TÔNG THƯ MANE NOBISCUM DOMINE

 

 

TÔNG THƯ MANE NOBISCUM DOMINE

 

 

(LẠY CHÚA, XIN Ở LẠI VỚI CHÚNG CON)

 

CỦA ĐỨC GIÁO HOÀNG GIOAN PHAOLÔ II

 

GỬI CHO CÁC GIÁM MỤC, LINH MỤC VÀ GIÁO DÂN

 

NHÂN DỊP NĂM THÁNH THỂ

 

Ngày 07 Tháng 10 Năm 2004

 

**

 

TOÁT LƯỢC TÔNG THƯ “MANE NOBISCUM DOMINE”

 

Tông thư MANE NOBISCUM DOMINE [Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con] được đức thánh cha Gioan Phaolô II cho công bố để khai mạc Năm Thánh Thể, từ ngày 07/10/2004 đến 07/10/2005.

 

Trước khi đi vào nội dung chính của Tông thư, chúng tôi mạn phép toát lược nội dung chính của Tông thư. Tiếp đến, chúng tôi xin chia sẻ một vài cảm nhận khi đọc Tông thư này. Phần cuối của tập tài liệu, chúng tôi dẫn thêm một vài kinh nguyện do thánh Tôma Aquinô soạn có liên quan đến bí tích Thánh Thể, ngõ hầu anh chị em có thêm những bản văn giúp cho việc cử hành Năm Thánh Thể này thêm sốt sắng và sinh động.

 

Ngoài phần dẫn nhập và kết luận, tông thư bao gồm bốn phần chính, được chia thành 31 số và dài khoảng 32 trang khổ giấy 15x21 (A5). Phần dẫn nhập phân tích sự kiện hai môn đệ trên đường đi Emmaus trong tâm trạng tuyệt vọng vì tưởng rằng Chúa của mình đã chết rồi. Bỗng dưng một Người Khách lạ xuất hiện và xin nhập đoàn với họ, sau một hành trình dài cùng nhau chuyện vãn, họ nhất định mời cho kỳ được Người khách lạ hãy dừng chân và đồng bàn với họ, lập tức họ nhận ra Vị Khách lạ ấy chính Đấng Phục sinh, ngay lúc Người bẻ bánh ! Đức thánh cha cũng dặn rằng, các giám mục giáo phận năm nay vẫn cứ thi hành những chương trình mục vụ đã thiết định cho Hội thánh địa phương, vì việc hoạch định trọn một năm để suy tôn Thánh Thể chẳng những không làm xáo trộn những sinh hoạt nội bộ của Hội thánh địa phương, nhưng còn chấp cánh cho những sinh hoạt ấy đi vào nhiệm cục cứu độ, nhờ những chiều kích rất phong phú và kỳ vĩ của Thánh Thể.

 

Phần thứ nhất của tông thư đặt năm Thánh Thể như là một cao trào tiếp nối truyền thống Công đồng Vaticanô II và năm thánh 2000. Đức thánh cha nêu rõ ước muốn dành trọn một năm để suy tôn Thánh Thể là một mối bận tâm vẫn canh cánh trong lòng người bấy lâu nay. Thật vậy, ngay từ năm đầu tiên lãnh trách vụ Mục tử coi sóc Hội thánh Công giáo hoàn vũ, người đã có nhã ý nêu ra đề tài này trong thông điệp Redemptor hominis, Đấng cứu chuộc con người. Và dồn dập vào những năm kế tiếp, những thông điệp và tông thư của người và vẫn nhắc đi nhắc lại chủ đề này dưới nhiều hình thức khác nhau[1]. Có thể nói, hầu như trong tất cả các văn kiện của mình, Đức thánh cha Gioan Phaolô đều không ngần ngại nhắc nhở rằng, việc suy tôn Thánh Thể vẫn được coi là nguồn mạch, bí quyết và là đỉnh cao của đời sống Kitô hữu. Thế nên, tông thư này ra đời chính là sự hội tụ những nguyện ước vẫn từng nhen nhúm trong tâm trí đức thánh cha về việc cử hành Thánh Thể. Hơn nữa, nhìn lại truyền thống của Hội thánh, Năm Thánh Thể cũng đã từng là ước vọng của các vị tiền nhiệm đức thánh cha, các giáo phụ lỗi lạc, và biết bao tâm hồn đã từng khắc khoải để mong được chiêm ngắm Dung Nhan Đấng Cứu độ đang ẩn mình trong Thánh Thể.

 

Phần thứ hai của tông thư khẳng định Thánh Thể là mầu nhiệm ánh sáng. Trong một thế giới đang bị những bóng đen của bạo lực, khủng bố, chiến tranh, đói nghèo, tham nhũng xâu xé, Thánh Thể lại trở thành nguồn ánh sáng chói loà để soi rọi lương tri nhân loại và đánh thức những tâm hồn ngái ngủ đang chập chờp trong những cơn ác mộng của sự dữ và khổ đau. Thật vậy, chính nhờ lời giải thích Kinh thánh của Vị Khách lạ, mà tâm trí ám độn của hai môn đệ đi Emmaus đã được khai sáng. Khi đồng bàn bẻ bánh, hai ông đã nhận ra dung mạo Đấng Phục sinh và tiếp tục đăng trình dấn thân cho sứ vụ cứu độ.

 

Phần thứ ba của tông thư coi Thánh Thể là nguồn mạch và biểu lộ tình hiệp thông. Trong một thế giới đang bị manh mún vì những ý hệ khác biệt và những chủ trương cực đoan, Thánh Thể lại hiện diện ở đó như một lời thúc giục nhân loại hãy làm hoà với nhau, cổ võ tình liên đới, kiến tạo hoà bình và dốc tâm xây dựng mối giao hảo huynh đệ. Nỗ lực này chỉ có thể được vun trồng cách bền bỉ, hiệu quả và rốt ráo nhờ mối thông hiệp thâm diệu của từng cá nhân với Thiên Chúa, nhờ việc cử hành Thánh Thể. Thật vậy, khi lãnh nhận Thánh Thể, người tín hữu được dự phần bàn tiệc thiên quốc ngay khi còn ở đời này và vì thế mà họ cũng được thông hiệp với nhau trong Nhiệm Thể thống nhất của Chúa Kitô. Nói cách khác, sự thông hiệp, xét như là một trong những chiều kích ưu việt của Thánh Thể, là sự hiệp thông đa phương giữa Thiên Chúa với con người và giữa con người với nhau. Như vậy, sống bí tích Thánh Thể mà chưa sẵn sàng thông hiệp với đồng loại, trong bất cứ tình cảnh nào, thì thử hỏi lối sống ấy có thực sự thấm nhuần chiều kích Thánh Thể chưa ? Ngược lại, là Kitô hữu, với một cuộc sống lúc nào cũng hồ hởi cổ võ tình liên đới, tha thiết xây dựng tình huynh đệ, quyết liệt đấu tranh cho công bằng xã hội… mà không khép mình thao luyện trong mái trường Thánh Thể, liệu những sinh hoạt thuần túy trần thế như vậy có đem lại hiệu quả chất lượng lâu bền cho tha nhân không ? Nhân đây, đức thánh cha cũng mời gọi các tín hữu hãy ý thức tầm quan trọng của ngày Chúa Nhật, và hãy dành ngày này để cử hành Thánh Thể cách xứng hợp.

 

Phần thứ tư của công thư xác quyết Thánh Thể chính là nguyên lý và dự phóng cho sứ mạng của Hội Thánh. Thật vậy, kẻ nào đã thực sự hưởng nếm hồng ân kỳ diệu nơi bàn tiệc Thánh Thể, kẻ ấy không thể không nói lên xác tín của mình về mầu nhiệm cực thánh này và còn nỗ lực chia sẻ xác tín ấy cho đồng loại nữa. Bằng chứng là hai môn đệ đi Emmaus lập tức đứng đậy và tiếp tục đăng trình theo Đức Kitô, sau khi hai vị đã cảm nghiệm được sự hiện diện của Đấng Phục sinh (Lc 24, 33). Thêm vào đó, hoa trái tất yếu của việc cử hành Thánh Thể ắt phải là tâm tình sẵn sàng phục vụ những anh chị em bé mọn. Thật vậy, thâm ý này đã hàm ngụ ngay từ khi thiết lập bí tích Thánh Thể, rằng Đức Giêsu đã chẳng cúi xuống và rửa chân cho các môn đệ đó sao ? Như vậy, dấu chỉ phục vụ người bé mọn chính là tiêu chí để lượng định xem việc chúng ta cử hành Thánh Thể có thành thật hay không ! Nói cách khác, sẽ thật là vô phép biết dường nào, nếu chúng ta vẫn ngày ngày cử hành Thánh Thể mà không toả sáng lòng mến, lòng mến ấy phải được biểu thị bằng việc chia sẻ những phúc lợi rất cụ thể của mình cho những anh chị em túng nghèo.

 

Phần kết của tông thư, đức thánh cha ngỏ lời hiệu triệu với mọi thành phần Dân Chúa, gồm giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ, giáo dân và đặc biệt là các bạn trẻ. Người tha thiết kêu mời Dân Chúa hãy tích cực hưởng ứng Năm Thánh Thể trong tâm tình cảm mến mầu nhiệm kỳ vĩ này, hãy hội nhập những chiều kích ưu việt của Thánh Thể vào cuộc sống và những sinh hoạt thường nhật của mình. Nguyện ước rất giản dị của người trong Năm Thánh Thể này là chớ gì mọi thành phần Dân Chúa từ nay sẽ cử hành Thánh Thể, ít là vào ngày Chúa nhật, cách cung kính và sinh động hơn, đồng thời, mong thay những hình thức suy tôn Thánh Thể ngoài thánh lễ sẽ gia tăng và đạt chất lượng. Đức thánh cha cũng không quên phó thác Năm Thánh Thể này cho đức Maria, bởi vì Mẹ chính là học viên tiên khởi rất chăm chỉ trong mái trường Thánh Thể. Khi có Mẹ cùng suy tôn Thánh Thể, chắc chắc chúng ta sẽ được gia tăng lòng sốt mến, dạn dĩ, trung tín và bền bỉ trên hành trình sứ vụ của Hội thánh.

 

 TÔNG THƯ MANE NOBISCUM DOMINE

 

 DẪN NHẬP. PAGEREF _Toc481242303 \h 3

I. TIẾP BƯỚC CÔNG ĐỒNG VÀ NĂM TOÀN XÁ.. PAGEREF _Toc481242304 \h 5

II. THÁNH THỂ LÀ MẦU NHIỆM ÁNH SÁNG.. PAGEREF _Toc481242305 \h 7

III. THÁNH THỂ LÀ NGUỒN MẠCH VÀ BIỂU LỘ TÌNH HIỆP THÔNG.. PAGEREF _Toc481242306 \h 10

IV. THÁNH THỂ LÀ NGUYÊN LÝ VÀ LÀ DỰ PHÓNG CỦA “SỨ VỤ”. PAGEREF _Toc481242307 \h 12

KẾT LUẬN.. PAGEREF _Toc481242308 \h 15

VÀI CẢM NHẬN SAU KHI ĐỌC TÔNG THƯ.. PAGEREF _Toc481242309 \h 17

MỘT SỐ KINH VỀ THÁNH THỂ DO THÁNH TÔMA AQUINÔ BIÊN SOẠN.. PAGEREF _Toc481242310 \h 19

 

 

DẪN NHẬP

 

1. “Lạy Chúa, xin ở lại với chúng con, vì trời đã xế chiều” (Lc 24,29). Đó là lời mời tha thiết của hai người môn đệ đang trên đường đi Emmaus vào chiều ngày lễ Phục sinh. Hai ông đã nhất tâm mời cho kỳ được Vị Khách đã nhập đoàn cùng đi với hai ông suốt con đường dài. Tâm trí đầy ắp ưu phiền, các ông bấy giờ chẳng mường tượng được Vị Khách Lạ kia lại chính là Thầy của mình, nay đã phục sinh. Thế nhưng, các ông đã cảm nghiệm “một nỗi khao khát cháy bỏng” và sâu xa (x. ibid., 32) lúc Người nói chuyện với các ông và “giải thích cho các ông hiểu Sách Thánh. Ánh sáng của Lời đã khai sáng những tâm hồn chai cứng và “đã mở mắt cho các ông” (x. ibid., 31). Giữa cảnh u ám chập choạng của ngày sắp tàn và sự tối tăm đang xâm chiếm lòng trí các ông, Vị Khách kia đã dọi một tia sáng, dấy lên niềm hy vọng và mở lòng cho các ông khát khao được ánh sáng trọn vẹn soi chiếu. Các ông đã khẩn khoản mời : “Xin Ngài ở lại với chúng tôi”. Và Vị Khách đã nhận lời. Chẳng mấy chốc, khuôn mặt Đức Giêsu đã biến đi, nhưng Thầy vẫn còn “ở lại” với họ, ẩn khuất trong sự kiện “bẻ bánh”. Chính sự kiện này đã khiến mắt các ông đã mở ra và nhận biết Người.

 

2. Bức ảnh các môn đệ đi Emmaus quả là một chỉ dẫn thích hợp cho suốt một Năm Hội Thánh dành riêng để đặc biệt chú tâm sống mầu nhiệm Thánh Thể. Trên một hành trình dày đặc những nghi ngại và âu lo, thậm chí cả những thất vọng não nề nữa, Vị Thượng Khách kia vẫn đang tiếp tục làm người bạn đường dẫn dắt chúng ta, cùng đọc Sách Thánh và giải thích cho ta hiểu các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Khi cuộc gặp gỡ trở thành toàn diện, tiếp theo sau ánh sáng của Lời là ánh sáng chiếu giãi từ “Bánh ban sự sống”, nhờ đó Đức Kitô thực hiện trọn vẹn lời hứa của Người là ở với chúng ta “mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).

