CHUYỆN VÀM NHON

CHUYỆN VÀM NHON

 

WCT: Để tiện cho quý vị theo dõi chuyện Họ Định Môn (Vàm Nhon) với bà Năm Thiều và Thầy Piô Hậu.  Chúng tôi xin trích đăng lại 2 bài viết: một của cha Piô Hậu và một của tác giả Vô Hạ.

 

 

BÀ NĂM.. PAGEREF _Toc489786070 \h 1

CHÚT DUYÊN VỚI THẦN PHỤ PIÔ NGÔ PHÚC HẬU.. PAGEREF _Toc489786071 \h 5

 

 

 

 

BÀ NĂM

Cha Piô Hậu

Nhật ký truytền giáo

 

Ô Môn, mùa hè 1963

 

Mình xách môbylét đi một đường, vừa đi vừa liếc, lòng thầm cầu nguyện để Chúa chọn cho người truyền giáo một nơi dừng chân. Tự nhiên lòng mình thấy ấm hẳn lên khi nhác thấy một căn nhà lá có trồng cây lựu ở phía trước. Trái lựu to bằng nắm tay đang đánh đu theo gió. Như một phản xạ, mình lái môbylét vào tới hàng ba, làm bộ ngắm nghía cây lựu.

 

Bà chủ nhà, nét mặt hiền từ, mái tóc muối tiêu, nghe tiếng xe nổ và tắt máy vội vàng chạy ra.

 

- Thầy kiếm ai đó ?

 

- Chào bác. Cây lựu dễ thương quá, cho tôi ngắm một tí.

 

- Thì vô trong nhà uống nước đã.

 

- Bác thứ mấy để tôi xưng hô cho dễ.

 

- Tôi thứ năm. Thứ của ông nhà tôi.

 

- Thế bác trai đi đâu rồi, bà Năm ?

 

- Ông tôi mất từ lâu rồi.

 

- Bây giờ bà Năm ở với ai ?

 

- Có hai bà cháu à. Thầy ở đâu mà vô đây ?

 

- Tôi ở Ô Môn vô đây dạy giáo lý. Sáng vô, chiều về. Đi tới đi lui thấy bất tiện quá. Tôi muốn ở lại đây luôn, mà chưa kiếm được chỗ nào ở cho thuận lợi.

 

- Thì thầy ở đây với tôi. Nhà rộng rinh à. Thầy ở đây thì cũng như con cháu trong nhà chứ gì.

 

- Thế bà Năm theo đạo nào ?

 

- Tôi chẳng theo đạo nào hết. Thờ ông bà vậy thôi.

 

- Cám ơn Chúa. Cám ơn bà Năm. Vậy ngày mai tôi vô ở luôn nhá.

 

- Ừa .

 

-------------------------------------------------------------------------------

 

Định Môn, ... 1963

 

Mình ở đây được một tuần lễ rồi. Nhà bà Năm vắng như một cái am. Thằng cháu trai của bà thì đi chơi xóm. Mình thì đi dạy giáo lý từ nhà này qua nhà khác. Bà Năm thì lúi cúi tối ngày với mấy liếp vườn. Tối về, mình chui vô mùng ngồi xếp bằng đọc kinh tối. Còn bà Năm thì thắp nhang lâm râm khấn vái. Bà Năm thì ít mồm, còn mình thì ít miệng. Chẳng ai nói với ai lời nào. Thời gian cứ thế mà trôi đi. Âm thầm và lặng lẽ... Còn Chúa Thánh Thần thì lại thích hoạt động trong sự im lặng.

--------------------------------------------------------------------------------

 

Định Môn, ... 1963

 

Tối nay mình dạy giáo lý tại nhà ông Sáu Đền. Ông Sáu Đền có một bầy con chưa rửa tội. Bà Sáu Đền bây giờ mới chịu học giáo lý để hợp thức hóa hôn phối với ông Sáu. Bà con trong xóm đến nghe lỏm, ngồi đầy hết hai bộ ván. Còn bà Năm thì xách theo cái ghế đẩu đến ngồi ở hàng ba, khi ẩn khi hiện, thập thò như con thòi lòi dưới gốc dừa nước. Không biết bà có bắt được cái giọng "huế" của mình chăng ? Không biết bà có tin Chúa chăng ? Nhưng có một điều chắc chắn là tối nay bà Năm không còn ít mồm nữa. Bà bắt đầu hỏi chuyện, chuyện giáo lý.

