, và để quan tâm chăm sóc họ và tìm kiếm hạnh phúc cho họ.

Chính trong ý hướng đó mà gia đình cần đào tạo những con người biết yêu thương và là sống tình yêu trong mọi tương quan với người khác, bằng cách gia đình không tự khép kín nhưng mở rộng ra cho cộng đồng, nhờ ý thức về công lý và sự quan tâm lo cho người khác (FC 64).

Sự cởi mở này được thể hiện đặc biệt nơi lòng hiếu khách, như Lời Chúa khơi gợi và khích lệ: “Anh em đừng quên tỏ lòng hiếu khách, vì nhờ vậy, có những người đã được tiếp đón các thiên thần mà không biết” (Dt 13,2).

b. Đặc biệt hướng đến người nghèo hèn, yếu đuối và tội lỗi

Một khi gia đình rộng mở đón tiếp và đi đến gặp gỡ những người khác, nhất là người nghèo và người bị bỏ rơi, thì đó là “biểu hiệu, chứng từ và là sự tham dự vào thiên chức làm mẹ của Hội thánh” (AL 324). Thực tế, không gia đình nào là hoàn hảo và được kiện toàn một lần dứt khoát, nhưng đòi hỏi một sự phát triển tiệm tiến khả năng yêu thương của mình. Vì thế, ta không còn đòi hỏi các mối tương quan liên vị của chúng ta phải hoàn hảo, không xét đoán khắc nghiệt những ai sống trong các hoàn cảnh chênh vênh (AL 325). Hơn nữa, còn phải biết cảm thương những con người yếu đuối, tránh ngược đãi và thiếu kiên nhẫn (AL 308).

Không được quên rằng, thương xót không chỉ là hành động của Chúa Cha, nhưng nó trở thành tiêu chuẩn để biết ai là thật sự là con cái của Ngài (AL 310).

Cũng không nên đặt quá nhiều điều kiện cho lòng thương xót, đến nỗi làm mất đi cảm thức cụ thể và ý nghĩa thật sự của nó. Đúng là lòng thương xót không loại trừ công lý và sự thật, nhưng trước hết phải nói rằng lòng thương xót là sự viên mãn của công lí sự biểu tỏ rạng ngời nhất của chân lí về Thiên Chúa (AL 311).

3. Nhận ra hình ảnh Thiên Chúa nơi mỗi anh chị em (FC 64)

Theo lệnh truyền mới của tình yêu, gia đình Kitô hữu tiếp đón, kính trọng, phục vụ mọi người, luôn luôn nhìn mọi người trong phẩm giá của họ như những ngôi vị và như con cái Thiên Chúa. Lòng bác ái vượt quá vòng huynh đệ cùng đức tin bởi vì "mọi người đều là anh em tôi", lòng bác ái biết nhận ra nơi mỗi người khuôn mặt của Đức Kitô, và là một người anh em mình phải yêu mến và phục vụ, nhất là khi họ nghèo túng, yếu đuối, đau khổ hay bị đối xử bất công.

Để thực thi bác ái mà không sợ một chỉ trích nào và để thấy rõ được là bác ái đích thực, cần phải nhìn thấy nơi tha nhân hình ảnh của Thiên Chúa, vì họ đã được dựng nên theo hình ảnh Ngài, cũng như nhìn thấy nơi họ chính Đức Kitô Chúa chúng ta, vì khi ta cho người nghèo điều gì cũng chính là cho Đức Kitô điều ấy.