 

3. Việc “bẻ bánh” – tên gọi Thánh Thể từ thời khai nguyên – xưa nay vẫn là trung tâm của đời sống Hội Thánh. Nhờ việc bẻ bánh, Đức Kitô làm cho mầu nhiệm thương khó và sự phục sinh của Người được hiện diện suốt dòng thời gian. Khi cử hành việc bẻ bánh, chính bản thân Người được đón nhận như là “bánh hằng sống từ trời xuống” (Ga 6,51) và, cùng với Người, bảo chứng sự sống vĩnh cửu được ban tặng cho chúng ta và nhờ đó ta được nếm trước bữa tiệc vĩnh cửu của Giêrusalem thiên quốc. Tiếp nối giáo huấn của các Giáo phụ, các Công đồng đại kết và cả các vị Tiền nhiệm của tôi, nhiều lần và mới đây trong thông điệp Ecclesia de Eucharistia, tôi đã mời gọi Hội Thánh cùng suy tôn Thánh Thể. Do đó, trong thư này, tôi không có ý nhắc lại giáo huấn ấy nữa, bởi tôi tin rằng thế nào giáo huấn ấy cũng sẽ được nghiên cứu và tìm hiểu một cách sâu rộng hơn. Tuy nhiên, tôi nghĩ việc xác định mục đích của tông thư này là mời gọi toàn thể dân Chúa dành trọn một Năm để suy tôn bí tích cực thánh là một việc làm rất hữu ích.

 

4. Như ta biết, Năm Thánh Thể sẽ diễn ra từ tháng mười năm 2004 đến tháng mười năm 2005. Ý tưởng về việc cử hành năm Thánh Thể này đến với tôi từ hai biến cố sẽ đánh dấu đầu năm và cuối năm này : Đại Hội Thánh Thể Quốc Tế diễn ra từ mồng 10 đến 17 tháng mười năm 2004 ở Guadalajara (Mêhicô), và Thượng hội đồng giám mục thường kỳ sẽ được tổ chức tại Vaticanô từ mồng 02 đến 29 tháng mười năm 2005, với đề tài “Thánh Thể : nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống và sứ vụ Hội Thánh”. Còn một nhận định khác khiến tôi đưa ra đề nghị này : Ngày Quốc tế Giới trẻ cũng sẽ diễn ra sang năm ở Cologne từ ngày 16 đến 21 tháng tám năm 2005. Tôi mong ước các bạn trẻ cùng quy tụ chung quanh Thánh Thể vì đó chính là nguồn sống dưỡng nuôi đức tin và lòng hăng say của các bạn. Thực ra, sáng kiến dành một năm để suy tôn Thánh Thể như vậy thỉnh thoảng vẫn loé lên trong tâm trí tôi, đó là sự tiến triển tất yếu của thúc bách mục vụ mà tôi đã có ý khơi lên trong Hội Thánh, đặc biệt từ những năm chuẩn bị cho Năm toàn xá và cả những năm sau đó nữa.

 

5. Trong tông thư này, tôi xin nhấn mạnh đến tính liên tục của sự tiến triển tất yếu này, hầu giúp mọi người gặt hái được ý nghĩa thiêng liêng của sự tiến triển ấy. Còn về việc thực hiện cụ thể Năm Thánh Thể, tôi trông vào thái độ quan tâm lo lắng của chính các vị mục tử trong các Hội Thánh địa phương, lòng sùng mộ của các vị đối với Bí tích cực trọng này sẽ khơi lên được những việc làm cụ thể. Ngoài ra, chắc chắn những người Anh em Giám mục của tôi sẽ hiểu rằng sáng kiến này, tiếp ngay sau khi Năm Kinh Mân côi vừa kết thúc, có ý dẫn đến một bình diện tâm linh sâu sắc hơn mà không làm xáo trộn các chương trình mục vụ của các Hội Thánh địa phương. Đúng hơn, sáng kiến này có thể soi sáng cho các chương trình ấy, và có thể nói, định hướng các chương trình ấy đi vào Mầu Nhiệm là nguồn mạch dưỡng nuôi đời sống thiêng liêng của các tín hữu cũng như của mỗi sáng kiến trong Hội Thánh địa phương. Vì thế, tôi không yêu cầu các Hội Thánh địa phương tạm ngưng các chương trình mục vụ đang được thực hiện, nhưng xin nhấn mạnh đến chiều kích Thánh Thể trong các chương trình ấy, vì đấy là chiều kích đặc nét của toàn thể đời sống Kitô hữu. Còn phần tôi, qua tông thư này, tôi xin nêu lên một số hướng dẫn căn bản, và tôi xác tín rằng Dân Thiên Chúa ở mọi cấp độ sẽ mau mắn đón nhận đề nghị của tôi với nhiệt tình và với lòng yêu mến nồng nhiệt.

 

I. TIẾP BƯỚC CÔNG ĐỒNG VÀ NĂM TOÀN XÁ

 

Cái nhìn hướng về Đức Kitô

 

6. Mười năm trước, qua Tông thư Tertio millennio adveniente [Ngàn năm thứ ba đang đến] (10/10/1994), tôi đã hân hoan đề ra cho Hội Thánh một chương trình chuẩn bị mừng Năm đại Toàn xá 2000. Bấy giờ, tôi thấy chính cơ hội đó trở nên như một ân huệ to lớn. Dĩ nhiên tôi không coi đó như là một biến cố xét về niên đại mà thôi, cho dù có nêu lên nhiều ý nghĩa, lại có thể tự nó kéo theo những thay đổi quan trọng. Nào ngờ Thiên niên kỷ mới lại bắt đầu bằng những sự kiện đầy bi kịch trong quá khứ và còn kéo theo những khía cạnh vô cùng tệ hại. Dù đã có những yếu tố khởi sắc, nhưng bộ mặt thế giới vẫn còn in đậm những vết nhăn của bạo lực và vấy máu, khiến chúng ta lúc nào cũng canh cánh một nỗi lo âu phiền muộn. Dầu vậy, khi mời Hội Thánh cử hành Năm toàn xá mừng hai ngàn năm Mầu nhiệm Nhập thể, tôi bấy giờ xác tín sâu xa - và đến hôm nay cũng vậy, hơn bao giờ hết - rằng việc cử hành Mầu nhiệm Nhập thể “về lâu về dài” sẽ đem lại ích lợi cho toàn thể nhân loại.

 

Thật vậy, Đức Kitô ngự giữa trung tâm không phải chỉ lịch sử của Hội Thánh mà thôi, nhưng còn giữa lịch sử của nhân loại nữa. Trong Người, vạn vật được quy tụ lại (x. Ep 1,10 ; Cl 1,15-20). Làm sao có thể quên được đà tiến nhờ đó Công đồng Vaticanô II, xin dẫn lời của Đức Phaolô VI, tuyên xưng rằng Đức Kitô là “cùng đích của lịch sử nhân loại, là điểm hội tụ những ước vọng của lịch sử và văn minh, là trung tâm của nhân loại, là niềm vui của mọi tâm hồn và là sự viên mãn của những gì lòng người khát vọng”[2]. Giáo huấn của Công đồng giúp chúng ta am tường bản chất của Hội Thánh một cách sâu sắc, gợi mở cho tín hữu một cảm thức trong sáng không chỉ về các mầu nhiệm đức tin mà cả những thực tại trần gian, khi họ nhìn đời bằng ánh mắt của Đức Kitô. Thực vậy, chính trong thân phận Ngôi Lời nhập thể, cả mầu nhiệm Thiên Chúa lẫn mầu nhiệm con người đều được khai sáng[3]. Nơi Người, nhân loại tìm thấy ơn cứu chuộc và sự thành tựu viên mãn.

 

7. Trong tông huấn Redemptor hominis [Đấng cứu độ nhân loại], lúc khởi đầu trách vụ Giáo hoàng, tôi đã triển khai chủ đề này, và tôi vẫn thường xuyên nhắc lại chủ đề ấy vào nhiều dịp khác nhau. Năm toàn xá là thời điểm thuận tiện để mời gọi các tín hữu một lần nữa hãy chú tâm chiêm ngắm chân lý nền tảng này. Việc chuẩn bị biến cố trọng đại đó hoàn toàn quy hướng về Chúa Ba Ngôi và tập trung vào Chúa Kitô. Dĩ nhiên, trong kế hoạch tổng quát như thế, Thánh Thể không thể bị bỏ quên. Nếu như hôm nay chúng ta chuẩn bị mừng Năm Thánh Thể, thì tôi xin nhắc lại rằng trong tông thư Tertio millennio adveniente [Ngàn năm thứ ba đang đến], tôi từng viết : “Năm 2000 sẽ là một năm Thánh Thể : trong bí tích Thánh Thể, Đấng Cứu thế, đã nhập thể trong lòng Đức Mẹ Maria hai mươi thế kỷ trước, vẫn đang tiếp tục dâng hiến bản thân Người để làm mạch suối tuôn chảy sự sống của Thiên Chúa cho nhân loại”[4]. Hội nghị Thánh Thể Quốc tế năm ấy được tổ chức tại Rôma đã góp phần định hướng tập trung vào chiều kích Thánh Thể nhân dịp cử hành Năm đại toàn xá. Tưởng cũng đáng nhắc lại rằng, để chuẩn bị đầy đủ cho Năm toàn xá, trong tông thư Dies Domini [Ngày Chúa nhật], tôi đã xin các tín hữu suy niệm đề tài “Ngày Chúa Nhật” như là ngày của Chúa phục sinh và là ngày đặc biệt của Hội Thánh. Khi ấy, tôi đã mời mọi tín hữu tái khám phá rằng chính việc cử hành Thánh Thể mới là trọng tâm của Ngày Chúa Nhật[5].

 

Cùng với Đức Maria chiêm ngưỡng dung nhan Chúa Kitô

 

8. Những thành quả Năm toàn xá phần nào đã được tóm lược trong tông thư Novo millennio ineunte [Bước vào thiên niên kỷ mới]. Trong văn kiện đại cương này, tôi đã gợi ý rằng cuộc dấn thân mục vụ nghiêm túc tiên vàn phải được đặt nền trên việc chiêm niệm dung nhan Đức Kitô, xét vì đó là đường lối sư phạm của Hội Thánh nhằm vươn tới “đỉnh cao” của bậc thánh đức, và tiếp đến, cuộc dấn thân mục vụ ấy phải được thể nghiệm bằng một đời sống đam mê cầu nguyện[6]. Như vậy, làm sao có thể hoàn thành cuộc dấn thân mục vụ được nếu không hết lòng gắn bó với việc cử hành phụng vụ và đặc biệt là việc tiếp nhận sức sống Thánh Thể ? Cho nên tôi đã viết : “Trong suốt thế kỷ hai mươi, nhất là từ sau Công đồng, đã có một sự phát triển sâu rộng về cách thức cộng đoàn Kitô hữu cử hành các bí tích, nhất là Thánh Thể. Nhất định phải tiếp tục triển khai theo chiều hướng này, và đặc biệt nhấn mạnh việc cử hành Thánh Thể ngày Chúa Nhật cũng như chính ngày Chúa Nhật, được cảm nghiệm như một ngày đặc biệt của đức tin, ngày của Chúa phục sinh và của ơn huệ Thánh Thần, một ngày lễ Vượt qua hằng tuần đích thực”[7]. Trong bối cảnh thao luyện đời sống cầu nguyện, tôi cũng đã đề nghị cử hành Các giờ kinh phụng vụ, nhờ kinh nguyện này Hội Thánh thánh hiến những giờ khắc khác nhau trong từng ngày và nhịp độ thời gian luân chuyển theo những điểm nhấn riêng trong từng năm phụng vụ.

 

9. Tiếp theo đó, với việc công bố Năm kinh Mân côi và phổ biến tông thư Rosarium Virginis Mariae, tôi đã nhắc lại chủ đề chiêm ngưỡng dung nhan của Đức Kitô khởi đi từ cái nhìn của Đức Maria, bằng cách một lần nữa khuyến khích đọc kinh Mân côi. Thật vậy, kinh nguyện truyền thống này đã được Huấn quyền nhắc nhở nhiều và được Dân Thiên Chúa rất mến chuộng, có một hương vị Kinh Thánh và Tin Mừng rõ rệt, tập trung chính yếu vào Danh hiệu và Dung nhan của Đức Giêsu, chăm chú chiêm niệm các mầu nhiệm bằng cách đọc đi đọc lại Kinh kính mừng. Cứ nhịp nhàng đọc đi đọc lại như thế, đó chính là một kiểu sư phạm vun trồng lòng mến, nhằm hun đúc tâm hồn mọi người bằng chính lòng mến Đức Maria đã cưu mang để dưỡng dục Con của Mẹ. Chính vì thế, khi khai triển thêm truyền thống ngàn đời của Hội Thánh bằng cách thêm vào các mầu nhiệm sự sáng, tôi đã cố gắng làm cho hình thức chiêm niệm ưu việt này càng đúng với tên gọi là “bản tóm lược Tin Mừng”[8] hơn. Và như vậy, lẽ nào không đặt Thánh Thể ở đỉnh cao của các mầu nhiệm sự sáng cho được ?