 

- Tôi thấy thầy giảng về Chúa. Cái gì của Chúa tôi cũng chịu hết, mà có một điều này là tôi không chịu. Thầy giải thích được cho tôi thì tôi theo đạo liền.

 

- Điều gì thế bà Năm ?

 

- Thầy nói : Chúa yêu thương người ta vô cùng, vậy tại sao Chúa để cho các bà mẹ sanh con cực khổ như thế : chín tháng cưu mang, sanh con rứt ruột, ba năm bú mớm... Tại sao Chúa không để đàn bà sanh con dễ dàng như con gà : đẻ xong là kêu quác quác, cục te, cục tác… rồi đi bươi như không có đau đớn gì?

 

- Bà Năm suy nghĩ hay quá. Vậy tôi xin tạm giải thích nhá. Chúa cho má bà Năm sanh ra bà Năm dễ như con vịt cũng được. Nhưng tôi sợ rằng nếu mẹ sanh con không đau đớn, không cực khổ thì tình mẫu tử có thể giảm sút. Nếu mẹ không khổ vì con, thì e rằng con sẽ ít hiếu thảo. Cụ thể là nếu má bà Năm sanh bà Năm như gà đẻ trứng, thì chắc chắn má không thương bà Năm nhiều đâu, mà bà Năm cũng chẳng hiếu thảo với má như thế đâu. Người ta thí nghiệm chích thuốc cho một con bò sanh con không đau, thế là khi con bê đòi bú, mẹ nó đá không cho bú. Vậy thay vì buồn Chúa, bà Năm phải cám ơn Chúa mới phải.

 

Bà Năm có vẻ thấm ý. Mình tấn công luôn :

 

- Bây giờ bà Năm chịu vô đạo chưa ?

 

- Thủng thẳng, để tôi còn suy nghĩ.

-------------------------------------------------------------------------------

 

Ô Môn, ... 1963

 

Mình đã kết thúc một tháng truyền giáo ở Định Môn và giã từ bà Năm vào sáng hôm nay. Còn bà Năm thì đã giã từ mình vào tối hôm qua.

 

Tối hôm qua. sau giờ giáo lý ở nhà ông Sáu Đền, mình về nhà bà Năm để chui vô mùng, ngồi xếp bằng đọc kinh tối như thường lệ. Nhưng người ở đâu mà đông thế ? Có lẽ bà Năm cúng cơm cho ông Năm, mình nghĩ bụng vậy. Bà Năm bưng ra hai mâm cháo vịt đặt trên hai bộ ván, rồi bà long trọng tuyên bố lý do :

 

- Ngày mai ông thầy đi rồi. Từ ngày ông thầy đến ở đây với tôi chưa ăn với tôi bữa cơm nào. Hôm nay tôi đãi ông thầy nồi cháo vịt. Bà con ăn cháo để từ giã ông thầy.

 

Mình ngẩn tò te. Quả thật, bà Năm ít miệng và kín miệng quá. Nấu cháo vịt đãi mình mà mình không hề hay biết gì. Bây giờ mình đứng xớ rớ chẳng biết đáp từ ra sao. Chỉ biết nói một lời :

 

- ”Cám ơn bà Năm, cám ơn bà con” , rồi kéo giò lên bộ ngựa húp cháo với bà con. Thì ra ngày đến cũng như ngày đi : một người ít mồm, một người ít miệng với căn nhà lặng lẽ, bên cạnh cây lựu có một trái cô đơn, lặng lẽ đánh đu với gió.

 

--------------------------------------------------------------------------------

 

Sài Gòn, ... 1964

 

Hôm nay cha sở Ô Môn viết thư báo tin : ”Bà Năm đã được rửa tội và hiện đang giữ đạo thật sốt sắng. Tạ ơn Chúa. Bà Năm nhắc thầy nhiều lắm. Kỳ hè này thầy nhớ tặng quà cho bà”.

 

Mình ôn lại tất cả mọi kỷ niệm về bà Năm với một tấm lòng biết ơn và cảm mến. Bà Năm hiền như củ khoai, lặng lẽ như con sò, cần cù như con kiến. Xóm giềng ai cũng thương. Điều đặc biệt là bà rất thương bà Năm lớn. Ông Năm chết đi để lại hai bà vợ, bà Năm lớn và bà Năm nhỏ. Hai bà ở hai căn nhà liền ranh. Bà Năm lớn sắc sảo với cặp mắt long lanh và đôi môi mỏng tanh. Bà Năm nhỏ thì hiền từ với đôi môi hơi dày. Bà Năm lớn có vẻ tự cao tự đại. Bà Năm nhỏ thì khiêm tốn hiền hòa. Họ chẳng cãi nhau, chẳng nói xấu nhau bao giờ. Nồi chè nồi cháo bên này đều được san sớt sang bên kia. Không biết bà Năm lớn có theo đạo như bà Năm nhỏ không nhỉ ?

