SUY NIỆM TUẦN 13 THƯỜNG NIÊN - LM. VINH SƠN

SUY NIỆM TUẦN 13 THƯỜNG NIÊN

Lm. Vinh Sơn

 

 

Thứ Hai  Ngày 3 tháng 7. PAGEREF _Toc486662714 \h 1

Thứ Ba. PAGEREF _Toc486662715 \h 2

Thứ Tư. PAGEREF _Toc486662716 \h 3

Thứ Năm.. PAGEREF _Toc486662717 \h 4

Thứ Sáu. PAGEREF _Toc486662718 \h 6

Thứ Bảy. PAGEREF _Toc486662719 \h 7

 

 

Thứ Hai  Ngày 3 tháng 7

Lễ Thánh Tôma Tông Ðồ

Lễ Kính

 

Bài Ðọc I: Ep 2, 19-22

 

Anh em thân mến, anh em không còn là khách trọ và khách qua đường nữa, nhưng là người đồng hương với các Thánh và là người nhà của Thiên Chúa: anh em đã được xây dựng trên nền tảng các Tông đồ và các Tiên tri, có chính Ðức Giêsu Kitô làm Ðá góc tường. Trong Người, tất cả toà nhà được xây dựng cao lên thành đền thánh trong Chúa, trong Người, cả anh em cũng được xây dựng làm một với nhau, để trở thành nơi Thiên Chúa ngự trong Thánh Thần.

 

Phúc Âm: Ga 20, 24-29

 

Bấy giờ trong Mười Hai Tông đồ, có ông Tôma gọi là Ðiđy-mô, không ở cùng với các ông, khi Chúa Giêsu hiện đến. Các môn đệ khác đã nói với ông rằng: "Chúng tôi đã xem thấy Chúa". Nhưng ông đã nói với các ông kia rằng: "Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người thì tôi không tin". Tám ngày sau, các môn đệ lại họp nhau trong nhà, và có Tôma ở với các ông. Trong khi các cửa vẫn đóng kín, Chúa Giêsu hiện đến đứng giữa mà phán: "Bình an cho các con". Ðoạn Người nói với Tôma: "Hãy xỏ ngón tay vào đây và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin". Tôma thưa rằng: "Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!" Chúa Giêsu nói với ông: "Tôma, vì con đã thấy Thầy nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin".

 

Suy Niệm

 

“Hãy xỏ ngón tay vào đây và hãy xem tay Thầy; hãy đưa bàn tay con ra và xỏ vào cạnh sườn Thầy; chớ cứng lòng, nhưng hãy tin” ( Ga 20, 27).

Đoạn Tin Mừng trong lễ kính thánh Tôma Tông đồ hôm nay cho chúng ta chứng kiến cuộc thay đổi trong đời sống các Tông đồ, chứng kiến một cuộc đổi mới và kiện toàn đức tin nơi các Tông đồ và đặc biệt với thánh Tôma. Xưa nay Tôma vẫn bị mang tiếng là kẻ cứng lòng tin, nhưng thực ra hầu hết các Tông đồ đều như thế. Trước khi Chúa Kitô Phục Sinh hiện đến, các ông đều sống trong lo sợ, đóng kín trong căn phòng, đóng kín nơi chính mình và đóng kín trong sự không tin của mình. Nhưng chỉ có Tôma bị cho là kẻ cứng lòng vì câu nói thách thức của ông : “Nếu tôi không nhìn thấy vết đinh ở tay Người, nếu tôi không thọc ngón tay vào lỗ đinh, nếu tôi không thọc bàn tay vào cạnh sườn Người thì tôi không tin” (Ga 20, 25). Và khi đã thấy và chạm đến Chúa, ông đã công khai tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa, với một niềm tin vững vàng mạnh mẽ : “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28). Chính lòng tin mạnh mẽ đã giúp thánh nhân nhiệt thành rao giảng Tin Mừng ở Ấn độ, và can đảm chịu chết để làm chứng cho Chúa trên nước này.

Đức tin của chúng ta hôm nay dựa trên đức tin của những người đã thấy Chúa, đã sờ chạm vào Chúa, cụ thể nhất là Thánh Tôma. Chúng ta cảm ơn Thánh Tôma, vì sự cứng lòng tin của ông đã củng cố cho lòng tin của ta hơn, vì ông đã sờ chạm vào Chúa rồi mới tin, nên tâm trí ta cũng giũ bỏ được mọi nghi nan và trở nên vững vàng hơn trong đức tin.