 

Từ Năm kinh Mân côi đến Năm Thánh Thể

 

10. Đúng vào giữa Năm kinh Mân côi, tôi đã công bố thông điệp Ecclesia de Eucharistia, có ý đề cao mầu nhiệm Thánh Thể trong tương quan không thể tách rời và sống động với Hội Thánh. Tôi đã thúc đẩy các tín hữu cử hành Hiến tế Thánh Thể với lòng sốt sắng xứng hợp với mầu nhiệm ấy, dâng cho Đức Giêsu đang hiện diện trong Thánh Thể, bất kể trong hay ngoài Thánh lễ, một tâm tình thờ phượng xứng đáng với bí tích rất cực trọng này. Nhất là tôi muốn gợi lên một lần nữa nhu cầu cần phải có một linh đạo Thánh Thể khi đề cao Đức Maria, “người phụ nữ của Thánh Thể”[9], làm gương mẫu.

 

Như vậy, Năm Thánh Thể đã được dệt trên một nền phong phú của những năm tháng đã trôi qua, trong khi vẫn luôn luôn tập trung vào chủ đề Đức Kitô và việc chiêm ngưỡng Dung nhan của Người. Theo một nghĩa nào đó, năm này như là một năm tổng hợp, nhắm tới đỉnh cao của một hành trình tiến bước. Hẳn là chúng ta có thể liệt kê ra nhiều cách để sống sung mãn năm này. Tuy nhiên, tôi chỉ muốn nêu lên một vài suy nghĩ có thể giúp mọi tín hữu cảm nghiệm được bí tích này cách sâu xa hơn và ích lợi hơn mà thôi.

 

II. THÁNH THỂ LÀ MẦU NHIỆM ÁNH SÁNG

 

“Người giải thích cho các ông những gì liên quan đến Người

trong tất cả Sách Thánh” (Lc 24,27)

 

11. Câu chuyện Đức Giêsu phục sinh hiện ra cho hai môn đệ đi Emmaus giúp chúng ta tập trung vào một khía cạnh tiêu biểu của mầu nhiệm Thánh Thể, khía cạnh luôn luôn phải có trong lòng sùng kính của Dân Thiên Chúa : Thánh Thể, mầu nhiệm ánh sáng ! Nói như thế nghĩa là gì và cụm từ đó hàm ý gì đối với linh đạo và đối với đời sống Kitô hữu ?

 

Đức Giêsu cho thấy chính Người là “ánh sáng của thế giới” (Ga 8,12), và phẩm cách đó hiện rõ trong những khoảnh khắc cuộc sống dương thế của Người, chẳng hạn trong cuộc Biến hình và cuộc Phục sinh. Trong những khoảnh khắc ấy, vinh quang Thiên Chúa của Người toả rạng. Nhưng trong Thánh Thể, vinh quang của Đức Kitô được che giấu. Bí tích Thánh Thể là “mầu nhiệm đức tin” tuyệt đỉnh. Như thế, chính trong mầu nhiệm ẩn giấu hoàn toàn, Đức Kitô lại trở thành mầu nhiệm ánh sáng, nhờ đó người tín hữu được dẫn đưa vào chiều sâu thăm thẳm của sự sống Thiên Chúa. Nhờ một trực giác bén nhạy, trong hoạ phẩm về Chúa Ba Ngôi, danh họa Rublev rõ ràng đặt Thánh Thể vào giữa trung tâm đời sống của Chúa Ba Ngôi.

 

12. Thánh Thể là ánh sáng tiên vàn bởi vì, trong mỗi Thánh lễ, phụng vụ Lời Thiên Chúa đi trước phụng vụ Thánh Thể, nhưng cả hai vẫn là một thể thống nhất gồm có hai bàn tiệc, một bàn là Lời và một bàn là Bánh. Sự liên tục này hiện rõ ở diễn từ Thánh Thể theo Tin Mừng thánh Gioan, trong đó lời loan báo của Đức Giêsu đi từ chỗ trình bày mầu nhiệm bản tính của Người đến chỗ toả ra chiều kích Thánh Thể : “Thịt tôi thật là của ăn và máu tôi thật là của uống” (Ga 6,55). Như ta đã biết, lời công bố trên đây đã khiến phần lớn thính giả đều thất vọng, khiến ông Phêrô phải đứng ra tuyên xưng niềm của các Tông đồ khác và của Hội Thánh ở mọi thời : “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68). Trong câu chuyện các môn đệ đi Emmaus, chính Đức Kitô can thiệp vào, “bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ”, để cho thấy rằng “tất cả Sách Thánh” đều dẫn tới mầu nhiệm ngôi vị của Người (x. Lc 24,27). Những lời của Người làm cho tâm hồn các môn đệ “bừng cháy”, kéo các ông ra khỏi bóng tối của buồn phiền và thất vọng, đồng thời khơi lên từ đáy lòng các ông ước muốn được ở lại với Người : “Xin ở lại với chúng con, lạy Chúa” (Lc 24,29).

 

13. Trong Hiến chế Sacrosanctum Concilium, các Nghị phụ Công đồng Vaticanô II đã muốn “Bàn tiệc Lời” ban tặng thật dồi dào cho các tín hữu những kho báu của Sách Thánh[10]. Chính vì thế, các ngài đã cho phép các bài đọc Kinh Thánh trong phụng vụ phải được công bố bằng ngôn ngữ mà mọi người có thể hiểu được. Bởi chưng, chính Đức Kitô nói khi Sách Thánh được công bố trong Hội thánh[11]. Đồng thời, các ngài cũng nhắc nhở vị chủ toạ rằng bài giảng, xét vì là thành phần toàn vẹn của phụng vụ, phải nhằm mục đích giải thích Lời Thiên Chúa và hiện tại hoá lời ấy cho đời sống Kitô hữu[12]. Bốn mươi năm sau Công đồng, Năm Thánh Thể hẳn sẽ là dịp quan trọng để các cộng đoàn Kitô hữu lượng định xem trong lãnh vực này mình đã tiến bộ tới đâu. Thật ra, các đoạn văn Kinh Thánh dẫu được công bố bằng ngôn ngữ bản địa vẫn chưa thoả đáng, nếu như việc công bố ấy không được thực hiện một cách nghiêm cẩn, có chuẩn bị chu đáo, được chăm chú lắng nghe, thầm lặng suy gẫm, những yếu tố này rất cần thiết để Lời Thiên Chúa tác động vào cuộc sống và soi rọi cuộc đời thính giả.

 

“Các ông đã nhận ra Người khi Người bẻ bánh” (Lc 24,35)

 

14. Trên đường đi Emmaus, nhờ lắng nghe Lời Chúa, hai môn đệ được chuẩn bị sẵn sàng, vừa đến lúc đồng bàn họ tức khắc nhận ra Người nhờ một cử điệu rất đơn giản đó là “bẻ bánh”, sự kiện này thật ý nghĩa biết chừng nào. Quả vậy, khi tâm trí được khai sáng và tâm hồn được hun đúc bừng cháy, các dấu chỉ bắt đầu “lên tiếng”. Thánh Thể tỏ mình trong khung cảnh các dấu chỉ sống động, các dấu chỉ ấy chuyển tải một thông điệp sung túc và minh bạch. Nhờ các dấu chỉ như thế mà, một cách nào đó, mầu nhiệm mở toang trước mắt người tín hữu.

 

Như tôi đã nhấn mạnh trong thông điệp Ecclesia de Eucharistia, điều quan trọng là đừng coi thường bất cứ một chiều kích nào của Bí tích này. Thật vậy, chúng ta thường bị cám dỗ giản lược Thánh Thể thành những chiều kích cá biệt của mình, trong khi đáng lẽ chính chúng ta mới là những người cần phải mở toang con người của mình để vươn tới những chiều kích của Mầu nhiệm này. Quả thực, “Thánh Thể là một hồng ân kỳ vĩ đến mức khó có thể chịu đựng nổi bất cứ lối diễn đạt hàm hồ và thái độ khinh suất nào của chúng ta”[13].

 

15. Chiều kích hiển nhiên nhất của Thánh Thể chắc chắn phải là chiều kích bữa tiệc. Thánh Thể ra đời vào tối ngày thứ năm Tuần Thánh, trong khung cảnh bữa tiệc Vượt qua. Vì thế, ý nghĩa đồng bàn là thành phần trong chính cấu trúc của Thánh Thể : “Anh em hãy cầm lấy mà ăn … Rồi Người cầm lấy chén … trao cho các ông mà nói : “Tất cả hãy uống chung chén này …” (Mt 26,26.27). Theo đó, ý nghĩa bàn tiệc diễn tả xác thực mối tương quan bằng hữu Thiên Chúa muốn thiết lập với chúng ta, và rồi, chính chúng ta cũng phải dựng xây mối giao hảo ấy với tha nhân.

 

Thế nhưng, chúng ta đừng quên rằng ý nghĩa sâu xa và then chốt của bàn tiệc Thánh Thể lại chính là hiến tế[14]. Nơi bàn tiệc Thánh Thể, Đức Kitô lại làm cho hiến tế đã thành toàn chỉ một lần cho mãi mãi trên đồi Gôngôtha xưa thành hiện thực giữa chúng ta. Tuy hiện diện trong Thánh Thể như là Đấng Phục sinh, Người vẫn mang những dấu tích cuộc thương khó. Do vậy, mỗi Thánh lễ là một “cuộc tưởng niệm”, như phụng vụ nhắc cho chúng ta nhớ trong lời tung hô sau truyền phép : “Lạy Chúa Giêsu, chúng con công bố sự kiện Chúa đã chết, chúng con hát mừng biến cố Chúa phục sinh …”. Đồng thời, đang khi hiện tại hóa những gì đã diễn ra trong quá khứ, Thánh Thể lại câu thúc chúng ta hướng về tương lai tức là việc Đức Kitô trở lại lần sau hết, lúc thời gian viên mãn. Khía cạnh “cánh chung” này làm cho Bí tích Thánh Thể trở thành một biến cố dẫn chúng ta tiến bước và thổi vào hành trình Kitô giáo một làn gió hy vọng.

 

“Thầy ở với anh em mọi ngày” (Mt 28,20)

 

16. Nhưng những chiều kích của Thánh Thể đó được đan kết với nhau trong một khía cạnh trổi vượt hơn bất kỳ một khía cạnh nào khác. Khía cạnh này là một thử thách cam go đối với niềm tin chúng ta : mầu nhiệm của sự hiện diện “thật”. Cùng với toàn thể truyền thống Hội Thánh, chúng ta tin rằng Đức Giêsu đang hiện diện thật trong phép Thánh Thể dưới hình bánh và hình rượu. Theo cách giải thích của Đức giáo hoàng Phaolô VI, sự hiện diện này tuy rất “thật”, nhưng không phải là sự hiện diện duy nhất đến mức loại trừ tất cả các hình thức hiện diện khác, mà là sự hiện diện tuyệt đẳng kỳ vĩ[15], bởi do sự hiện diện này, Đức Kitô hoàn toàn hiện diện theo bản thể trong thực tại là mình và máu Người[16]. Vì thế, trước Thánh Thể, đức tin đòi chúng ta phải vững lòng ý thức rằng chúng ta đang ở trước chính Đức Kitô. Chính vì Người hiện diện thật trong Thánh Thể mà tất cả những chiều kích khác của Thánh Thể như bữa tiệc, lễ tưởng niệm cuộc Vượt qua, tham dự trước vào tiệc cánh chung, đều mang nghĩa tuyệt đẳng, vượt xa những ý nghĩa biểu tượng thuần tuý. Thánh Thể là mầu nhiệm của sự hiện diện, nhờ đó lời Đức Giêsu hứa ở với chúng ta cho đến tận thế được thể nghiệm.

 

Cử hành, thờ lạy, chiêm ngưỡng

 

17. Thánh Thể là bí tích cực trọng ! Mầu nhiệm này trước hết phải được cử hành cách xứng hợp. Thánh lễ phải giữ vị trí trung tâm đời sống Kitô hữu và trong mỗi cộng đoàn, chúng ta gắng sức tối đa để Thánh lễ được cử hành một cách xứng đáng, tuân thủ những quy tắc đã ấn định, mọi thành viên trong cộng đoàn cùng cử hành, các thừa tác viên khác nhau hãy thi hành những phận vụ mà mình đã được ủy thác, và ý tứ chọn lọc những nhạc phẩm đã được liệt vào danh mục thánh nhạc, phù hợp với bầu khí “linh thánh”. Suốt Năm Thánh Thể này, tại mỗi cộng đoàn giáo xứ, có lẽ việc làm cụ thể là học hỏi sâu xa Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma. Cuối cùng, con đường ưu việt để đi vào mầu nhiệm cứu độ vẫn phải là kiên tâm bước theo diễn tiến của Năm phụng vụ một cách trung tín, bởi mầu nhiệm cứu độ ấy đã trở thành hiện tại qua các dấu chỉ “thánh thiêng”. Ước mong các vị Mục tử hãy nỗ lực khai triển một huấn giáo “có tính cách thần bí” vốn rất được các Giáo phụ quý chuộng, bởi huấn giáo này làm sáng tỏ ý nghĩa những cử điệu và lời xướng trong Phụng vụ, giúp các tín hữu vượt qua các dấu chỉ để vươn tới mầu nhiệm và càng ngày họ càng làm cho trọn cuộc đời mình bén rễ sâu vào trong mầu nhiệm này.