 

--------------------------------------------------------------------------------

 

Ô Môn, ... 1964

 

Hôm nay mình vô Định Môn thăm bà Năm nhỏ. Mình tặng cho bà một chuỗi hột tuyệt đẹp. Hôm nay mình mới thấy bà Năm cười hết cỡ. Cái môi dày của bà được kéo mỏng ra. Bà nhí nhảnh hỏi ngay :

 

- Thầy có cho bà Năm lớn một chuỗi không ?

 

- Tôi chỉ có một chuỗi tặng bà Năm thôi.

 

- Vậy thì tôi hổng nhận đâu. Hai chị em tôi phải đồng đều. Tôi theo đạo, bà Năm lớn cũng theo đạo. Tôi có chuỗi hột, thì bà Năm lớn cũng phải có.

 

Mình tiu nghỉu bỏ chuỗi hạt vào túi và định bụng đi Sàigòn mua một chuỗi nữa để tặng đồng đều cho hai bà vợ của một người đã chết. Quả thật trên đời có nhiều chuyện lạ.

 

Chuyện lạ thứ nhất :

 

Là hai bà vợ không ghen nhau mà yêu nhau như chị em ruột.

 

Chuyện lạ thứ hai :

 

Là Thánh Thần lợi dụng chế độ đa thê để ban đức tin theo kiểu hốt hụi.

 

Quả thật Chúa Thánh Thần là “Đấng sửa lại mọi sự trong ngoài chúng tôi” . Người muốn thổi đâu thì thổi. Người đến từ đâu : không biết; Người sẽ đi đâu : không biết. Chỉ biết một điều là có Ngài và Ngài là chủ chốt của sự nghiệp truyền giáo.

 

 

***

 

CHÚT DUYÊN VỚI THẦN PHỤ PIÔ NGÔ PHÚC HẬU

Vô Hạ

 

 

 

NB. xin ghi lại đôi hàng những gì đã thấy, được và bị nghe đó đây, mà còn nhớ, theo kiểu thuật nhi bất tác. Trong Tự Điển Hán Việt, Đào Duy Anh, Trường Thi 1957, Duyên là noi theo, liên lạc, liên hệ, viền mối, nguyên nhân sinh ra sự việc ...

 

Khoảng năm 1964, Cha Piô Hậu mới chịu chức Linh Mục, về làm phó xứ Ô Môn cho Cha Antôn Nguyễn Hữu Văn. Hai Cha coi luôn họ lẻ Định Môn (Vàm Nhon) non trẻ, cách Ô Môn   khoảng 5km. vừa hồi sinh năm 1964. Hai Cha cũng kiêm nhiệm luôn họ đạo lâu đời Thới Lai  cách Định Môn chừng 5 cây số nữa về hướng Tây Nam.

 

Mùa hè năm sau, 1965 khi Tiểu Chủng Viện Á Thánh Quý bãi trường trước Lễ Thánh Thủy (Phục Sinh) kẻ nầy và đứa em về họ đạo nhà quê nội, vì không có Linh Mục sở tại. Một sáng Chúa Nhật, cha tôi dẫn cả nhà, chạy ghe với máy Kohler, 10 cây số mới tới chợ Ô Môn, (ở Việt Nam cũng coi như quãng đường xa) đi lễ  nhà thờ của Cha Hậu. Sau Thánh Lễ, cha tôi đưa hai anh em chúng tôi và người em bà con cô cậu là Lê Văn Đình vào thăm cha Hậu. Cha dặn: Thứ Năm Tuần Thánh tới (trong ba ngày) ba cậu (một lối gọi 3 đứa) ra đây ở để mừng Lễ Phục Sinh. Tới nay, mình khó gặp được vị nào đối đãi với mấy kẻ nông dân con, chân bùn tay lấm, ân cần như vậy.

 

Trong cuộc chiến tranh giai đoạn 1954-1975 có rất nhiều gia đình nông thôn phải tản cư ra vùng ven đô, chợ búa, thành thị tìm nơi an toàn. Cả nhà chúng tôi cũng vậy.