Mừng lễ thánh Tôma cũng là dịp cho mỗi người chúng ta nhìn lại đời sống đức tin của mình, mỗi người ít nhiều cũng đã từng đụng chạm đến Chúa qua việc đọc và lắng nghe Lời Chúa, qua việc rước Mình Thánh Chúa. Thế nhưng thử hỏi ta có cảm nghiệm gì về Chúa trong cuộc đời mình chưa? Ta có mạnh dạn tuyên xưng niềm tin của mình qua lời nói cũng như hành động để làm chứng cho Chúa chưa?

Lạy Chúa Giêsu, vì lòng thương xót, Chúa đã hiện ra cho Thánh Tôma chứng kiến tận mắt, sờ tận tay để giúp ông tin tưởng vào Chúa. Xin Chúa ban thêm lòng tin cho chúng con, để mỗi lần lắng nghe Lời Chúa, mỗi lần rước Mình Thánh Chúa, chúng con cũng cảm nhận được sự hiện diện của Chúa. Amen.

 

Thứ Ba

 

Bài Ðọc I: St 19, 15-29

 

Trong những ngày ấy, các thiên thần hối thúc ông Lót rằng: "Hãy chỗi dậy đem vợ và hai con gái của ngươi đi, kẻo chính ngươi cũng phải chết lây vì tội của thành Sôđôma!" Khi ông Lót còn đang do dự, các thiên thần nắm tay ông cùng vợ ông và hai con gái ông, vì Chúa muốn cứu thoát ông. Các thiên thần kéo ông ra ngoài thành và nói: "Ngươi muốn sống thì hãy chạy đi, đừng nhìn lại phía sau; cũng đừng dừng lại nơi nào cả trong miền quanh đây, nhưng hãy trốn lên núi, để khỏi chết lây!" Ông Lót thưa: "Lạy Chúa tôi, tôi van xin Ngài: Tôi tớ Chúa đã được Chúa thương yêu, và Chúa đã tỏ lòng khoan dung đại độ gìn giữ mạng sống tôi. Tôi không thể trốn lên núi kẻo gặp sự dữ mà chết mất. Gần đây có một thành phố nhỏ, tôi có thể chạy tới đó và thoát nạn. Thành đó chẳng nhỏ bé sao, xin cho tôi ẩn tránh tại đó để được sống". Thiên thần nói: "Thôi được, ta cũng chiều ý ngươi xin mà không tàn phá thành ngươi đã nói tới. Ngươi hãy mau mau trốn thoát tới đó, vì ta chẳng làm được gì trước khi ngươi đi tới đó". Bởi đó đã gọi tên thành ấy là Sêgor.

Mặt trời vừa mọc lên thì ông Lót vào đến thành Sêgor. Vậy Thiên Chúa cho mưa sinh diêm và lửa từ trời xuống trên thành Sôđôma và Gômôra. Người huỷ diệt các thành này, cả miền chung quanh, toàn thể dân cư trong thành cùng các giống xanh tươi trên đất. Bà vợ ông Lót nhìn lại phía sau, nên đã biến thành tượng muối.

Sáng sớm (hôm sau) ông Abraham thức dậy, đi đến nơi ông đã đứng hầu Chúa trước đây, ông nhìn về phía thành Sôđôma, và Gômôra và cả miền ấy, ông thấy khói từ đất bốc lên cao như khói một lò lửa hồng.

Khi Chúa phá huỷ các thành trong miền ấy, Người đã nhớ đến Abraham mà cứu ông Lót thoát cảnh tàn phá tại các thành mà ông đã cư ngụ.

 

 

Phúc Âm: Mt 8, 23-27

 

Khi ấy, Chúa Giêsu xuống thuyền, có các môn đệ theo Người. Và đây biển động dữ dội, đến nỗi sóng phủ lên thuyền, thế mà Người vẫn ngủ. Các môn đệ lại gần đánh thức Người dậy mà rằng: "Lạy Thầy, xin cứu lấy chúng con kẻo chết mất!" Chúa phán: "Hỡi những kẻ yếu lòng tin! Sao các con nhát sợ?" Bấy giờ Người chỗi dậy, truyền lệnh cho gió và biển. Và biển yên lặng như tờ! Cho nên những người ấy kinh ngạc mà rằng: "Ông này là ai mà gió và biển đều vâng phục?"

