NGHỆ THUẬT CỬ HÀNH THÁNH LỄ  (7)

NGHỆ THUẬT CỬ HÀNH THÁNH LỄ  (7)

PHỤNG VỤ THÁNH THỂ

 

15. CHUẨN BỊ LỄ VẬT.

Chỉ dẫn:

“Bắt đầu phần phụng vụ Thánh Thể, thì đưa lên bàn thờ các lễ vật sẽ trở thành Mình và Máu Đức Kitô.

Trước hết để sửa soạn bàn thờ hay bàn tiệc của Chúa, tâm điểm của toàn bộ phần phụng vụ Thánh Thể[1], người ta đặt trên đó khăn thánh, khăn lau chén, Sách Lễ và chén lễ, trừ khi chén lễ được dọn ở bàn phụ.

Tiếp đến là đem lễ vật lên: nên để giáo dân dâng bánh và rượu, linh mục hay phó tế nhận tại một nơi thuận tiện, và đưa lên bàn thờ. Mặc dầu ngày nay giáo dân không còn mang bánh rượu của mình đến để dùng vào việc phụng vụ như xưa, nhưng việc dâng lễ vật vẫn giữ được giá trị và ý nghĩa thiêng liêng của nó.

Cũng được nhận tiền bạc hay các phẩm vật khác, do tín hữu mang đến, hoặc được quyên ngay trong nhà thờ để giúp người nghèo hay nhà thờ, những phẩm vật này được đặt ở một nơi xứng hợp ngoài bàn thờ.” (x. QCTQ 73)

Vài điểm lưu ý:

Phụng vụ Thánh Thể được bắt đầu với việc “chuẩn bị lễ vật” mà trước đây gọi là “dâng tiến”(effertoire). “Chuẩn bị lễ vật” là cách gọi mới của cải cách phụng vụ. Dựa theo “lời nguyện thầm” của chủ lễ, dường như nhấn mạnh đến lễ vật (bánh và rượu sản phẩm từ hoa màu ruộng đất và công lao con người) được dâng lên, còn việc “dâng tiến” được đặt trong trung tâm của Kinh Nguyện Thánh Thể:“Vì vậy, lạy Chúa, khi kính nhớ Con Chúa chịu chết và sống lại, chúng con dâng lên Chúa bánh trường sinh và chén cứu độ để tạ ơn Chúa” (Kinh nguyện Thánh Thể II) hoặc “chúng con dâng lên Chúa hy lễ hằng sống và thánh thiện này để tạ ơn Chúa (Kinh nguyện Thánh Thể III).

“Chuẩn bị lễ vật” được thực hiện qua việc: chuẩn bị bàn thờ, “đặt bàn” theo cách gọi thông thường, như Quy Chế Tổng Quát nêu rõ. Việc chuẩn bị bàn thờ này chỉ được thực hiện khi kết thúc phần phụng vụ Lời Chúa, đi từ bàn tiệc Lời Chúa (toà giảng) đến bàn tiệc Thánh Thể (bàn thờ).

“Dứt lời nguyện tín hữu, bắt đầu hát ca dâng lễ. Trong khi đó, các thừa tác viên mang chén thánh, khăn thánh, khăn lau chén, tấm đậy chén và sách lễ lên bàn thờ”[2] .

Quy Chế Tổng Quát cũng đề nghị nên để giáo dân mang bánh và rượu lên và linh mục tiếp nhận. Lời dạy cũng được hiểu là lễ vật không được để sẵn trên bàn thờ hoặc gần bên bàn thờ, vì như thế nó có thể làm giảm mất ý nghĩa từ “cầm lấy” khi tưởng niệm việc Chúa “cầm lấy bánh”. Như vậy, có thể tổ chức một đoàn rước như QCTQ 74 chỉ định. Các người được chọn mang bánh và rượu lên cung thánh hoặc nơi thuận tiện, linh mục hoặc phó tế nhận và đưa lên bàn thờ. Các lễ phẩm giúp người nghèo cũng được nhận và đưa đến chỗ xứng hợp ngoài bàn thờ. Sau khi nhận lễ vật, nhân danh cộng đoàn, linh mục chủ tế dâng lên Chúa với “lời nguyện thầm” và đặt chúng lên khăn thánh.[3]

Trong thực hành cần lưu ý QCTQ 75 “linh mục đặt bánh và rượu trên bàn thờ trong khi đọc những công thức đã quy định”. Điều này muốn nói rằng, sau khi nhận bánh và rượu, trước khi đặt chúng lên khăn thánh, linh mục phải đọc công thức, chứ không đặt lễ vật sẵn lên khăn thánh, sau đó linh mục đọc công thức rồi lại đặt lễ vật trên khăn thánh. Trong trường hợp, nếu có phó tế (hoặc một linh mục đồng tế) chuẩn bị lễ vật cách đơn giản, thì chính vị này đưa bánh và rượu cho chủ tế, để ngài dâng lên và đọc công thức sau đó ngài đặt chúng lên khăn thánh.