 

Năm 1964, họ đạo quê nhà, tính theo đường chim bay, chỉ cách phía tây phi trường Trà Nóc, Bình Thủy cỡ 10 cây số ngàn, vậy mà cũng bị 37 trái bom lớn nhỏ, trong số đó, ít là hai trái lớn rơi cách nhà thờ chừng 60 thước. Nhà thờ chỉ tuôn mái ngói mà không bị sập, nhưng có hai ông bổn đạo ở bên ngoài tử thương.

 

Sau trận bom đó, cha mẹ tôi dọn ra, ở đậu nhà bà Năm Thiều Nhỏ gần đầu rạch (ấp) Vàm Nhon, chỗ khúc sông nhỏ ăn thông với mé sông lớn từ Ô Môn chảy vào ngang chợ Thới Lai.

 

Trong Nhật Ký Truyền Giáo, Cha Hậu có ghi câu chuyện Bà Năm nầy, mà dân trong xóm gọi là bà Năm Nhỏ; mà nếu lỡ có nghe ai nói sau lưng, bà cũng không phiền chi hết. Tại sao gọi bà là nhỏ? 

 

Ở tại đầu Rạch Vàm Nhon, bên hương lộ giao thông và sông lớn, cách quê nội chỉ 6 km, nhưng ít bom đạn hơn, anh em chúng tôi ngủ trên bộ ván nhà Bà Năm Nhỏ, nơi mà hai năm trước Thầy Piô Ngô Phúc Hậu, thuở ấy còn làm thầy giúp họ đạo tháng hè 1963, đã tá túc ban đêm và dạy giáo lý cho lối xóm. Tại sao chúng tôi có liên hệ với bộ ván mà Thầy Hậu ngủ tháng hè năm trước?

 

Số là như vầy: Ông Năm Thiều là một hương chức có tiếng, vì thời đó ít người biết đọc viết được tiếng Tây (Pháp) nên có nhiều thời kỳ Ông làm xã trưởng lâu dài, ngày trước còn gọi là Ông Cả, tại xã Định Môn nầy. Thời phong kiến, trai năm thê bảy thiếp là chuyện bình thường. Ông Năm cưới có hai người vợ hợp pháp, không ai lấy làm lạ hay nói hành nói tỏi chi ráo.

 

Phải công bằng mà nói,  khoảng 1945, vùng sáu xã chung quanh Cần Thơ ít ai có vợ hai. Ông Năm cưới bà vợ đầu đời, do cha mẹ và cả ông đồng ý, rồi có một loạt 4 cô con gái xinh đẹp, nhưng ông cần có con trai nối dòng. Nên bà lớn cưới bà sau cho ông và hai bà thuận thảo như chị em ruột ít khi nào thấy trên cõi đời nầy, cùng phục vụ một Đức Ông Chồng suốt đời. Nhưng không như ý ông, bà vợ sau sanh đứa con đầu lòng, cũng là con duy nhất, lại là gái. được xếp vào hàng con chung, theo thứ tự, gọi là Cô Sáu (theo thói quen, dân Nam Bộ tính con đầu lòng là thứ hai). Ông được năm cô con gái một dọc, gọi là “Ngũ Long Công Chúa”. Cũng may, vào tuổi trung niên, tuy hơi hơi muộn, duyên lành ông trổ, nhưng chỉ lưng chừng, vì đứa con trai cầu khẩn xếp hàng thứ Bảy, cũng là út, ra đời từ bà lớn. Và kẻ viết nầy, có chút duyên nhỏ, đi học năm vỡ lòng với Thầy Bảy con Ông Năm, khoảng năm 1956-1957. Rồi năm sau, thầy lên Sài Gòn, bị tai nạn, qua đời còn độc thân.

 

Cuối cùng, số Ông Năm Thiều không có cháu trai nối dõi tông đường và giữ phần hương khói. Dân gian hay nói: “bôn ba, chẳng qua thời vận” hoặc “mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên”  toan tính do người, nhưng kết qủa do Trời. Dù vậy, trên bản đồ hành chính và địa dư, tên ông được đặt cho một con sông đào nhỏ làm lối đi tắt, là Kinh Năm Thiều, dài 1800m trong ấp Định Khánh B. Dưới là sông nước, trên là hương lộ chính nối liền giáp giới hai xã Định Môn và Trường Thành, vì ông là người tổ chức đào kinh hoặc vét con kinh nầy đầu thế kỷ 20 trước.