 

Suy Niệm

 

“Lạy Thầy, xin cứu lấy chúng con kẻo chết mất!” (Mt 8, 25).

          Các Tông đồ là những người được Chúa Giêsu gọi theo Ngài, nhưng điều đó không có nghĩa là không có bão tố hoặc khó khăn thử thách xảy ra cho các ngài. Thật ra gian nan thử thách xảy đến để các ông ý thức về sự yếu đuối, mỏng dòn của mình, đồng thời đặt hết niềm trông cậy vào Chúa. Mặc dù hầu hết các Tông đồ là những dân chài đầy kinh nghiệm, nhưng trước cơn bão lớn đã làm cho các ông sợ hãi không còn tự phụ vào tài năng vượt biển của mình nữa. Trái lại, các ông ý thức mình cần đến Chúa: “Lạy Thầy, xin cứu chúng con, chúng con chết mất”. Và nhờ lời cầu nguyện đó, các ông được chứng kiến phép lạ và quyền năng của Chúa.

          Hành trình đức tin của mỗi Kitô hữu cũng thế, đôi khi cũng gặp đầy khó khăn thử thách của dông bão cuộc đời. Những lúc như thế dường như ta cũng chẳng thấy Chúa đâu, rồi ta cuống cuồng sợ hãi, có khi đánh mất cả niềm tin vào Chúa. Thật ra Chúa vẫn có đó, Ngài thấy trước mọi sự sẽ xảy ra trong cuộc đời ta. Nhưng rồi nhiều khi Ngài vẫn lặng yên như không thấy, để chính trong thử thách đó ta mới thấy sự yếu đuối và bất lực của phận người, cần phải cậy dựa vào Chúa hơn. Ai trung tín đến cùng thì sẽ thấy được phép lạ của Chúa.

          Lạy Chúa Giêsu,cuộc sống của chúng con có những lúc bình an hạnh phúc, nhưng rồi cũng có những lúc phong ba bão táp với những thất bại, tai ương, bệnh tật, khốn khó, khiến chúng con hoang mang sợ hãi. Xin cho chúng con, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào vẫn luôn tin tưởng, cậy trông và phó thác vào Chúa. Amen.

         

 

Thứ Tư

 

Bài Ðọc I: St 21, 5.8-20

 

Khi Abraham được một trăm tuổi, thì Isaac sinh ra. Ðứa trẻ lớn lên và thôi bú. Ngày Isaac thôi bú, Abraham thết tiệc linh đình. Bà Sara thấy con của Agar, người đàn bà Ai Cập, chơi với Isaac, con của bà, liền nói với Abraham rằng: "Hãy đuổi mẹ con người tì nữ này đi, vì con của người đầy tớ không được thừa hưởng gia tài cùng với con tôi là Isaac". Abraham lấy sự ấy làm đau lòng cho con mình. Chúa phán cùng Abraham rằng: "Người đừng buồn vì con trẻ, và con của nữ tì ngươi. Bất cứ Sara nói gì, ngươi hãy nghe theo vì nhờ Isaac, sẽ có một dòng dõi mang tên ngươi. Nhưng Ta cũng sẽ cho con trai của nữ tì trở thành một dân tộc lớn, vì nó thuộc dòng dõi của ngươi".

Sáng sớm, Abraham chỗi dậy,lấy bánh mì và bầu nước, đặt lên vai người nữ tì, trao con trẻ cho nàng rồi bảo nàng đi. Sau khi ra đi, nàng đến rừng Bersabê. Và khi đã uống hết bầu nước, nàng bỏ con trẻ dưới gốc cây trong rừng. Nàng ra ngồi cách xa đó khoảng tầm một tên bắn. Vì nàng nói: "Tôi chẵng nỡ thấy con tôi chết", và nàng ngồi đó, thì bên trong đứa bé cất tiếng khóc. Chúa đã nghe tiếng khóc của đứa trẻ, và thiên thần Chúa từ trời gọi Agar mà rằng: "Agar, ngươi làm gì thế? Ngươi đừng sợ, vì Thiên Chúa đã nghe tiếng đứa trẻ khóc từ chỗ nó đang nằm kia. Ngươi hãy chỗi dậy, ẵm con đi, và giữ chặt tay nó, vì Ta sẽ cho nó trở thành một dân tộc vĩ đại". Và Thiên Chúa mở mắt cho Agar, nàng thấy một giếng nước và đến múc đầy bầu nước cho đứa trẻ uống. Chúa phù trợ đứa trẻ; nó lớn lên, cư ngụ trong rừng vắng, và trở thành người có tài bắn cung tên.