 

18. Một yêu cầu đặc biệt thích hợp, cả trong việc cử hành Thánh lễ lẫn trong việc tôn thờ Thánh Thể ngoài thánh lễ, đó là cần vun trồng một ý thức sống động về sự hiện diện đích thực của Đức Kitô, thể nghiệm ý thức ấy bằng lời ăn tiếng nói, phong cách đi đứng, và ý tứ trong mọi hành vi. Về điểm này, các quy tắc phụng vụ nhắc cho chúng ta nhớ - và chính tôi mới đây cũng đã nhắc lại[17] - là cần ý thức tầm quan trọng những lúc phải thinh lặng trong khi cử hành thánh lễ cũng như trong những dịp chầu Thánh Thể. Tóm lại, các thừa tác viên cũng như các tín hữu cần phải tỏ ra hết lòng kính trọng đối với Thánh Thể[18]. Sự hiện diện của Đức Giêsu trong nhà tạm phải nên như một thứ nam châm thu hút đông đảo càng ngày càng nhiều những tâm hồn ngưỡng mộ Người, sẵn lòng kiên nhẫn chờ đợi nghe tiếng Người và thậm chí nghe thấy cả nhịp đập trái tim Người nữa. “Hãy nếm thử và hãy nhìn xem : Chúa tốt lành biết dường nào” (Tv 33 [34],9).

 

Trong Năm này, ước chi việc tôn thờ Thánh Thể ngoài Thánh lễ là một mối quan tâm đặc biệt của các cộng đoàn giáo xứ và các cộng đoàn tu trì ! Chúng ta hãy ở lại lâu giờ, phủ phục trước Đức Giêsu đang hiện diện trong Thánh Thể, đem lòng tin và lòng mến của chúng ta đền bù những khoảnh khắc lơ là, những bổn phận thiếu sót, và cả những xúc phạm Đấng cứu thế của chúng ta phải chịu tại nhiều nơi trên thế giới. Ước gì trong khi tôn thờ như thế, chúng ta đào sâu đời sống chiêm niệm của cá nhân cũng như cộng đoàn, nhờ có những bản văn trợ giúp cầu nguyện luôn thấm đẫm Lời Thiên Chúa và nhờ kinh nghiệm của biết bao nhà thần bí từ trước đến nay ! Chính Kinh Mân côi, hiểu theo nghĩa thâm sâu nhất, vốn mang đậm nét Kinh Thánh và quy Kitô, lời kinh tôi đã nhắn nhủ trong tông thư Rosarium Virginis Mariae, sẽ là một phương thế rất phù hợp cho việc chiêm niệm Thánh Thể cùng với Đức Maria trong sự đồng hành và hướng dẫn của Mẹ[19].

 

Cũng trong Năm này, ước chi chúng ta hãy tỏ lòng sùng mộ đặc biệt mừng lễ trọng kính Mình và Máu thánh Chúa Kitô, bằng những cuộc rước kiệu truyền thống. Ước gì niềm tin vào Thiên Chúa là Đấng khi nhập thể đã trở thành người bạn đường của chúng ta được công bố ở bất cứ nơi nào, đặc biệt trên các đường phố và trong các mái ấm của chúng ta, như thể đó là cách chúng ta biểu tỏ lòng mộ mến tri ân và là nguồn suối phúc lành không bao giờ tát cạn được.

 

III. THÁNH THỂ LÀ NGUỒN MẠCH VÀ BIỂU LỘ TÌNH HIỆP THÔNG

 

“Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em” (Ga 15,4)

 

19. Trên đường đi Emmaus, khi các môn đệ nài xin Đức Giêsu ở lại với họ, Người trả lời bằng một ân huệ lớn lao hơn rất nhiều : Người tìm được cách để ở lại “nơi” họ nhờ Bí tích Thánh Thể. Đón nhận Thánh Thể, đó là đi vào hiệp thông sâu xa với Đức Giêsu, “hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em” (Ga 15,4). Mối tương quan do sự hiệp nhất thâm sâu và hỗ tương này cho chúng ta tham dự trước, một cách nào đó, những thực tại trên trời đang khi chúng ta còn ở dưới đất này. Đó chẳng phải là khát vọng lớn nhất của con người hay sao ? Đó chẳng phải là điều Thiên Chúa muốn khi thực hiện chương trình cứu độ của Người trong lịch sử sao ? Người đã đặt trong tâm hồn con người “cơn đói” Lời của Người (x. Am 8,11), một cơn đói chỉ có thể được thoả mãn nhờ sự kết hiệp trọn vẹn với Người. Khi rước Thánh Thể, tức là lãnh nhận Mình Máu Chúa Kitô, chúng ta được “no thoả” Thiên Chúa ngay trên cõi đời này, đang khi vẫn mong đợi cơn đói ấy sẽ được thoả thuê sung mãn trên thiên quốc.

 

Một tấm bánh, một thân thể

 

20. Thế nhưng, mối thâm giao đặc biệt, do việc “lãnh nhận” Thánh Thể đem lại, không thể được hiểu chính xác, cũng chẳng thể cảm nghiệm đầy đủ, nếu đương sự không thông hiệp với Hội Thánh. Đó là điều tôi đã nhiều lần nhấn mạnh trong thông điệp Ecclesia de Eucharistia. Hội Thánh là Thân Thể Đức Kitô : đang khi tiến bước cùng “với Đức Kitô”, quãng cách giữa chúng ta với Người còn xa hay gần là tùy mức độ chúng ta thông hiệp “với Thân Thể của Người”. Đức Kitô đã lo sáng tạo và tăng trưởng sự hiệp nhất này nhờ việc đổ tràn Thần Khí. Và chính Người cũng không ngừng kiến tạo mối dây hiệp nhất đó bằng sự hiện diện của Người trong Thánh Thể. Thực vậy, chính tấm bánh Thánh Thể duy nhất làm cho chúng ta thành một thân thể. Thánh Phaolô đã xác quyết điều ấy : “Bởi vì chỉ có một tấm bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ chỉ một bánh ấy, nên tuy nhiều người chúng ta chỉ là một thân thể (1 Cr 10,17). Trong mầu nhiệm Thánh Thể, Đức Giêsu xây dựng Hội Thánh thành một sự hiệp thông, thích đáng với khuôn mẫu tuyệt đẳng Người đã khởi xướng trong lời nguyện hiến tế : “Lạy Cha, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, xin cho họ cũng nên một trong chúng ta, để thế gian tin rằng Cha đã sai Con” (Ga 17,21).

 

21. Nếu Thánh Thể là nguồn mạch cho sự hiệp nhất của Hội Thánh, thì Thánh Thể cũng là sự biểu lộ lớn lao nhất về sự hiệp nhất này. Thánh Thể là hiện thân của hiệp thông. Chính vì thế mà Hội Thánh đặt ra những điều kiện cần thiết để được thông dự trọn vẹn vào việc Cử hành Thánh Thể[20]. Những ngăn trở cũng được nêu ra nhằm giúp chúng ta càng ngày càng ý thức hơn về tất cả bó buộc do sự hiệp thông đòi hỏi, và chính Đức Giêsu vẫn đang mời gọi chúng ta hướng tới sự hiệp thông đó. Trước tiên, đó là sự hiệp thông theo phẩm trật, đặt nền tảng trên sự ý thức về những vai trò và những thừa tác vụ khác nhau, và cũng không ngừng được xác định trong Kinh Tạ Ơn qua việc nhắc đến Đức giáo hoàng và Đức giám mục giáo phận. Tiếp đến, đó là sự hiệp thông huynh đệ, được nuôi dưỡng nhờ một “linh đạo hiệp thông”, thúc giục chúng ta hãy có những tâm tình rộng mở đón nhận nhau, cảm mến, hiểu biết và tha thứ cho nhau[21].

 

Chỉ có một lòng một ý (Cv 4,32)

 

22. Trong mỗi Thánh lễ, chúng ta được mời gọi trực diện với lý tưởng hiệp thông, được sách Công vụ Tông đồ đưa ra làm khuôn mẫu cho Hội Thánh mọi thời. Đây là Hội Thánh được quy tụ chung quanh các Tông Đồ, được Lời Thiên Chúa triệu tập, có khả năng chia sẻ không phải chỉ những tài sản tinh thần, mà cả những của cải vật chất nữa (x. Cv 2,42-47 ; 4,32-35). Trong Năm Thánh Thể này, Chúa mời gọi chúng ta xích lại gần sát tối đa với lý tưởng này. Ước chi mọi người ai nấy đều khao khát sống và cảm nghiệm sâu sắc những dịp thuận tiện do phụng vụ gợi lên dành cho “lễ trạm”, là thánh lễ do giám mục giáo phận cử hành tại nhà thờ chính toà của mình, có các linh mục, phó tế và mọi thành phần của Dân Thiên Chúa tham dự. Tại những dịp lễ như vậy, chúng ta sẽ nhìn thấy “diện mạo” chính yếu của Hội Thánh[22]. Thêm vào đó, tôi rất hoan nghênh những sáng kiến đề xuất thêm những dịp lễ khác nữa, ngay cả ở cấp giáo xứ, nhằm giúp các tín hữu gia tăng cảm thức hiệp thông và luôn kín múc được sức năng động tươi mới từ việc Cử hành Thánh Thể.

 

Ngày Chúa nhật

 

23. Trong năm này, tôi đặc biệt mong ước mọi người sẽ chú tâm cách riêng để tái khám phá và sống trọn vẹn Ngày Chúa Nhật như là Ngày của Chúa và là Ngày của Hội Thánh. Tôi lấy làm vui mừng nếu ai nấy suy gẫm lại những gì tôi đã viết trong tông thư Dies Domini. Thực vậy, “chính trong Thánh lễ Chúa Nhật, các Kitô hữu đặc biệt hồi tưởng lại những cảm nghiệm mãnh liệt của các Tông Đồ họp nhau vào buổi chiều ngày Vượt qua, khi Đấng phục sinh hiện ra trước mặt các ông (x. Ga 20,19). Trong hạt nhân nhỏ bé là các môn đệ, những hoa quả đầu mùa của Hội Thánh ấy đã hiện diện cách nào đó Dân Thiên Chúa thuộc mọi thời đại”[23].Suốt năm ân sủng này, các linh mục, qua hoạt động mục vụ của mình, cần chú tâm nhiều hơn nữa đến Thánh lễ Chúa Nhật, vì trong việc cử hành này, cộng đoàn giáo xứ trở nên một lòng một ý, và cũng cần để ý đến những nhóm, phong trào, hội đoàn khác nhau thường xuyên tham gia vào Thánh lễ này.

 

IV. THÁNH THỂ LÀ NGUYÊN LÝ VÀ LÀ DỰ PHÓNG CỦA “SỨ VỤ”

 

“Ngay lúc ấy, họ đứng dậy” (Lc 24,33)

 

24. Sau khi nhận ra Chúa, hai môn đệ Emmaus “đứng dậy ngay lúc ấy” (x. Lc 24,33) để đi loan báo điều họ đã thấy và đã nghe. Khi đã có một kinh nghiệm xác thực về Đấng phục sinh, được nuôi dưỡng bằng Mình và Máu Người, người ta không thể nào giữ riêng cho mình niềm vui mình đã cảm nếm. Việc gặp gỡ Đức Kitô, được vùi sâu thêm mãi trong sự hiệp thông Thánh Thể, sẽ khơi dậy trong Hội Thánh và nơi mỗi người Kitô hữu sự cấp thiết phải làm chứng và phải loan báo Tin Mừng. Tôi đã nhấn mạnh đến điều này trong bài giảng khi công bố Năm Thánh Thể, bằng cách dẫn lời thánh Phaolô : “Thật vậy, mỗi lần ăn bánh và uống chén này, anh em công bố sự kiện Chúa đã chết cho đến ngày Người đến” (1Cr 11,26). Thánh Tông Đồ nêu lên mối liên hệ chặt chẽ giữa bàn tiệc và việc loan báo : hiệp thông với Đức Kitô trong lễ tưởng niệm cuộc Vượt qua của Người cũng đồng thời có nghĩa là kinh nghiệm về nhu cầu nhất thiết phải trở thành những người được sai đi loan báo biến cố đã được hiện tại hoá trong nghi lễ này[24]. Lời chào kết thúc cuối mỗi thánh lễ chính là một trách nhiệm được trao cho người Kitô hữu, thúc đẩy người Kitô hữu dấn thân làm cho Tin Mừng lan toả và làm cho xã hội được thấm nhuần tinh thần Kitô giáo.

 

25. Với một sứ vụ như thế, Thánh Thể không chỉ đem lại sức mạnh nội tâm, nhưng còn – theo một ý nghĩa nào đó – mở ra một dự phóng. Thật vậy, Thánh Thể là một cách thức hiện hữu được chuyển từ Đức Kitô sang người Kitô hữu và, nhờ chứng tá của người Kitô hữu, được lan toả trong xã hội và trong văn hoá. Để yếu tố này trở thành hiện thực, mỗi tín hữu cần phải hấp thụ, qua việc suy niệm cá nhân và cộng đoàn, những giá trị được Thánh Thể diễn tả, những thái độ được Thánh Thể gợi mở, những cách giải quyết trong đời sống do Thánh Thể khơi dậy. Đến đây, lẽ nào chúng ta lại không nhận ra một trách nhiệm đặc biệt phát sinh từ Năm Thánh Thể ?