 

Theo như người cô thứ hai kể lại. Cha tôi là con thứ năm trong gia đình của ông bà nội tôi, lúc còn  thanh niên độc thân, trong khoảng 1936-1948, có nhiều lần đi làm ruộng mướn cho gia đình nầy.  Dòng con lớn của Ông Năm Thiều, có  bốn cô con gái và đứa con trai út thứ bảy. Trong số đó, người con gái thứ tư, xứng đôi vừa lứa mà cả hai nhà đều muốn kết hợp cho người thanh niên độc thân, thật thà chí thú làm ăn trên. Có những mùa lúa chín, người lớn hai bên thả lang cho hai cô cậu đương thời nầy, đi làm lúa tự do khuya khoắt trên đồng nội. Theo như kể lại: cha tôi thứ nhất sợ tội, thứ nhì sợ người ngoại (xin lỗi, từ nầy là nguyên văn của nhiều người Công Giáo trước đây) nên chuyện duyên phận, nợ đời của ông không ghé vào bến đó. Suy cho kỹ lại, dù con người có toan tính hay tránh né, cũng tại Nguyệt Lão thiếu chỉ hồng hoặc quên sót tên của hai người ấy.

 

Đã nhiều lần, mình thử thăm dò mấy cụ thế hệ trước coi trai gái độc thân, đang độ thanh xuân, mà ưa  thích nhau thời đó, trong những dịp riêng tư, có giữ mình được không, thì đa số trả lời rằng: được, vì trai thời trước, bất luận  đạo nào, cũng còn quê mùa dữ lắm, đa số còn tuân giữ luân thường đạo lý, còn biết tự trọng, không muốn để cho phụ nữ khinh mình là kẻ bốc hốt, lăng loàn, trắc nết. Chả bù cho thời nay, trong một bài hát Ban Nhạc AVT nhạo đời: hai đứa chúng nó mới quen nhau thôi, chưa chi bỗng chốc thấy cô dâu đã có bầu. Thế mà đi hỏi thăm thầy. Thầy bèn gieo quẻ luận bàn: cập nầy vô hậu và thật là hiếm hoi.

 

Sau khi Ông Năm Thiều đi rồi khoảng năm 1958 Bà Năm Lớn dọn ra, cất một căn nhà khác cách nhà trước cỡ trăm thước tây. Khoảng năm 1970, Bà Năm Lớn đã hiến miếng đất kế bên nhà bà, cho Dòng Chúa Quan Phòng Cần Thơ cất thí điểm truyền giáo và làm nhà thờ Định Môn hiện tại. Cả hai bà sau nầy đều theo đạo tử tế, chết thánh thiện bình an, được con đàn cháu đống (người theo đạo, kẻ chưa) đốt nhang tưởng niệm mỗi ngày và cúng giỗ hàng năm, kèm theo lễ lạc cầu Chúa cho cả hai Bà. Trong Nhật Ký Truyền Giáo, Cha Hậu gọi chuyện đó là: Đức ChúaThánh Thần úp hai bà trọn bộ. Nhưng thời kỳ nầy, nếu ai ham mà bắt chước Ông Năm, thì e mất hết cả chì chài, xe cộ.

 

Năm1965 hay 1966 Cha Hậu đổi đi làm phó xứ nhà thờ Chính Tòa và Giám Đốc Trường Trung Học uy tín Đồng Tâm Cần Thơ. Nói tới đây, phải thành thật khong khen Đức Cha Nguyễn Ngọc Quang lúc đó biết sử dụng nhân tài đúng chỗ.

 

Mấy năm ngồi trung học, thỉnh thoảng kẻ nầy có dịp ghé lại hoặc đi hát lễ lớn tại nhà thờ Chính Tòa, thưởng thức được những bài giảng ngon lành của cha Hậu, mà lúc đó khó tìm được nơi khác.

 

 

Bị đi thí mạng thời chiến tranh ác liệt tại vùng Năm Căn, theo tính thường tình con người, chẳng hồ hởi gì.  Nhưng từ tháng 7/1974 tới tháng 6/1975, có dịp ở gần và nghe cha Hậu giảng, kèm theo tấm gương, cũng như được những lời hướng dẫn riêng tư, thì không gì đổi đặng. Thời gian ở bên Cha, mình đã len lén ghi lại nhiều tư tưởng tiến bộ của cha để chuẩn bị cho riêng mình, nhưng chỉ có nửa khúc, sau đôi lúc gần Ngài. Dù vậy âm hưởng về cách hiểu và sống đạo của Ngài vẫn còn đậm nét trong tâm tư của kẻ hèn nầy cho tới hôm nay. 