 

 

Phúc Âm: Mt 8, 28-34

 

Khi ấy, Chúa Giêsu lên thuyền sang bờ bên kia, đến miền Giêrasa, thì gặp hai người bị quỷ ám từ các mồ mả đi ra, chúng hung dữ đến nỗi không ai dám qua đường ấy. Và chúng kêu lên rằng: "Lạy Ông Giêsu, Con Thiên Chúa, chúng tôi có can chi đến ông? Ông đến đây để hành hạ chúng tôi trước hạn định sao?" Cách đó không xa có một đàn heo lớn đang ăn. Các quỷ nài xin Người rằng: "Nếu ông đuổi chúng tôi ra khỏi đây, thì xin cho chúng tôi nhập vào đàn heo". Người bảo chúng rằng: "Cứ đi". Chúng liền ra khỏi đi nhập vào đàn heo. Tức thì cả đàn heo, từ bờ dốc thẳng, nhào xuống biển và chết chìm dưới nước. Các người chăn heo chạy trốn về thành, báo tin ấy và nói về các người bị quỷ ám. Thế là cả thành kéo ra đón Chúa Giêsu. Khi gặp Người, Họ xin Người rời khỏi vùng của họ.

 

Suy Niệm

 

“Họ xin Người rời khỏi vùng của họ” (Mt 8, 34).

Tin Mừng hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu trừ quỷ ở miền Giêrasa, một vùng đất của dân ngoại ở phía đông nam Hồ Galilê. Theo mô tả của Matthêu thì hai người bị quỷ ám này rất hung dữ đến nỗi không ai dám đi qua đó. Thế nhưng Đức Giêsu đã đích thân đến đó để giải thoát họ. Phép lạ trừ quỷ của Chúa Giêsu đã làm cho một đàn heo nhào xuống biển chết, một đàn heo đổi lại được hai con người. Nhưng dân thành ở đây đã không nhận ra quyền năng và sự hiện diện của Thiên Chúa, họ xin Ngài rời khỏi vùng đất của họ. Họ làm thế vì sợ phải gánh chịu những thiệt hại vật chất do sự hiện diện của con người lạ lùng này. Những lợi lộc hay những thiệt thòi vật chất có thể làm cho con người khép kín tâm hồn, trở nên mù quáng trước sự hiện diện yêu thương, bình an và cứu rỗi của Chúa.

Qua thái độ của dân thành Giêrasa, mỗi người cũng hãy tự vấn mình xem : Có khi nào vì ham mê của cải vật chất, vì đam mê xác thịt mà tôi đã thỏa hiệp với ma quỷ và khước từ Thiên Chúa không? Có khi nào tôi đã không chấp nhận để Ngài đi vào cuộc đời mình không?

Lạy Chúa Giêsu, chúng con tin Chúa là Đấng đến trần gian giải thoát chúng con khỏi xiềng xích trói buộc của ma quỷ. Nhưng rất nhiều lần, tiền tài danh vọng, của cải vật chất đã làm chúng con khép kín lòng mình không đón nhận Chúa. Xin Chúa tha thứ cho chúng con. Xin cho chúng con một cái nhìn sáng suốt để chỉ biết chọn Chúa là cùng đích của cuộc sống chúng con. Amen.