Còn các lễ phẩm khác, ngoài bánh và rượu, người tín hữu mang lên với mục đích “bác ái, xây dựng…”, phải đặt nơi xứng hợp ngoài bàn thờ.

Bài ca dâng lễ (vẫn giữ cách gọi cũ): Hiện nay, có rất nhiều bài ca dâng lễ được sáng tác. Nên chọn bài hát thích hợp cho việc dâng lễ vật chứa đựng ý nghĩa các lễ vật này là ân ban của Thiên Chúa, là hoa màu ruộng đất, là công khó nhọc của con người… Bài hát này bắt đầu khi đoàn rước lễ vật tiến lên và kết thúc khi chủ tế đặt chúng lên bàn thờ theo như đã nói (x. QCTQ 74). Nếu không hát thì có thể đệm đàn nhẹ nhàng một bản thích hợp (x. QCTQ 142).

Trong trường hợp không hát ca dâng lễ, không đệm đàn, linh mục đọc lớn tiếng “lời nguyện thầm” dâng lễ, và cộng đoàn cùng đáp lại: “chúc tụng Thiên Chúa đến muôn đời”.

Một cử chỉ rất nhỏ cũng cần nói đến, đó là việc pha một chút nước vào chén rượu. Ý nghĩa của việc làm này thể hiện trong “ lời đọc thầm” của chủ lễ: “Nhờ dấu chỉ nước hoà rượu này, xin cho chúng con được tham dự vào thần tính của Đấng đã đoái thương thông phần nhân tính của chúng con”. Như vậy, có thể nói, Thánh Thể là kết quả của mầu nhiệm Nhập Thể. Vào thời điểm Nhập Thể, Thiên Chúa làm người; vào thời điểm cử hành Thánh Thể, con người “được làm” Thiên Chúa, qua việc tiếp nhận Thân Mình Chúa Kitô: “Hãy trở thành những gì bạn lãnh nhận” (Thánh Augustinô).

Chuẩn bị chén thánh và pha chút nước, phó tế có thể thực hiện tại bàn thờ phụ, sau đó mang lên dâng cho chủ tế tại bàn thờ (x. QCTQ 178). Trong trường hợp thánh lễ có số linh mục đồng tế đông, thì có thể sử dụng nhiều chén (x. QCTQ 207), nhưng không cần thiết phải pha nước vào tất cả các chén, chỉ pha vào chén chính của chủ lễ là đủ. Điều quan trọng là cần phải rót rượu vào các chén khi chuẩn bị lễ vật, vì sau khi truyền phép tuyệt đối không được sang Máu Thánh Chúa từ chén này sang chén khác, để tránh xúc phạm đến mầu nhiệm cực trọng [4].

Có thể xông hương lễ vật vừa đặt trên bàn thờ, rồi xông hương bàn thờ và thánh giá khi đi ngang qua, với ý nghĩa là lễ vật và lời nguyện cầu của Hội Thánh cũng như hương trầm bay lên trước tôn nhan Chúa. Sau đó, phó tế hoặc người giúp lễ có thể xông hương cho linh mục chủ tế, linh mục đồng tế và cộng đoàn. Nếu có giám mục hiện diện mà không chủ sự thánh lễ, thì có thể xông hương cho ngài sau chủ tế hoặc sau linh mục đồng tế (x. LNGM 97). Việc xông hương này là một dấu chỉ rất đẹp, vì nói lên mọi thành phần dân Chúa: chức thánh hoặc giáo dân, nhờ bí tích rửa tội, tất cả đều trở thành dân tư tế, và giờ đây, cộng đoàn dân Chúa tụ họp để tạ ơn Chúa và dâng chính mình trong thánh lễ.

Gs. Lê Ngọc Ngà

(còn tiếp)


 

[1]    THÁNH BỘ NGHI LỄ, Huấn thị Inter Oecumenici, ngày 26.9.1964, số 91; Huấn thị Musicam Sacram, ngày 05.3.1967, số 24.

[2] Sách lễ Roma, Luật chữ đỏ phần Phụng Vụ Thánh Thể , số 21.

[3] X, Ibidem, số 23 và 24.

[4] Xem Bộ Phụng Tự về Kỷ Luật Bí Tích, Huấn Thị Redemptionis Sacramentum, 2004, số 106.