 

4. Những thực hành cụ thể

Trong tâm thư của HĐGMVN 2016 nói về Gia đình với nghĩa vụ thương xót như sau: Chúa Giêsu một đàng đưa ra lí tưởng rất cao về đời sống hôn nhân và đàng khác, Người lại bày tỏ sự cảm thông và gần gũi trước những yếu đuối của con người như trường hợp người phụ nữ xứ Samaria hoặc người nữ phạm tội ngoại tình. Theo gương Chúa Giêsu, các gia đình Công giáo được kêu gọi chăm sóc mục vụ cho các gia đình khác”. Từ tâm tình đó, tâm thư của HĐGMVN đã đề nghị những thực hành cụ thể như sau (11):

- Đồng hành với những gia đình di dân: vì hoàn cảnh kinh tế, rất nhiều gia đình phải rời bỏ làng quê để tìm kế sinh nhai trong những thành phố lớn. Phần lớn gặp nhiều khó khăn trong việc làm ăn, sinh hoạt gia đình, giáo dục con cái. Về mặt đức tin, nhiều khi họ cũng gặp khó khăn trong việc hội nhập cộng đoàn giáo xứ mới. Vì thế, chúng ta phải mở rộng vòng tay đón tiếp, để các gia đình di dân cảm nhận cộng đoàn giáo xứ là nhà của họ, nơi đó đức tin được nuôi dưỡng, lòng mến được vun trồng, và tin tưởng bước tới tương lai ngay giữa những khó khăn thử thách.

- Đồng hành với những cặp hôn nhân khác đạo: Tại Việt Nam, tỷ lệ người Công giáo chỉ là 7%, hơn nữa các bạn trẻ ngày nay sống và làm việc trong những môi trường chỉ có rất ít người Công giáo, do đó hôn nhân khác đạo sẽ gia tăng. Khó khăn riêng của những gia đình này là không cùng niềm tin tôn giáo, ảnh hưởng đến cả việc giáo dục con cái trong gia đình. Vì thế, chúng ta cần đồng hành với những gia đình này, để nâng đỡ người vợ hoặc chồng Công giáo trong đời sống đức tin.

- Đồng hành với những gia đình bị đổ vỡ: Ly thân và ly dị chỉ được xem như lối thoát cuối cùng, sau khi mọi nỗ lực hòa giải đã thất bại. Tuy nhiên nhiều người rơi vào tình trạng này vì hoàn cảnh bất đắc dĩ chứ không hoàn toàn do lỗi riêng của họ. Vì thế chúng ta cần cảm thông và đồng hành hơn là loại trừ họ, cách riêng trong việc nuôi dạy con cái, vì trẻ thơ chính là thành phần chịu thiệt thòi nhiều nhất do những cuộc ly thân và ly dị. “Chăm sóc cho những người như thế không làm cho đức tin của cộng đoàn và việc làm chứng cho sự bất khả phân li của hôn nhân bị suy yếu đi, trái lại, chính trong sự chăm sóc này mà cộng đoàn thể hiện đức ái của mình” (AL 243).

- Dấn thân phục vụ mọi người không trừ ai: Lòng thương xót không có giới hạn, không đòi hỏi, lại càng không phân biệt hay chọn lựa đối tượng. Lòng thương xót phải luôn đặt chúng ta trong tình trạng sẵn sàng nâng đỡ và cứu giúp tất cả những ai đang sống trong hoàn cảnh khó khăn, ngặt nghèo, khốn khổ… Trong truyền thống lâu đời của Hội Thánh, những công việc của lòng thương xót gồm trong kinh 14 mối.

5. Noi gương Đức Maria, Mẹ của Lòng Thương Xót

Hơn ai hết, Mẹ Maria là người đầu tiên đón nhận Lòng Thương Xót của Thiên Chúa và cũng là sứ giả đầu tiên của Lòng Thương xót Chúa cho mọi người. Qua tiếng “Xin Vâng”, Mẹ không còn sống cho chính mình nữa, nhưng là hoàn toàn từ bỏ ý riêng để tín thác cho Thiên Chúa, và bước đi trong Thánh Ý Người.

Đón nhận tình yêu và lòng thương xót bao la từ Thiên Chúa, tâm hồn Mẹ ngập tràn niềm vui, niềm hạnh phúc và không ngừng cất cao lời tán tạ tri ân:“Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn! Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người”.