 

Thứ Năm

 

Bài Ðọc I: St 22, 1-19

 

Trong những ngày ấy, Chúa thử Abraham và nói với ông rằng: "Abraham, Abraham!" Ông đáp lại: "Dạ, con đây". Chúa nói: "Ngươi hãy đem Isaac, đứa con yêu dấu của ngươi, và đi đến đất Moria, ở đó ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi". Vì vậy ban đêm Abraham chỗi dậy, thắng lừa, dẫn theo hai đầy tớ và Isaac, con của ông; khi đã chặt củi dành để đốt của lễ toàn thiêu, ông đi đến nơi Chúa đã truyền dạy. Ðến ngày thứ ba, ngước mắt lên, ông thấy nơi còn xa xa; ông bảo các đầy tớ rằng: "Các ngươi và con lừa hãy đợi tại đây. Ta và con trẻ đi đến nơi kia, sau khi cử hành việc thờ phượng xong, chúng tôi sẽ trở lại đây với các ngươi". Ông lấy củi dành để đốt của lễ toàn thiêu mà đặt trên vai Isaac, con ông, còn ông thì cầm lửa và gươm. Khi cha con cùng đi trên đường, Isaac hỏi cha mình rằng: "Thưa cha". Ông Abraham trả lời: "Hỡi con, con muốn gì?" Isaac nói: "Củi và lửa có đây rồi, còn của lễ toàn thiêu ở đâu?" Ông Abraham đáp: "Hỡi con, Thiên Chúa sẽ dự liệu của lễ toàn thiêu". Vậy hai cha con tiếp tục cùng đi.

Khi hai người đến nơi Chúa đã chỉ, Abraham làm một bàn thờ và chất củi lên, rồi trói Isaac lại, đặt lên đống củi trên bàn thờ. Abraham giơ tay lấy dao để sát tế con mình. Bấy giờ thiên thần Chúa từ trời gọi ông rằng: "Abraham! Abraham!" Ông thưa lại: "Dạ, con đây". Người nói: "Ðừng giết con trẻ và đừng động đến nó, vì giờ đây, Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta". Abraham ngước mắt lên, thấy sau lưng mình có con cừu đực đang mắc sừng trong bụi cây, Abraham liền bắt nó và tế lễ thay cho con mình. Ông gọi tên nơi này là "Chúa trông thấy". Bởi vậy, mãi cho đến ngày nay, người ta quen nói rằng "Trên núi Chúa sẽ trông thấy".

Thiên thần Chúa gọi Abraham lần thứ hai và nói rằng: "Chúa phán: Ta thề rằng: vì ngươi đã làm điều đó, ngươi không từ chối dâng đứa con duy nhất của ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho ngươi, Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển; miêu duệ ngươi sẽ chiếm cửa thành quân địch, và mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi, vì ngươi đã vâng lời Ta".

Ông Abraham trở về cùng các đầy tớ, và họ cùng nhau đi về Bersabê, và lập cư tại đó.

 

Phúc Âm: Mt 9, 1-8

 

Khi ấy, Chúa Giêsu xuống thuyền, vượt biển mà về thành của Người. Bấy giờ người ta đem đến cho Người một kẻ bất toại nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin, Chúa Giêsu nói với người bất toại rằng: "Hỡi con, con hãy vững tin, tội con được tha rồi". Bấy giờ mấy luật sĩ nghĩ thầm rằng: "Ông này nói phạm thượng". Chúa Giêsu biết ý nghĩ của họ liền nói: "Tại sao các ngươi suy tưởng những sự xấu trong lòng? Bảo rằng "Tội con được tha rồi", hay nói "Hãy chỗi dậy mà đi", đàng nào dễ hơn? Nhưng (nói thế là) để các ngươi biết rằng trên đời này Con Người có quyền tha tội". Bấy giờ Người nói với người bất toại: "Con hãy chỗi dậy, vác giường mà về nhà con". Người ấy chỗi dậy và đi về nhà. Thấy vậy dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người quyền năng như thế.

 

Suy Niệm

 

“Tại sao các ngươi suy tưởng những sự xấu trong lòng?” (Mt 9, 4).

Qua phép lạ chữa người bất toại, Chúa Giêsu chứng tỏ quyền năng của Ngài không phải chỉ trên bệnh tật của con người, nhưng nhất là quyền năng tha tội của ngài: “tội con được tha rồi”. Chúa Giêsu muốn mạc khải cho con người biết Ngài là Thiên Chúa, là Đấng có quyền tha tội. Thế nhưng chính câu nói đó lại trở nên cớ vấp phạm cho những người luật sĩ: họ đã kết án Chúa là kẻ phạm thượng. Thật ra ngay từ đầu họ đã có thành kiến không tốt về Chúa Giêsu, họ không muốn nhìn nhận sự thật về con người của Ngài. Vì giả như họ không nhận ra Ngài là Con Thiên Chúa, thì ít ra cũng phải nhận Ngài là một vị đại tiên tri, vì dân chúng vẫn coi Ngài như thế. Chính do lòng ghen ghét, đố kị khi thấy Chúa Giêsu làm nên những phép lạ cả thể mà họ tìm cách dèm pha, xuyên tạc. Chúa Giêsu đã lên tiếng: “Tại sao các ngươi suy tưởng những sự xấu trong lòng?”.