 

Tạ ơn

 

26. Một yếu tố nền tảng của dự phóng này xuất phát từ chính ý nghĩa của hạn từ “Thánh Thể” : “Tạ Ơn”. Nơi Đức Giêsu, trong hiến tế của Người, trong lời thưa “xin vâng” vô điều kiện của Người đối với thánh ý Chúa Cha, có tiếng “xin vâng”, tiếng “cảm ơn” và tiếng “amen” của toàn thể nhân loại. Hội Thánh được mời gọi để nhắc nhớ chân lý cao cả ấy cho toàn thể nhân loại. Đây là điều cấp thiết phải thực hiện, đặc biệt là trong nền văn hoá bị tục hoá của chúng ta, một nền văn hoá ám ảnh não trạng lãng quên Thiên Chúa và cổ võ thói tự mãn phù phiếm của con người. Đưa dự phóng Thánh Thể vào cuộc sống thường ngày, đến bất cứ nơi nào con người sinh sống và làm việc – trong gia đình, trường học, xí nghiệp, trong mọi môi trường sinh sống - có nghĩa là làm chứng rằng thực tại nhân loại không thể được chứng thực nếu không quy chiếu về Đấng Sáng tạo : “Không có Đấng Sáng tạo, thụ tạo sẽ tan thành mây khói”[25]. Điểm quy chiếu siêu việt này thúc giục chúng ta hãy cất lời “cảm ơn” liên lỉ về tất cả những gì chúng ta có và những gì chúng ta là. Nói cách khác, thái độ “Biết ơn” phải lẽ ấy không hề gia giảm tính độc lập xác đáng của những thực tại trần thế[26], nhưng hoạch định cho những thực tại ấy một vị trí rạch ròi hơn, đồng thời còn cho thấy những giới hạn tất nhiên của chúng.

 

Trong Năm Thánh Thể này, ước mong các Kitô hữu nỗ lực dấn thân hơn nữa để làm chứng về sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế giới ! Chúng ta đừng sợ nói về Thiên Chúa và hãy dạn dĩ nêu lên những chứng từ cho niềm của mình. “Nền văn hoá Thánh Thể” sẽ cổ vũ một nền văn hoá đối thoại, đồng thời mang đến cho nền văn hoá này sức mạnh và tố chất bổ dưỡng. Thật là nhầm lẫn khi cho rằng mọi quy chiếu công khai về đức tin đều có thể gây phương hại đến sự độc lập chính đáng của quốc gia và các thể chế dân sự, hoặc sẽ rất sai lầm nếu cứ hô hào lập trường bất bao dung. Nếu lịch sử đã chứng tỏ những sai lầm đó có thể xảy ra ngay cả giữa các tín hữu, như tôi đã có dịp nhìn nhận trong Năm toàn xá 2000, thì sai lầm đó không phải do “nguồn cội Kitô giáo”, nhưng là do sự bất đồng quan điểm giữa các Kitô hữu đang khi tất cả đều muốn trung thành với nguồn cội của mình. Người nào học thưa lời “cảm ơn” theo cách thức của Đức Kitô chịu đóng đinh thập giá, thì người ấy sẽ có thể là chứng nhân tử đạo, chứ không bao giờ lại là một tên đao phủ.

 

Con đường của tình liên đới

 

27. Thánh Thể không phải chỉ là một cách diễn tả sự hiệp thông trong đời sống của Hội thánh, nhưng còn là một dự phóng về tình liên đới cho toàn thể nhân loại. Trong việc cử hành Thánh Thể, Hội Thánh không ngừng canh tân ý thức của mình là “dấu chỉ và dụng cụ” không phải chỉ cho sự hiệp nhất sâu xa với Thiên Chúa nhưng còn cho sự hiệp nhất của toàn thể nhân loại nữa[27]. Mỗi Thánh lễ, dù được cử hành cách kín đáo hay tại một miền đất xa xôi nào trên thế giới, vẫn luôn luôn là dấu chỉ của sự phổ quát. Người Kitô hữu tham dự Thánh Thể thì nhờ Thánh Thể mà học biết trở thành những người kiến tạo sự hiệp thông, hoà bình và liên đới trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Hình ảnh về một thế giới của chúng ta bị xé rách, một thế giới đã khai mạc Thiên niên kỷ mới với cám cảnh khủng bố và bi kịch chiến tranh, hơn bao giờ hết, thế giới ấy vẫn thúc giục người Kitô hữu hãy học cho biết kinh nghiệm này : Thánh Thể đúng là một trường học tuyệt đẳng về hoà bình, nơi đây các thiện nam tín nữ, tuỳ theo mức độ đảm nhận trách nhiệm trong đời sống xã hội, văn hoá, chính trị, đang được đào tạo để trở thành những người kiến tạo bầu khí đối thoại và hiệp thông.

 

Phục vụ những người bé mọn

 

28. Còn một điểm nữa tôi muốn mọi người chú tâm đến bởi vì chính đây là chỗ đáng kể để cho thấy việc tham dự Thánh Thể, được cử hành trong cộng đoàn, có thành thực hay không : đó là sự thúc đẩy của Thánh Thể đối với cộng đoàn để dấn thân một cách thực tiễn nhằm kiến tạo một xã hội công bằng và huynh đệ hơn. Trong Thánh Thể, Thiên Chúa của chúng ta đã bày tỏ cách thức tối hậu của tình yêu, đảo lộn mọi tiêu chuẩn về quyền bính vẫn thường xuyên chi phối những mối tương giao của con người và quyết liệt khẳng định tiêu chuẩn phục vụ : “Ai muốn làm người đứng đầu thì phải làm người rốt hết và phục vụ mọi người” (Mc 9,15). Không phải là ngẫu nhiên khi chúng ta không thấy trình thuật thiết lập Thánh Thể trong Tin Mừng theo thánh Gioan, nhưng lại có câu chuyện về “việc rửa chân” (x. Ga 13,1-20) : Khi quỳ gối xuống rửa chân cho các môn đệ, Đức Giêsu đã giải thích một cách minh bạch ý nghĩa thâm thuý của Thánh Thể. Đến lượt mình, thánh Phaolô mạnh dạn khuyến cáo rằng, quả là vô phép lắm thay, nếu cứ liều lĩnh cử hành Thánh Thể mà không toả sáng lòng mến, lòng mến ấy được biểu lộ qua những việc chia sẻ rất cụ thể với những anh chị em túng nghèo (x. 1 Cr 11,17-22. 27-34).

 

Vậy hà cớ gì chúng ta lại không lấy Năm Thánh Thể này làm dịp thuận tiện để các cộng đoàn giáo phận và giáo xứ dấn thân vào một hoạt động cụ thể nào đó, nhờ tình huynh đệ thúc bách, nhằm giải trừ rốt ráo một trong muôn vàn hình thức túng nghèo đang hoành hành trong thế giới chúng ta ? Tôi nghĩ đến thảm họa đói kém đang đày đọa hàng trăm triệu con người, tôi nghĩ đến những căn bệnh đang tàn phá những quốc gia đang phát triển, đến cảnh neo đơn của những người cao niên, đến cảnh sống bấp bênh của những người thất nghiệp, đến nỗi thống khổ của những người di cư. Đó là những sự dữ đang hoành hành – dưới nhiều hình thức khác nhau – ngay cả tại những miền đất sung túc nhất. Chúng ta không thể dối lòng được đâu : chỉ nhờ tình yêu hỗ tương, và nhất là, nhờ vòng tay rộng mở chúng ta dành cho những anh chị em đang sống trong cảnh túng bấn, chúng ta mới được nhìn nhận là những người môn đệ chân chính của Đức Kitô (Ga 13,35 ; Mt 31,21-46). Đó là tiêu chí dùng để lượng định xem các cuộc cử hành Thánh Thể của chúng ta đã là chân thực hay chưa.

 

KẾT LUẬN

 

29. O Sacrum Convivium, in quo Christus sumitur ! Ôi yến tiệc Mình và Máu Thánh, Chúa Kitô thành lương thực nuôi ta  ! Năm Thánh Thể phát xuất từ tâm tình cảm phục đến kinh ngạc của Hội Thánh trước Mầu nhiệm kỳ vĩ này. Đó là một niềm cảm phục không ngừng xâm chiếm tâm trí tôi và từ đó đã xuất phát thông điệp Ecclesia de Eucharistia. Tôi cảm thấy như một ân sủng lớn lao vào năm thứ hai mươi bẩy của tôi trong vai trò kế vị thánh Phêrô, tôi có thể mời gọi toàn thể Hội Thánh chiêm ngắm, ca tụng và thờ lạy một cách rất đặc biệt Bí tích khôn tả này. Ước mong Năm Thánh Thể trở thành một dịp quý báu để mọi người ý thức hơn nữa về kho tàng vô giá Đức Kitô đã trao phó cho Hội Thánh. Chớ gì Năm này sẽ thành một động cơ thúc đẩy để việc cử hành Thánh Thể được sống động hơn và sốt sắng hơn, từ đó nảy sinh một cuộc sống Kitô giáo được biến đổi nhờ tình yêu.

 

Tùy theo phán đoán của các vị Mục tử tại các Hội Thánh địa phương, nhiều sáng kiến có lẽ sẽ được thực hiện theo viễn tượng này. Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích hẳn sẽ đưa ra những gợi ý và những đề nghị hữu ích về vấn đề này. Tuy nhiên, tôi không yêu cầu làm những việc khác thường, chỉ mong sao mọi sáng kiến đều phát xuất từ tinh thần nội tâm sâu xa. Nếu hoa trái của Năm này chỉ là việc cử hành Thánh lễ Chúa Nhật trong mọi cộng đoàn Kitô giáo sinh động và giúp cho việc tôn thờ Thánh Thể ngoài Thánh lễ được gia tăng, thì có lẽ Năm ân sủng này đã đạt được kết quả tốt đẹp rồi. Tuy nhiên, nên nhắm cao hơn chứ đừng chỉ bằng lòng với những mức độ tầm thường, vì biết rằng chúng ta có thể luôn luôn trông cậy vào sự trợ giúp của Thiên Chúa.

 

30. Anh em trong Hàng giám mục thân mến, tôi trao phó Năm này cho anh em, tin chắc rằng anh em sẽ đón nhận lời mời gọi của tôi với tất cả nhiệt tâm tông đồ.

 

Còn anh em, các linh mục, mỗi ngày anh em đọc lại những lời truyền phép và anh em là những chứng nhân đồng thời cũng là những người loan báo phép lạ tình yêu lớn lao đang diễn ra trên tay anh em, hãy để cho ân sủng của Năm đặc biệt này cật vấn anh em, bằng cách mỗi ngày cử hành Thánh lễ với niềm vui và lòng sốt sắng nhiệt thành của lần đầu tiên cũng như luôn sẵn sàng cầu nguyện trước nhà tạm.

 

Ước mong Năm này trở thành năm ân sủng cho anh em, các phó tế, anh em là những người dấn thân trong thừa tác vụ phục vụ Lời và phục vụ Bàn thờ. Cả anh em nữa, các người đọc sách và các người giúp lễ, các thừa tác viên cho rước lễ ngoại thường, anh em hãy luôn ý thức sống động về hồng ân được ban cho anh em trong các trách vụ phục vụ anh em được uỷ thác, để việc cử hành Thánh Thể được thực hiện cách xứng hợp.

 

Đặc biệt, tôi xin ngỏ lời với anh em là những linh mục tương lai : trong cuộc sống tại chủng viện, anh em hãy cố gắng để nghiệm thấy không những việc tham dự thánh lễ mỗi ngày, nhưng còn cả việc nán lại lâu giờ để nói chuyện với Chúa Giêsu Thánh Thể là việc êm đềm dịu ngọt.

 

Và với tất cả anh chị em, những người nam nữ sống đời thánh hiến : qua chính việc thánh hiến, anh chị em được mời gọi để chiêm ngưỡng lâu giờ hơn. Anh chị em hãy luôn nhớ rằng Chúa Giêsu trong nhà tạm chờ đợi anh chị em đến với Người, để đổ tràn vào tâm hồn anh chị em kinh nghiệm sâu xa về tình bằng hữu của Người. Chỉ có tình bằng hữu thân thiết ấy mới mang lại cho đời sống của anh chị em ý nghĩa trọn vẹn.

 

Với tất cả anh chị em, những người tín hữu, anh chị em hãy tái khám phá ra hồng ân Thánh Thể là ánh sáng và sức mạnh cho cuộc sống thường ngày của anh chị em trong thế giới, trong khi làm việc, và trong những cảnh huống thật khác nhau. Anh chị em hãy luôn khám phá lại hồng ân này để sống trọn vẹn vẻ đẹp và sứ mạng của nếp sống gia đình.

 

Sau cùng, tôi chờ đợi nhiều nơi anh chị em, các bạn trẻ, khi tôi nhắc lại với các bạn lời hẹn sẽ gặp lại nhau trong Ngày Quốc Tế Giới Trẻ tại Cologne. Đề tài của cuộc gặp gỡ này là : chúng ta đến thờ lạy Người (Mt 2,2) có thể gợi lên cho các bạn một thái độ cần có trong Năm Thánh Thể này. Khi gặp gỡ Đức Giêsu ẩn mình dưới hình bánh rượu, các bạn hãy mang đến tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ, của niềm hy vọng và khả năng yêu mến của các bạn.