Mẹ đã thực hiện lòng thương xót một cách phi thường qua những công việc rất tầm thường. Mẹ đã sống và đồng hành với cuộc sống của nhân loại trong hành trình đức tin. Giữa những khó khăn thử thách, cũng như qua những biến cố vui buồn, Mẹ luôn biết cách để Lòng Thương Xót đụng chạm tới; bởi lẽ, Mẹ đã trải nghiệm sâu xa Lòng Thương Xót của Thiên Chúa qua mầu nhiệm Ngôi Lời làm người.

Dưới chân Thập giá, Mẹ đã nghiệm ra Lòng Thương Xót của Thiên Chúa không có giới hạn và mở ra cho hết mọi người, bất kể họ là ai. Qua mầu nhiệm Phục Sinh, Mẹ đã nhận thấy tình yêu hải hà của Chúa, là phục hồi phẩm giá nguyên thuỷ cho nhân loại, để hết thảy chúng sinh được hy vọng phục sinh. Và Mẹ đã trở thành Mẹ của Lòng Thương xót, và là máng thông ơn Thiên Chúa xuống cho nhân loại.

Theo gương Mẹ, chúng ta cùng lên đường, ra khỏi “vùng biên” của sự nhỏ nhoi, ích kỷ cá nhân, để đến với những người cần tới “lòng thương xót ”; có khi đó lại chính là những người thân đang sống bên, sống gần và sống chung quanh chúng ta, trong gia đình, trong cộng đoàn chúng ta, mà ta đã “vô tình ” lãng quên họ; có khi đó chính là cha, mẹ, vợ, chồng, con cái, anh chị em, thân hữu của chúng ta… Hơn ai hết, họ cần đến chúng ta, cần đến sự quan tâm, chia sẻ, lắng nghe, thấu hiểu, cảm thông, tha thứ và yêu thương của chúng ta, nhưng lắm lúc chúng ta lại thờ ơ dửng dưng trước nhu cầu khẩn thiết của họ.

Như Mẹ Maria đã ân cần chăm lo cho gia đình Nagiarét, để gia đình này và trở thành gia đình Thánh Gia, ngập tràn yêu thương và hạnh phúc, để từ mái ấm yêu thương này, Dung nhan Lòng Thương Xót của Thiên Chúa được tỏ hiện, được trao tặng cho nhân thế. Chúng ta cũng được mời gọi trở nên khí cụ của tình yêu và lòng thương xót Chúa trước hết cho chính những người thân yêu trong gia đình, bằng cách chu toàn phận sự của mình với tình thương và lòng nhiệt thành. Từ việc chu toàn trách vụ đó, chúng ta dấn thân sâu rộng hơn nữa trong tiến trình Phúc Âm hóa môi trường xã hội mình đang sống (TT 2016, 3).

Tạm kết

Đã từ hai ngàn năm, các gia đình Kitô hữu bởi chứng từ cuộc sống hằng ngày đã giúp bao nhiêu người trở lại với đức tin. Bằng cách sống “yêu thương trong những việc nhỏ” – cách mà các đôi vợ chồng chăm sóc cho nhau, nuôi dạy con cái, làm các việc thường ngày, và tỏ lòng nhân ái tử tế đối với mọi người xung quanh – các gia đình này đã chứng thực cho quyền năng biến đổi của ân sủng và vẻ đẹp của đời sống Kitô hữu.

Tâm thư HĐGMVN nhắn nhủ các gia đình Kitô hữu hãy làm gương cũng như tập cho con cái làm những việc của lòng thương xót. Chính những công việc đó sẽ huấn luyện con cái chúng ta trở nên những con người có lòng thương xót, biến đổi gia đình chúng ta thành ngôi nhà của lòng thương xót, góp phần làm chứng và giới thiệu dung nhan Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót (TT 12).

Lm. Thái Nguyên


 

[1] Hội Đồng GM Việt Nam, Thư chung, ngày 10/10/2013, số 6.

[2] ĐTC Phanxicô, Huấn dụ ngày 4.3.2015L’Osseervatore Romano, 5.3.2015, tr 8.

[3] Đgh Phanxicô, “Diễn từ Kinh truyền tin” Chúa nhật 17.03.2013.