Qua thái độ của những người luật sĩ, mỗi người cũng xem lại mình : tôi có biết nghĩ tốt cho anh chị em mình không ? Hay tôi cũng ganh ghét, đố kị khi người khác hay hơn mình, giỏi hơn mình, làm tốt hơn mình để rồi đặt điều vu khống, nói xấu họ... ?

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con có được tấm lòng, tư tưởng và cái nhìn của Chúa, để chúng con biết nhìn mọi cái trong tình yêu và sự thật; sự thật về Chúa, sự thật về anh chị em, sự thật về mình, nhất là nhìn nhận thân phận tội lỗi của mình và đến với Chúa qua bí tích giải tội để được ơn tha thứ. Amen.

 

Thứ Sáu

 

Bài Ðọc I: St 23, 1-4. 19; 24, 1-8. 62-67

 

Bà Sara được một trăm hai mươi bảy tuổi thì qua đời tại thành Cariatharbê, tức là Hêbron, trong đất Canaan. Ông Abra-ham đến khóc lóc thương tiếc bạn mình. Khi lo việc chôn cất, Abraham chỗi dậy nói với các con ông Hét rằng: "Tôi là ngoại bang, là khách lạ giữa quý ông, xin quý ông nhượng cho tôi một phần mộ để chôn xác người nhà tôi qua đời". Rồi Abraham chôn cất bà Sara vợ ông trong Hang Ðôi ngoài đồng ruộng, đối diện với Mambrê, tức Hêbron, trong đất Canaan.

Khi ấy, Abraham đã già nua, và Chúa đã chúc lành cho ông trong mọi sự. Abraham nói với người đầy tớ lớn tuổi nhất trong nhà, cũng là người quản lý mọi của cải của ông rằng: "Ngươi hãy đặt tay vào dưới bắp vế ta mà thề trước mặt Chúa là Thiên Chúa trời đất, sẽ không cưới cho con ta một người vợ thuộc dân Canaan mà ta đang ở chung với họ đây. Ngươi hãy đi về quê họ hàng ta, mà cưới vợ cho con ta là Isaac". Người đầy tớ thưa lại: "Nếu người phụ nữ không muốn theo tôi về xứ này, thì tôi có phải đem con trai ông về quê quán của ông chăng?" Abraham trả lời rằng: "Ngươi hãy cẩn thận chớ bao giờ dẫn con ta về đó: Chúa là Thiên Chúa, đã đưa ta ra khỏi nhà cha ta và quê quán ta, đã phán và thề hứa cùng ta rằng: "Ta sẽ ban đất này cho dòng dõi ngươi". Thiên Chúa sẽ sai thiên thần đi trước mặt ngươi, và ngươi cưới cho con trai ta một người vợ trong xứ đó. Nếu người phụ nữ không chịu theo ngươi về, thì ngươi không còn mắc lời đoan thề mà ta bảo người đây. Chỉ có một điều là đừng dẫn con trai ta về nơi đó".

Khi ấy, Isaac đi bách bộ trên đường dẫn đến cái giếng gọi là "Ðấng Hằng Sống và Trông Thấy", vì ông cư ngụ tại mạn nam. Lúc gần tối, Isaac đi ra ngoài cánh đồng để suy ngắm. Khi ngước mắt lên nhìn, thấy những con lạc đà đang trở về từ đàng xa. Rêbecca cũng ngước mắt nhìn thấy Isaac, nàng liền nhảy xuống khỏi lạc đà, và hỏi người đầy tớ rằng: "Người đang đi trong cánh đồng để ra đón chúng ta là ai vậy?" Người đầy tớ đáp: "Người đó là chủ tôi đấy". Nàng vội vàng lấy khăn che mặt. Người đầy tớ lại kể lại cho Isaac hay mọi việc mình đã làm. Isaac đưa Rêbecca vào nhà xếp của Sara mẹ ông, ông lấy nàng làm vợ và yêu thương nàng lắm, cho nên ông tìm được niềm an ủi bớt thương nhớ mẹ đã qua đời.