 

31. Gương mẫu của các thánh ở trước mắt chúng ta. Trong Thánh Thể, các ngài đã tìm được lương thực cho con đường hoàn thiện của mình. Biết bao nhiêu lần các ngài đã chẳng rơi lệ cảm động khi cảm nghiệm về một mầu nhiệm cao cả như thế, và cũng biết bao lần các ngài đã chẳng sống những giờ phút trong niềm vui khôn tả của “tân nương” trước Bí tích Bàn thờ đó sao ? Trên hết, chúng ta cùng hướng lên Đức Trinh Nữ Maria, người đã hội nhập các chiều kích Thánh Thể vào toàn bộ cuộc đời của mình, xin người trợ giúp chúng ta. “Khi nhìn lên Đức Maria là gương mẫu của mình, Hội Thánh cũng được mời gọi noi theo người trong mối thâm giao của người với Mầu nhiệm chí thánh này”[28]. Bánh Thánh Thể mà chúng ta lãnh nhận chính là thịt tinh tuyền của Chúa Con : Ave verum corpus natum de Maria Virgine”, kính lạy Thân Thể đích thực đã sinh ra từ lòng Đức Trinh Nữ Maria. Trong Năm ân sủng này, ước chi nhờ sự trợ giúp của Đức Maria, Hội Thánh tìm được đà tiến mới cho sứ mạng của mình và càng ngày càng nhận thấy rõ rệt Thánh Thể chính là nguồn mạch và đỉnh cao của toàn thể đời sống Hội Thánh.

 

Ước chi Phép lành tôi gửi đến anh chị em mang lại cho anh chị em ân sủng và niềm vui.

 

 

 

Ban hành tại điện Vatican, ngày 07 tháng mười năm 2004,

 

Lễ Đức Mẹ Mân Côi,

 

năm thứ hai mươi sáu tôi làm Giáo hoàng.

 

+ IOANNES PAULUS II

 

Giáo hoàng

 

 

***

VÀI CẢM NHẬN SAU KHI ĐỌC TÔNG THƯ

 

 1. Lời tâm sự sau một chặng đường dài

 

Có thể nói, tông thư khai mạc Năm Thánh Thể “MANE NOBISCUM DOMINE” là một lời tâm sự của Đức thánh cha Gioan Phaolô II, sau một chặng đường dài 27 năm người phục vụ Dân Chúa trong trách vụ Mục tử Hội thánh Công giáo hoàn vũ. Trước hết, văn phong của bức thư rất ý nhị, hiện rõ nét tự sự, và dạt dào tâm tình cảm mến tri ân. Trong số 44 tông thư, có lẽ tông thư này là một điểm hội tụ những ước vọng người đã bận tâm day dứt ngay từ khi được chọn làm giáo hoàng. Vốn được mệnh danh là vị giáo hoàng đã ấn hành nhiều văn thư nhất, người đã nỗ lực vận dụng mọi suy tư và tâm tình đạo đức để dẫn Hội thánh bước qua ngưỡng cửa thiên niên kỷ, và đến nay người vẫn còn tha thiết mong cho Hội thánh sẽ tiếp tục bước những bước dài rộng trong lịch sử để tung mình về phía trước. Tông thư này, xét về mặt ý tưởng, tuy không có gì mới mẻ, nhưng nỗ lực hội nhập mọi chiều kích ưu việt của Thánh Thể vào đời sống Hội thánh và mỗi cá nhân là một việc làm luôn mới mẻ và dĩ nhiên nỗ lực ấy chỉ có thể được phép dứt điểm ở mút cùng thời gian. Thực vậy, nỗ lực ấy được khởi đi từ lời mời gọi của Đức Giêsu “hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (x. Lc 22,19b) và sẽ vươn cao khi mỗi cá nhân sẵn lòng thân thưa “này là mình thầy, phó nộp vì anh em” (x. Lc 22,19a) không chỉ dừng lại ở lời đọc, mà bằng cách thế chấp chính mạng sống của mình vì đã trót đọc lời ấy !

 

2. Mô phỏng một đường hướng mục vụ nhất quán

 

Tiếp đến, tông thư còn loé sáng một đường hướng dấn thân mục vụ nhất quán. Thực vậy, là Kitô hữu ai mà chẳng biết Thánh Thể là nguồn mạch, trung tâm và đỉnh cao của đời sống Hội thánh cũng như đời sống cá nhân. Hơn nữa, mỗi lần cử hành thánh lễ, chúng ta đã chẳng cung kính đồng thanh tán tụng Thánh Thể bằng lời thưa : “Chính nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô, và trong Đức Kitô, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần, mọi vinh quang, danh dự đều thuộc về Cha là Thiên Chúa toàn năng đến muôn thuở muôn đời”[29] đó sao ! Như vậy, tất cả mọi sinh hoạt của Hội thánh cũng như của mỗi Kitô hữu, dưới bất cứ hình thức nào, cuối cùng cũng là để được thâu tóm trong Thánh Thể là chính Đức Kitô, và nhờ Người dâng lên Thiên Chúa Cha toàn thể vũ trụ này ! Như vậy, một đường hướng dấn thân mục vụ chỉ được coi là nhất quán, khi nó được đảm nhận một cách nghiêm túc theo tinh thần phục vụ khiêm hạ của Đức Kitô và phải được quy hướng về Thánh Thể. Lẽ dĩ nhiên, một đường hướng dấn thân mục vụ thông suốt và nhất quán như vậy không dễ gì đạt được một sớm một chiều, nhưng cần phải được thanh luyện mỗi ngày, kiên trì vun đắp theo dòng thời gian, và nhất là không thể thiếu sự trợ lực của Thánh Thể.

 

3. Hành trình học tập liên lỉ

 

Có lẽ xuất phát từ kinh nghiệm bản thân, và cũng kiên trì học tập từ cuộc sống thánh thiện của những nhà tu đức lỗi lạc, đức thánh cha rất ý thức rằng, nỗ lực hội nhập đời mình vào trong nhiệm tích Thánh Thể, cũng như để cho mọi chiều kính Thánh Thể toả sáng và thanh luyện đời mình là một việc làm rất cam go, đòi hỏi một quyết tâm bền bỉ và một lòng đạo trong sáng. Nói cách khác, khó có thể tiếp cận đời sống Thánh Thể, nếu không thành thật tự nguyện khép mình vào trường học Thánh Thể, nhờ vậy mà mỗi học viên được đào luyện từng ngày, không loại trừ ngay cả những khoảnh khắc buồn chán, mỏi mệt, căng thẳng do tình trạng thể lý và tâm lý luôn biến động. Trong mái trường đó, dĩ nhiên có Đức Maria là học viên tiên khởi. Mẹ đã hoàn thành sứ mạng lịch sử của mình một cách bi tráng, hẳn Mẹ đã cảm nghiệm và tiên liệu được những khó nhọc mà mỗi học viên cũng sẽ nếm trải. Như vậy, Mẹ sẽ rất ưu ái và sẵn lòng trợ giúp cho bất cứ học viên nào muốn đăng nhập vào ngôi trường này.

 

Xuyên suốt tông thư, đức thánh cha lặp đi lặp lại nhiều lần hạn từ “mái trường Thánh Thể”, “học cách thưa lời ‘cảm ơn’”, “học tập kinh nghiệm của các thánh nhân lỗi lạc”. Ai chẳng biết, sự học nào mà lại không khó nhọc và phải nỗ lực một cách nhẫn nhục. Thật vậy, lẽ nào chúng ta quên được lời thúc giục của tác giả thư Do thái, rằng chính Đức Kitô, “dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (x. Dt 5,7-9). Cũng thế, muốn nên người Kitô hữu chính danh, chẳng có con đường nào khác là chấp nhận để cho Thánh Thể huấn luyện mình. Trong mái trường này, người tín hữu không chỉ học thưa lời “cảm ơn”, “xin vâng”, “phó thác” theo gương Đức Kitô, mà còn biết rõ “hậu cảnh” của những lời thưa ấy “cam go” đến mức nào, những lời thưa ấy sẽ đưa mình đi trên những con đường nào !

 

4. Không thể sống Thánh Thể mà không thực hành đức ái

 

Khi đọc tông thư, ta nhận thấy tác giả đưa ra những phân tích rạch ròi về những chiều kích ưu việt của Thánh Thể. Thật vậy, tông thư khẳng định Thánh Thể là ánh sáng, là nguồn mạch và biểu lộ tình hiệp thông, là nguyên lý và dự phóng cho sứ vụ của Hội thánh. Điểm nổi bật của tông thư có lẽ không dừng lại những phân tích rạch ròi về những chiều kích ưu việt của Thánh Thể cho bằng nối kết Thánh Thể với việc thực hành đức ái trong đời sống thường nhật. Thực vậy, tông thư cật vấn độc giả, chúng ta lại chẳng thấy Đức Giêsu đã cúi xuống rửa chân cho các môn đệ khi Người lập phép Thánh Thể đó sao (x. Ga 13,1-20) ? Hoặc theo cách nói của thánh Phaolô, rằng quả là vô phép và bất kính, nếu chúng vẫn cử hành Thánh Thể mà không toả sáng lòng mến, lòng mến ấy phải được biểu lộ cụ thể bằng cách chia sẻ phúc lợi cho anh chị em túng nghèo (x. 1Cr 11, 17-34). Rõ ràng, đây là chính là tiêu chí để lượng định xem việc cử hành Thánh Thể của cộng đoàn hay cá nhân có thành thực hay không ! Thực tế cho thấy, chúng ta đôi khi có thể rất xăng xái cử hành Thánh Thể, nhưng lại chểnh mảng làm việc bác ái, thậm chí còn coi đó là một tuỳ chọn ! Đọc tông thư, có lẽ chúng ta sẽ thấy mình bị cật vấn rất nhiều về điểm này. Như vậy, sống Thánh Thể và chia sẻ phúc lợi cách cụ thể cho anh chị em túng nghèo phải đi liền một trật, không thể chỉ làm việc này, mà lơ đãng việc kia, như thế sẽ là tự dối lòng và bất kính với Thánh Thể !

***

MỘT SỐ KINH VỀ THÁNH THỂ DO THÁNH TÔMA AQUINÔ BIÊN SOẠN

 

Có lẽ phần đông chúng ta chỉ biết thánh Tôma Aquinô về phương diện đạo lý của người. Tuy nhiên, bên cạnh danh hiệu tôn sư thần học, thánh nhân còn được mệnh danh là tiến sĩ thiên thần. Chắc chắn, thánh nhân cũng đã học tập được nhiều kinh nghiệm trong mái trường Thánh Thể. Thật vậy, “đồng nghiệp của thánh Tôma làm chứng rằng, thánh nhân có lòng mộ mến Chúa Kitô và phép Thánh Thể rất đặc biệt, và một kinh nghiệm thần bí phong phú. Người đã sống trọn đời sống Đa Minh, dồn hết tâm lực vào việc suy tư thần học, có khả năng cùng lúc đọc cho hai ba thư ký ghi chép, và kiệt sức lúc 49 tuổi” [30]. Có lẽ vì thế mà những kinh do người soạn xưa nay đã được phổ nhạc và vẫn được dùng rất phổ biến vào các dịp suy tôn Thánh Thể trong Phụng vụ ở tầm mức cá nhân cũng như cộng đoàn[31]. Nhân dịp đức thánh cha Gioan Phaolô II công bố tông thư “Mane Nobiscum Domine” mừng Năm Thánh Thể, chúng tôi dẫn thêm một số kinh do thánh Tôma soạn có liên quan đến bí tích cực trọng này.

 

Sử sách đã ghi nhận thế này, thánh Tôma đã từng được mời vào giáo triều để đặc cách soạn các bản kinh phụng vụ. Thật vậy, “đang khi thánh nhân đảm nhận trách vụ khuyến học tại Orvieto từ 1261 đến 1265, đức giáo hoàng Urbanô IV mời người về giáo triều để soạn bản Kinh phụng vụ lễ kính Mình và Máu Thánh năm 1264 và cũng tại đây, thánh nhân đã hoàn thành bộ tổng luận ‘Lương dân bác nghị’” [32].

 

Cũng nên biết rằng, phần cuối của “Bộ tổng luận thần học” là những chương luận giải về Bí tích Thánh Thể. Khi kết thúc phần này, khoảng cuối năm 1273, thánh nhân không muốn viết nữa, nên một thư ký của người tên là Réginald Piperno bèn nêu thắc mắc tại sao người ngừng viết. Thánh nhân liền trả lời : “So với những gì gần đây tôi chiêm ngắm, thì những gì tôi đã viết chỉ là rơm rác thôi” ! Có lẽ diệu cảm khiến người “gác kiếm”chính là sau khi được “chiêm ngắm” Thiên Chúa cách sâu xa qua bí tích Thánh Thể. Đặc biệt là trong những giờ phút cuối đời, người vẫn thầm thĩ lời nguyện này : “lạy Đấng Cứu độ lòng con yêu mến, xin tiếp nhận con. Chỉ vì lòng mến yêu Ngài mà con đã nỗ lực dùi mài kinh sử, nhiều đêm thức trắng đến mức kiệt sức ; chính vì Ngài mà con đã chuyên cần dạy học và thuyết giảng. Con chưa bao giờ nói một lời nào chống lại Ngài. Con đã không chiều theo những tư kiến bướng bỉnh dấy lên từ xúc cảm của con, giả như có lần nào con đã diễn tả sai lạc về mầu nhiệm thánh, thì con sẵn sàng quy phục mọi phán quyết của Hội thánh Công giáo Rôma, chính trong tinh thần tuân phục Hội Thánh, con đang từ giã cõi đời này”[33].