 

Phúc Âm: Mt 9, 9-13

 

Khi ấy, Chúa Giêsu đi ngang qua, thấy một người ngồi ở bàn thu thuế, tên là Matthêu. Người phán bảo ông: "Hãy theo Ta". Ông ấy đứng dậy đi theo Người. Và xảy ra là khi Người ngồi dùng bữa trong nhà, thì có nhiều người thu thuế và tội lỗi đến ngồi đồng bàn cùng Chúa Giêsu và các môn đệ của Người. Những người biệt phái thấy vậy, liền nói với các môn đệ Người rằng: "Tại sao Thầy các ông lại ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi như thế?" Nghe vậy, Chúa Giêsu bảo rằng: "Người lành mạnh không cần đến thầy thuốc, nhưng là người đau yếu! Các ông hãy đi học xem lời này có ý nghĩa gì: "Ta muốn lòng nhân từ, chứ không phải là hy lễ". Vì Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng kêu gọi người tội lỗi".

 

Suy Niệm

 

“Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9, 13).

Đối với người Dothái, những ai làm nghề thu thuế đều bị coi là tay sai cho đế quốc và là quân tội lỗi. Không những thế, bất cứ ai tiếp xúc với hạng người này đều bị coi là ô uế. Matthêu làm nghề thu thuế, một gười tội lỗi công khai dưới con mắt của những người Biệt phái. Thế nhưng Chúa Giêsu vẫn chọn gọi ông làm môn đệ của Ngài. Qua đó cho chúng ta thấy lòng thương xót của Chúa đối với các tội nhân. Thật vậy, Chúa Giêsu đến trần gian trước tiên là cho những người tội lỗi, hèn mọn, bị người đời khinh miệt và loại trừ. Bởi vì “người đau yếu mới cần thầy thuốc”.

Người Kitô hữu là môn đệ Chúa, nhưng có lẽ chẳng ai dám tự nhận mình là người công chính, vì hằng ngày vẫn đầy những lỗi lầm và thiếu xót. Điều quan trọng là ta biết khao khát vươn lên trong sự thánh thiện, bằng sự sám hối và dứt khoát với tình trạng tội lỗi của mình như Matthêu đã dứt khoát từ bỏ nghề thu thuế để đi theo Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con tin Chúa là Đấng giàu lòng thương xót. Trái tim Chúa luôn rộng mở để đón nhận, để yêu thương tất cả mọi người, nhất là những người tội lỗi. Tất cả chúng con,trước mặt Chúa đều là những tội nhân. Xin cho chúng con dứt khoát từ bỏ tội lỗi của mình và sẵn sàng trở về với Chúa. Amen.

 

Thứ Bảy

 

Bài Ðọc I: St 27, 1-5. 15-29

 

Isaac đã già, mắt loà không còn trông thấy được nữa. Ông gọi con trai cả là Êsau mà bảo rằng: "Hỡi con". Êsau thưa: "Dạ, con đây". Ông nói tiếp: "Con thấy cha đã già rồi, cha không biết ngày nào cha chết. Con hãy lấy khí giới: cung, tên, rồi đi ra ngoài; khi săn được gì, con hãy lấy mà dọn món ăn mà con biết cha ưa thích, rồi đem cho cha ăn, và cha sẽ chúc lành cho con trước khi cha chết".

Bà Rêbecca nghe lời ấy (...) và khi Êsau ra đồng để thi hành lệnh của cha (...) thì bà lấy áo tốt của Êsau mà bà vẫn giữ trong nhà, đem mặc cho Giacóp. Bà lấy da dê mà bọc tay và quấn cổ Giacóp. Ðoạn bà lấy cháo và bánh đã nấu trao cho Giacóp...