 

KINH VIẾNG MÌNH THÁNH CHÚA

 

Ôi yến tiệc Mình và Máu thánh, Chúa Kitô thành lương thực nuôi ta. Tiệc nhắc nhơ” Người đã chịu khổ hình và đổ đầy ơn sủng xuống cõi lòng nhân thế. Tiệc bảo đảm cho ta một ngày mai huy hoàng rực rỡ.[34]

 

X. Chúa đã ban bánh bởi trời cho nhân loại.

Đ. Bánh có đủ mọi mùi thơm ngon.

 

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã trối lại cho chúng con bí tích Mình và Máu thánh Chúa, để chúng con đời đời tưởng nhớ Chúa đã chịu khổ hình thập giá và sống lại vinh quang. Xin cho chúng con biết một niềm sùng kính mến yêu bí tích kỳ diệu này, để luôn được nghiệm thấy ơn Chúa cứu chuộc chúng con. Chúa là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.[35]

 

KINH THỜ LẠY THÁNH THỂ

 

1. Bản dịch cũ

 

Chúng con kính lạy và ngợi khen mầu nhiệm Mình Thánh rất sang trọng, Máu Thánh rất châu báu vô cùng bởi lòng Đức Bà Maria đồng trinh sạch sẽ mà ra, đã để mình trong phép mầu nhiệm này cho được ở cùng chúng con : là đêm sau hết khi Người còn ngồi cùng các đầy tớ mà ăn bữa tối là bữa trọng nên hết các bữa ; khi đã giữ cho đủ các phép đạo cũ truyền lại mà ăn bữa này, đoạn mới phó mình cho mười hai đầy tớ lấy làm của ăn. Ngôi thứ Hai ra đời làm người phán một lời phép tắc vô cùng mà làm cho bánh thật trở nên Mình Người, cùng làm cho rượu nho hoá nên Máu Người thật ; vì vậy dù con mắt chúng con xem chẳng thấy, thì phải có đức tin cho được vững lòng. Vậy, chúng con phải thờ lạy phép rất thánh rất trọng dường ấy, vì các phép trong đạo cũ chẳng bằng phép này, thì chúng con phải có lòng tin cho bền thay vì con mắt chúng con xem thấy, chúng con phải ngợi khen Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con, Đức Chúa Thánh Thần, cùng thờ lạy kính mến ngợi khen và hát mừng sự mầu nhiệm rất thánh này đời đời chẳng cùng. Amen.

 

2. Bản dịch mới [36]

 

Nào ca hát để họp mừng mầu nhiệm

Vua muôn dân đã hiến trót thân mình

Dâng máu đào làm lễ tế hy sinh

Nên giá chuộc muôn người trên thế giới.

 

Người tự hiến cho ta nên chẳng ngại

Sinh làm con Đức Trinh Nữ vẹn toàn,

Trót cuộc đời gieo chân lý Phúc Âm

Và kết thúc bằng điềm thiêng kỳ diệu.

 

Đêm dự bữa tiệc ly cùng bạn hữu,

Khi đã dùng thực phẩm luật truyền xưa,

Người trao tay cho tất cả môn đồ

Mình Máu Thánh làm thần lương mỹ vị.

 

Câu tuyên phán của Ngôi Lời nhập thể

Đã làm cho bánh thật nên Mình Người,

Rượu nho thành bao giọt máu hồng tươi,

Mặt chẳng thấy nhưng lòng tin vững mạnh.

 

Ôi bí tích thật cao vời khôn sánh,

Ta bái thờ Chúa đang ngự nơi đây,

Nghi lễ xưa đâu sánh bí tích này,

Niềm tin thế cho giác quan cảm nghiệm.

 

Lòng hớn hở, cùng tán dương trìu mến

Cha uy quyền và Con Một từ nhân,

Cùng tôn vinh ca ngợi Chúa Thánh Thần

Xin chúc tụng Ba Ngôi ngàn muôn thuở.

 

KINH DỌN MÌNH KHI RƯỚC LỄ

 

Con lạy ơn Đức Chúa Trời phép tắc vô cùng hằng có vậy, con bây giờ đến chịu phép rất thánh này là Đức Chúa Giêsu con thật Đức Chúa Trời. Con như kẻ liệt đến tìm thầy thuốc cho sống ; con là kẻ dơ dáy tìm đến mạch nước cả ; con là kẻ tối tăm đến cùng hằng sáng ; con là kẻ khó khăn thiếu mọi sự mà đến cùng Chúa Trời Đất. Vì vậy con cầu cùng Chúa rộng rãi vô cùng chữa đã mọi tật linh hồn con, rửa sạch mọi tội lỗi con, soi sáng kẻo tối, thêm phúc kẻo khó trước mặt Đức Chúa Trời ; lại xin cho được lòng kính mến cùng ở khiêm nhường ăn năn tội lỗi, và giữ lòng sạch sẽ, cùng tin thật cho được chịu Mình Thánh Đức Chúa Giêsu là Vua cả trên hết các vua, Chúa trọng trên hết các chúa. Con lại xin Đức Chúa Cha cho được chịu Phép Rất Thánh này, chẳng những bề ngoài cùng được ích trong linh hồn nữa. Lại xin Đức Chúa Trời có lòng lành vô cùng, khi con chịu Mình Thánh Đức Chúa Giêsu, xưa bởi lòng thánh Maria Đồng Trinh mà ra, thì kể con vào làm một cùng Đức Chúa Giêsu là Con Một Đức Chúa Cha yêu lắm, mà con bây giờ chịu nhiệm vậy, thì xin cho ngày sau được xem thấy tỏ tường Đức Chúa Giêsu hằng sống hiển trị cùng Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh Thần đời đời chẳng cùng. Amen.

 

KINH CÁM ƠN SAU KHI HIỆP LỄ

 

Con cám ơn Chúa Rất Thánh là Cha có phép vô cùng hằng có vậy, vì con là kẻ có tội chẳng có công gì cho đáng chịu ơn cực trọng Mình cùng Máu Thánh Con Đức Chúa Cha là Đức Chúa Giêsu. Con xin Mình Thánh này chớ để cho con phải phạt, lại được ích về phần linh hồn, cùng xin gìn giữ kẻo phải chước ma quỷ cám dỗ được con, cùng cất hết nết xấu, và cho con bỏ lòng mê sự thế gian ; lại xin cho được lòng kính mến Đức Chúa Trời cùng yêu người, và thêm sức chịu khó bằng lòng ở khiêm nhường chịu luỵ, cùng xuống mọi phúc đức. Xin Mình Thánh Chúa giữ gìn con, kẻo phải chước những kẻ thù con, thấy và xem chẳng thấy, cùng sửa sang mọi tính trong ngoài con cho bình tĩnh, cậy một Đức Chúa Trời cho vững, cùng xin đem con đến tiệc cực trọng nói ra chẳng hết, ấy là thấy Đức Chúa Cha, cùng Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần, cho các thánh sáng thật no đầy mừng rỡ chẳng cùng, vui vẻ trọn thanh nhàn liên. Bấy nhiêu sự con xin vì Đức Chúa Giêsu Kitô là Chúa chúng con. Amen.

 

CA TIẾP LIÊN

 

LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA

Lạy Chúa Giêsu là mục tử tốt lành, là bánh thật, xin thương xót, chăn dắt và bảo vệ chúng con, xin ban cho chúng con nhìn thấy những điều thiện hảo trong cõi nhân sinh. Chúa là Đấng thông biết và có thể làm nên mọi sự, Chúa nuôi dưỡng chúng con trong đời sống tạm gửi này, xin cho chúng con được trở nên thực khách đồng bàn của Chúa trên cõi cao xanh, đồng thừa kế và đồng danh phận với những công dân thánh của Nước Trời. Amen.

 

 

XIN ĐƯỢC SỐNG KHÔN NGOAN

Lạy Thiên Chúa giàu lòng thương xót, xin ban cho con nhiệt thành ước ao, khôn ngoan kiếm tìm, đích thực nhận biết và hoàn toàn thực hiện những điều đẹp lòng Chúa.

Lạy Thiên Chúa của con, xin hãy xếp đặt cuộc đời con : dạy con biết điều Chúa đòi con phải làm, và ban cho con thi hành cách đúng đắn và thích hợp với linh hồn.

 

Lạy Thiên Chúa của con, xin đừng để con xa cách Chúa khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan : không kiêu căng khi thịnh vượng, không nản lòng lúc gian nan. Xin đừng để con vui mừng hay buồn sầu vì bất cứ điều gì ngoại trừ điều dẫn tới Chúa hay làm xa cách Chúa ; cũng đừng để con ham muốn làm đẹp lòng ai hoặc sợ mất lòng ai ngoại trừ Chúa.

 

Lạy Chúa, xin cho con coi khinh mọi sự phù hoa và yêu quí những điều vĩnh cửu. Xin cho con chê chán niềm vui nào không có Chúa và không ao ước điều gì ngoài Chúa. Lạy Chúa, xin cho con yêu thích vất vả làm việc cho Chúa và chán ghét mọi sự nghỉ ngơi mà không có Chúa.

 

Lạy Thiên Chúa của con, xin ban cho con biết hướng tâm hồn lên Chúa, và lỡ khi sa ngã thì biết đau buồn và quyết tâm hối cải.

 

Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, xin giúp con

vâng phục không chống đối,

khó nghèo không bần tiện,

thanh khiết không hư hỏng,

nhẫn nại không kêu ca,

khiêm nhường không giả dối,

vui vẻ không lả lơi,

chín chắn không nặng nề,

mau mắn không nông nổi.

Xin cho con biết kính sợ Chúa không tuyệt vọng, chân thành không hai lòng, làm việc lành không tự mãn, sửa lỗi anh em không kiêu căng, xây dựng tha nhân bằng lời nói và gương lành, không giả dối.

 

Lạy Chúa là Thiên Chúa, xin ban cho con

một trái tim luôn thức tỉnh,

không tư tưởng tò mò nào làm xa Chúa,

một trái tim cao thượng,

không quyến rũ bất chính nào làm sa đoạ,

 

một trái tim ngay thẳng,

không tà ý nào làm trệch đường,

một trái tim vững mạnh,

không gian nan nào làm tan vỡ,

một trái tim tự do,

không tham vọng xấu xa nào chiếm đoạt được.

 

Lạy Chúa là Thiên Chúa của con, xin ban cho con trí thông minh nhận biết Chúa, lòng cần mẫn tìm kiếm Chúa, đức khôn ngoan tìm thấy Chúa, cách ăn nết ở đẹp lòng Chúa, đức kiên trì trung thành đợi chờ Chúa và lòng tin tưởng sau cùng sẽ được kết hợp với Chúa. Xin cho con ở đời này được chia sẻ những khổ đau của Chúa để đền tội, trên đường lữ hành được vui hưởng các phúc lộc Chúa thương ban, trên quê trời tận hưởng mọi hoan lạc của Chúa trong vinh quang. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

 

KINH XIN CÁC NHÂN ĐỨC

Lạy Thiên Chúa toàn năng là Đấng vô thuỷ vô chung, là Đấng ban phát và duy trì các nhân đức, xin thương ban cho con được đặt nền tảng vững vàng trong đức tin, xin thương bảo vệ con bằng khiên thuẫn của đức cậy, và xin thương trang điểm cho con bằng chiếc áo cưới của đức mến.

Xin ban cho con biết phục tùng Chúa bằng đức công bình, xin gìn giữ con khỏi những âm mưu của ma quỉ, xin cho con biết giữ mức quân bình bằng đức tiết độ, xin cho con biết kiên nhẫn chịu đựng những nghịch cảnh nhờ đức mạnh bạo. Xin ban cho con biết khiêm tốn nài xin điều tốt mà con không có, biết thẳng thắn thú nhận điều xấu mà con đã làm, biết bình thản gánh chịu hình phạt vì tội lỗi mà con đã gây ra, đừng ghen tương vì điều tốt của tha nhân, biết luôn luôn tạ ơn Chúa vì mọi ơn lành.

Xin cho con biết đoan trang trong cách ăn mặc, đi đứng và hành động. Xin giúp con tránh những lời huênh hoang, biết từ tốn trong cử chỉ, biết giữ cặp mắt khỏi láo liên, biết bịt tai trước những tin đồn thất thiệt, biết khiêm tốn cúi mặt xuống để nâng trí lên chiêm ngắm những sự trên trời, biết khinh chê những của phù vân và chỉ biết ước ao một mình Chúa, biết chế ngự xác thịt và thanh luyện lương tâm, biết tôn kính các thánh và chúc tụng Chúa, tiến triển trong đức hạnh, và kết thúc các việc lành bằng ý chỉ thánh thiện.

Xin gieo trồng trong con các nhân đức, để con cảm thấy được thu hút vào những điều tốt lành của Chúa, để con chu toàn những bổn phận của mình và đừng trở nên gánh nặng cho bất cứ ai hết.

Lạy Chúa, xin ban cho con hết lòng thống hối, chân thành xưng thú các tội lỗi, và đền bồi cân xứng.

Xin giúp con điều khiển các khuynh hướng và cảm xúc, để con biết làm điều gì là tốt lành, lập công phúc cho mình và nêu gương tốt cho tha nhân.

Xin ban cho con đừng bao giờ hấp tấp hành động thiếu suy nghĩ, đừng trì hoãn làm việc gì vì tật lười biếng. Xin cho con đừng bắt đầu việc gì trước khi chưa tới lúc phải làm, cũng đừng bỏ dở công việc gì đã bắt đầu. Amen.

 

KINH CẢM ƠN

Lạy Chúa, con ngợi khen, tôn vinh và chúc tụng Chúa vì biết bao ơn lành đã ban cho con dù con bất xứng. Con ngợi khen lòng Chúa khoan nhân chờ đợi con lâu ngày, lòng Chúa dịu hiền chỉ ngăm đe sửa phạt, lòng Chúa lân tuất kêu gọi, lòng từ ái tiếp đón, lòng từ bi tha thứ tội lỗi, lòng nhân hậu ban thưởng vượt quá các công lênh, lòng kiên nhẫn vỗ về, lòng đại lượng chở che. Con ngợi khen Chúa là Đấng vĩnh cửu bảo tồn vạn vật, là chân lý phán xét công minh.

Lạy Chúa, con biết nói gì về lòng độ lượng vô biên của Chúa ? Chúa kêu gọi khi con trốn chạy, Chúa tiếp đón khi con trở về, Chúa an ủi khi con nghi nan, Chúa nâng đỡ khi con thất vọng, Chúa thúc giục khi con chểnh mảng, Chúa tăng sức khi con giao tranh, Chúa ban thưởng khi con chiến thắng.

Dù con là người tội lỗi nhưng Chúa không chê bỏ, và sau khi thống hối thì Chúa không còn nhớ sự xúc phạm. Chúa đã cứu con khỏi nhiều gian truân, đã làm trái tim chai đá của con nên mềm mại để biết ăn năn. Chúa đã ngăm đe bằng hình phạt, thu hút bằng lời hứa, sửa trị bằng roi vọt.

Chúa săn sóc nhờ các thiên sứ, Chúa chu cấp những sự thiện hảo đời này, Chúa để dành những sự thiện hảo đời sau. Chúa khuyến dụ bằng vẻ đẹp của thiên nhiên, Chúa mời gọi bằng lòng khoan nhân của ơn cứu độ, Chúa hứa những phần thưởng trên trời. Con không thể nào chúc tụng Chúa cho cân xứng vì những hồng ân đó. Con tạ ơn Chúa vì lòng tốt vô bờ để xin Chúa gia tăng ơn thánh, duy trì ơn thánh đã gia tăng, và ban thưởng cho ơn thánh được duy trì. Amen.

 

KINH XIN ƠN HỌC HÀNH

Lạy Đấng sáng tạo, là nguồn ánh sáng và sự khôn ngoan, xin chiếu dọi một tia sáng của Chúa vào tâm trí chúng con, xua đuổi những tối tăm của tội lỗi và dốt nát. Chúa là Đấng đã ban cho các nhi đồng được miệng lưỡi hùng hồn, xin hãy dạy dỗ miệng lưỡi của con và tuôn đổ phúc lành trên đôi môi của con. Xin cho con được trí hiểu sắc sảo, trí nhớ dẻo dai, đầu óc nhạy bén, trình bày sáng sủa, nói năng trôi chảy. Xin gợi hứng lúc bắt đầu, hướng dẫn lúc tiến triển, và ban thưởng khi kết thúc. Chúa là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

 

KINH THỐNG HỐI

 

 Lạy Chúa là nguồn lân tuất, con đến với Chúa như một tội nhân. Xin Chúa thương rửa sạch con là kẻ nhơ bẩn. Chúa là mặt trời công chính, xin soi sáng kẻ mù loà. Chúa là thầy thuốc hằng hữu, xin chữa lành kẻ bệnh tật. Chúa là Vua các vua, xin khoác áo cho kẻ trần truồng. Chúa là đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người, xin giao hoà kẻ có tội. Chúa là mục tử nhân lành, xin dẫn dắt chiên lạc về đàn.

 

Lạy Chúa, xin ban lòng thương xót cho kẻ đáng thương, ơn tha thứ cho kẻ có tội, sự sống cho kẻ chết, ơn công chính cho kẻ bất lương, xin ban cho con biết nhìn nhận Chúa là Chúa của con và luôn luôn tạ ơn Chúa vì tất cả mọi ơn lành Chúa đã ban.

 

Xin cũng ban cho con luôn luôn biết hân hoan chúc tụng Chúa, ngợi khen Chúa và tán dương Chúa trong hết mọi việc.

 

Xin Chúa khoan nhân hãy tái tạo con, để cho con luôn luôn biết tuân phục Chúa trong hết mọi sự, ngõ hầu con đáng được đồng bàn với các thiên thần và các thánh, dù con bất xứng và tệ bạc. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.

 

 

http://www.catechesis.net

 ---------

[1] x. Tông thư Ngàn năm thứ ba đang đến [Tertio Millennio adveniente], tông thư Bước vào ngàn năm thứ ba [Novo Millennio ineunte], tông thư Ngày Chúa Nhật [Dies Domini]…

 

[2] Công đồng Vaticanô II, Hiến chế mục vụ về Hội Thánh trong thế giới ngày nay, Gaudium et Spes, số 45.

 

[3] X. Ibid., số 22.

 

[4] Số 55 : AAS 87 (1995), p. 38 ; La Documentation catholique 91 (1994), pp. 1030-1031.

 

[5] X. số 32-34 : AAS 90 (1998), pp. 732-734 ; La Documentation catholique 95 (1998), pp. 666-667.

 

[6] X. số 30-32 : AAS 93 (2001), pp. 287-289 ; La Documentation catholique 98 (2001), pp. 78-79.

 

[7] X. Ibid., số 35 : l. c., pp. 290-291 ; La Documentation catholique 98 (2001), p. 80.

 

[8] X. Tông thư Rosarium Virginis Mariae (16 tháng mười 2002), số 19.21 : AAS 95 (2003), p. 469 : La Documentation catholique 99 (2002), pp. 958-960.

 

[9] X. Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17 tháng tư 2003), số 53 : AAS 95 (2003), p. 469 ; La Documentation catholique 99 (2002), p. 387.

 

[10] X. số 51.

 

[11] X. Ibid., số 7.

 

[12] X. Ibid., số 52.

 

[13] X. Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17 tháng tư 2003), số 10 : AAS 95 (2003), p. 439 ; La Documentation catholique 100 (2003), p. 371.

 

[14] X. Ibid., số 10 : l. c., p. 439 ; La Documentation catholique 100 (2003), p. 371 ; Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, Huấn thị Redemptionis Sacramentum về một số điều cần phải giữ và phải tránh liên quan đến Bí tích Thánh Thể chí thánh, số 38 ; Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, Huấn thị Redemptionis Sacramentum về một số điều cần phải giữ và phải tránh liên quan đến Bí tích Thánh Thể chí thánh, số 38 ; La Documentation catholique 101 (2004), p. 468.

 

[15] Về ý nghĩa cụm từ này, chúng tôi đành phải chuyển dịch theo theo bản Anh ngữ là “par excellence”, xét vì nó dễ hiểu đối với phần đông độc giả. Tuy nhiên, để chính xác về phương diện thần học, bản Pháp ngữ lại dùng cụm từ “par antonomase”, cũng như bản Ý ngữ dùng “per antonomasia”, tạm dịch là cách hiện diện “hoán xưng”, nghĩa là dùng tên gọi của thực thể này để chỉ thực thể kia; dùng tên cái chứa đựng để chỉ cái được chứa đựng. Tương tự, cách hiện diện hoán xưng ý nói Thánh Thể tuy mang hình bánh rượu đấy, nhưng lại là chính thịt máu Chúa Kitô (ND).

 

[16] Thông điệp Mysterium fidei (03 tháng chín 1965), số 39 : AAS 57 (1965), p. 764 ; La Documentation catholique 62 (1965), col. 1643 : Thánh bộ Nghi lễ, Huấn thị Eucharisticum mysterium về việc tôn thờ Mầu nhiệm Thánh Thể, số 9 : AAS 59 (1967), p. 547 ; La Documentation catholique 64 (1967), col. 1098-1099.

 

[17] X.Thông điệp Spiritus et Sponsa, nhân dịp kỷ niệm XL năm Hiến chế Sacrosanctum Concilium về Phụng vụ thánh (04 tháng mười hai 2003), số 13 : AAS 96 (2004), p. 425 ; La Documentation catholique 101 (2004), p. 55.

 

[18] Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, Huấn thị Redemptionis Sacramentum về một số điều cần phải giữ và phải tránh liên quan đến Bí tích Thánh Thể chí thánh, số 38 ; La Documentation catholique 101 (2004), p. 458-490.

 

[19] Ibid., số 137 : l. c., p. 483.

 

[20] X. Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17 tháng tư 2003), số 44 : AAS 95 (2003), p. 462 ; La Documentation catholique 100 (2003), p. 383 ; Bộ Giáo luật, k. 908 ; Bộ Giáo Luật của các Hội Thánh Đông phương, k. 702 ; Hội đồng giáo hoàng Cổ võ sự Hiệp nhất Kitô hữu, Directoire oecuménique (25 tháng ba 1993), số 129-131 : AAS 85 (1993), pp. 1086-1089 ; La Documentation catholique 90 (1993), pp. 630-631 ; Bộ Giáo lý đức tin, Thư Ad exsequendam (18 tháng năm 2001) : AAS 94 (2001), p. 786.

 

[21] X. Đgh Gioan-Phaolô II, Tông huấn Novo millennio ineunte (06 tháng giêng 2001), số 43 ;

 

[22] X. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế về Phụng vụ thánh, Sacrcosanctum Concilium, số 41. AAS 93 (2001) p. 297 ; La Documentation catholique, 98 (2001), p. 83.

 

[23] Số 33 : AAS 90 (1998) p. 733 ; La Documentation catholique, 95 (1998), p. 666-667.

 

[24] X. Bài giảng lễ kính Mình và Máu thánh chúa Kitô (06 tháng giêng 2004) ; La Documentation catholique 101 (2004), pp. 602-603.

 

[25] X. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế mục vụ về Hội Thánh trong thế giới ngày nay, Gaudium et Spes, số 36.

 

[26] X. Ibid.

 

[27] X. Công đồng Vaticanô II, Hiến chế tín lý về Hội Thánh, Lumen gentium, số 1.

 

[28] X. Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17 tháng tư 2003), số 53 : AAS 95 (2003), p. 469 ; La Documentation catholique 100 (2003), p. 387

 

[29] Đoạn kết của Kinh Tạ ơn II, Sách lễ Rôma, trang 493, Uỷ ban Phụng tự HĐGM Việt Nam, 1992.

 

[30] “But his companions testified to his intense devotion to Christ and the Eucharist and his rich mystical experience. He lived the Dominican life fully, intensely centered in thought, dictating to two or three secretaries at the same time, burning himself out at 49.” (x. Benedict M. Ashley, o.p., The Dominicans : Professor’s (1200s), p. 18, The Liturgical Press, Collegeville, Minnesota, 1990).

 

[31] Thomas d’Aquin, Somme Théologique, Tome I, La vie et l’ oeuvre de s. Thomas d’Aquin, A la court pontificate, p. 21, Les Éditions du Cerf, Paris, 1994.

 

[32] “From 1261 to 1265 he was lector at Orvieto, then Urban IV's residence, where Thomas composed the Corpus Christi liturgy in 1264 and completed the Contra Gentiles.” (x. Benedict M. Ashley, o.p., The Dominicans : Professor’s (1200s), p. 17, The Liturgical Press, Collegeville, Minnesota, 1990).

 

[33] “Je vous reçoive, ô salut de mon âme. C’est par amour pour vous que j’ai étudié, que j’ai veillé des nuits entières et que je me suis épuisé ; c’est vous que j’ai prêché et enseigné. Jamais je n’ai dit un mot contre vous. Je ne m’attache pas non plus obstinément à mon propre sens ; mais si jamais je me suis mal exprimé sur ce sacrement, je me soumets au jugement de la sainte Église romaine dans l’obéissance de laquelle je meurs.” (x. Thomas d’Aquin, Somme Théologique, Tome I, La vie et l’ oeuvre de s. Thomas d’Aquin, La fin de S. Thomas d’Aquin, p. 22, Les Éditions du Cerf, Paris, 1994).

 

[34] Tương truyền rằng, có lần Toà thánh mời hai thánh Bônaventura và Tôma soạn kinh viếng Thánh Thể. Đến ngày công bố, thánh Tôma được mời lên đọc bản kinh của mình trước. Ngay khi thánh Tôma dứt lời, thánh Bônaventura lập tức vò nát bản kinh của mình ! Giả như thánh Tôma đến trễ một chút, thì hôm nay chúng ta đã có hai bản kinh viếng Thánh Thể rồi ! Đây chính là điệp ca ngày lễ kính Mình Máu Thánh Chúa Kitô, Kinh chiều I & II, dẫn theo bản dịch của “Nhóm phiên dịch các giờ kinh Phụng vụ”, trang 1399, ấn bản 1995. Điểm nổi bật của lời kinh này là tóm gọn toàn bộ nhiệm cục cứu độ trong một lời nguyện khúc chiết. Nội dung lời kinh này cũng được diễn tả lại trong tông thư Mane Nobiscum Domine, số 3.

 

[35] Lời tổng nguyện ngày lễ kính Mình Máu Thánh Chúa Kitô, Sách lễ Rôma, trang 412, Uỷ ban Phụng tự HĐGM Việt Nam, 1992.

 

[36] Thánh thi Kinh Chiều II, lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô, trang 1397, dẫn từ bản dịch của Nhóm phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng vụ, ấn bản 1995.