Giacóp bưng lên cho cha mà nói rằng: "Thưa cha". Isaac nói: "Cha nghe rồi. Hỡi con, con là ai?" Giacóp thưa: "Con là Êsau trưởng nam của Cha. Con đã làm như cha dạy, xin cha chỗi dậy, ngồi ăn thịt con đã săn được để cha chúc lành cho con". Isaac lại nói với con: "Hỡi con, lẽ nào con săn được mau như thế?" Giacóp thưa: "Thánh ý Thiên Chúa đã định, nên con chóng được như ý muốn". Isaac bảo rằng: "Hỡi con, con hãy lại đây để cha rờ thử xem con có phải là Êsau con của cha hay không". Giacóp tiến lại gần cha. Isaac rờ con mà nói: "Tiếng nói là tiếng Giacóp, còn tay lại là tay Êsau". Ông không nhận ra được, vì tay (cậu) có lông như tay anh cả. Vậy ông chúc lành cho con mà nói: "Con có phải là Êsau con cha thật không?" Giacóp đáp: "Thưa phải". Ông nói tiếp: "Hỡi con, hãy đem cho cha ăn thịt săn của con, để cha chúc lành cho con". Khi ông ăn đồ con đem đến xong, con ông lại đem rượu cho ông uống. Uống xong, ông bảo con rằng: "Hỡi con, hãy lại đây hôn cha". Giacóp lại gần hôn cha; ông ngửi thấy mùi thơm của bộ áo con, thì chúc lành cho con mà rằng: "Mùi thơm của con ta như mùi hương cánh đồng phì nhiêu mà Chúa đã chúc phúc. Xin Thiên Chúa ban cho con những giọt sương trời, giải đất mầu mở, lúa miến và rượu nho dư đầy. Các dân tộc sẽ suy phục con, các chi họ sẽ sấp mình trước con. Con hãy làm chủ các anh em con, các con cái của mẹ con sẽ phủ phục trước mặt con. Ai nguyền rủa con, thì sẽ bị nguyền rủa; và ai chúc lành cho con, thì sẽ được đầy phúc lành".

 

Phúc Âm: Mt 9, 14-17

 

Khi ấy, [Chúa Giêsu sang miền Giêsarênô,] các môn đệ Gioan đến gặp Người mà hỏi: "Tại sao chúng tôi và những người biệt phái thì giữ chay, còn môn đệ của Ngài lại không?" Chúa Giêsu nói với họ rằng: "Làm sao các khách dự tiệc cưới có thể buồn rầu khi tân lang đang còn ở với họ? Rồi sẽ có ngày tân lang ra đi, bấy giờ họ mới giữ chay. Không ai lấy vải mới mà vá vào áo cũ, vì miếng vải mới làm áo dúm lại, và chỗ rách lại càng tệ hơn. Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, chẳng vậy, bầu da vỡ, rượu đổ ra, và bầu da hư mất. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu da mới, và cả hai được nguyên vẹn".

 

Suy Niệm

 

“Làm sao các khách dự tiệc cưới có thể buồn rầu khi tân lang đang còn ở với họ?”(Mt 9, 15).

Theo truyền thống Do thái giáo, việc giữ chay được liên kết chặt chẽ với việc chờ đợi Đấng Cứu Thế. Qua việc Chúa Giêsu và các môn đệ không giữ chay, Ngài muốn cho mọi người biết rằng Ngài chính là Đấng Cứu thế. Do đó các môn đệ không cần giữ chay, vì họ không cần phải trông đợi nữa. Đó là thái độ hợp thời và hợp lý: họ đang sống bên Chúa Giêsu, thái độ của họ không phải là thái độ buồn sầu, khóc lóc. Thời của Đấng Cứu thế không phải là thời của tang chế, ủ dột, mà là thời của niềm vui.

Mỗi người chúng ta khi được rửa tội đều được gọi là Kitô hữu, nghĩa là người có Chúa Kitô. Do đó, tâm tình thường xuyên của chúng ta phải là vui mừng luôn trong Chúa. Thế nhưng, nói theo kiểu của Đức Giáo Hoàng Phanxicô “có những kitô hữu sống như chỉ có Mùa Chay mà không có Phục Sinh” (EV số 6). Vì thế, niềm vui của Tin Mừng phải tràn ngập tâm hồn ta, và niềm vui ấy cần phải được lan tỏa sang những người sống quanh chúng ta bằng đời sống yêu thương, phục vụ, chia sẻ, giúp đỡ cho những anh chị em kém may mắn hơn mình.

          Lạy Chúa Giêsu, xin phá tan trong chúng con mọi ưu sầu phiền muộn. Xin đổ đầy tình yêu của Chúa xuống trong tâm hồn chúng con, để cuộc đời chúng con chan hòa niềm vui, và để niềm vui ấy trải dài nơi mọi người chúng con gặp gỡ. Amen.