 

Năm 1995, mình có dịp quay về tận miền Năm Căn, Bến Bọng, Chà Là, Ván Ngựa (Giá Ngự) Bà Hính, Cái Keo, Đồng Cùng, Hàm Rồng,  chợ Năm Căn mới, Cái Rắn thăm cha một bữa. Ngài làm cha sở họ đạo Cái Rắn với căn “chuồng thờ” (theo Nhật Ký Truyền Giáo)  mái lợp và vách dừng lá xé, năm mười cửa sổ khoét dọc trên cao hai bên, với cây rống (cây tạp cỡ cườm tay/cán mác, dùng để chấn song cửa sổ chuồng trâu/bò tại Nam Kỳ) chấn song ngang dọc, chỉ phòng hờ được kẻ  thẳng người ngay. Bàn thờ xiêu vẹo, kệ ngồi tả tơi không thanh dựa lưng. Mình còn giữ được băng video ghi rõ cảnh tượng ngày ấy. Song năm 2002, mình trở lại chốn cũ của Cha, thì nhà thờ thành mới khang trang, cơ sở đầy đủ, vuông tôm ao cá hàng năm bảy công tầm lớn, có lẽ ít cơ sở tôn giáo nào ngoài chợ so bì nổi. Cả hai lần gặp ngài, mình có nói lên ý kiến, ước gì Cha du lịch Hoa Kỳ một lần, kiếm thêm ngân khoản nào đó cho đại cuộc truyền giáo vùng sâu.  Nhưng ý kiến đó khó được để ý. May mắn thay, tháng 8 năm rồi 2006, Cha đã lên đường, do gia đình Trần Ngọc Chánh San Jose phối trí.

    

Mùa hè 2006, mình gặp lại Thầy cũ chỉ có nửa buổi tại xứ Portland, Oregon, Hoa Kỳ. Năm nay Thần Phụ đã 70 rồi, nhưng vẫn còn gân lắm, vẫn tếu với lối trình bày cởi mở vui nhôn đậm đà tình tự quê hương.  Nhiều điều hay lắm. Chỉ xin ghi lại vài tình ý lẻ tẻ còn nhớ được.

 

Lối giảng: sau một bài giảng, thính giả có thể đoán được vị chủ giảng am tường lẽ đạo không? đạt đạo đức chiều sâu cỡ nào? có tiêu hóa đề tài (Lời Chúa) không? có làm gương mẫu không? có cảm hóa được người nghe không...?.  Thí dụ: ai cũng ca ngợi Chúa Giêsu tài giỏi, nhưng đố ai dám có ý nghĩ nhè nhẹ lên cao rằng Chúa cũng có thất bại giáo dục vì trong hàng ngũ môn đệ, có một Vị Giám Mục Giuđa hư hỏng.

 

 

Nói tới QUÍ DANH Giám Mục (theo giáo luật là thầy dạy nguồn chân chân lý) ai nghe, cũng nhảy nhỏm khó lường, như đứng đống lửa, hơn ngồi đống than. Rồi Ngài ôn tồn giải thích: Giuđa là một trong số 12 tông đồ, ngang hàng hay có chức mà nay ta gọi là Giám Mục. Nên đừng gọi là thằng  Giuđa như trong kinh xứ Bắc nữa, có vẻ hỗn láo mất lịch sự (nguyên văn). Mấy mệnh phụ kinh ngạc phì cười hả hê: đây là lần đầu tiên con được nghe Cha nói Giuđa là Giám Mục. Kẻ phàm nhân nầy đã nghe từ hơn 30 năm trước đề mục mà Cha Hậu khám phá, liên kết thật khéo, nhưng chỉ biết khen thầm và rồi để bụng kiểm nghiệm, vì nếu đem ra chia sẻ, e phải bị đưa tới cáo-tụng-đình.

 

Mình chỉ nghe mỗi Cha Hậu mới đủ can đảm đề cập tới nhà Truyền Giáo Alexandre de Rhodes, là vị có công rất lớn với chữ quốc ngữ và Giáo Hội VN, nhưng ghép Đức Phật ngang hàng Bụt thần ma quỉ là sai lầm lớn (nguyên văn). Trong Quyển Phép Giảng Tám Ngày, bài bốn, Giáo Sĩ Đắc Lộ viết: ... đó là một tên (Phật) gian dối, bỏ vợ con, đi truyền bá chủ nghĩa nhảm nhí sai lạc... Theo Cha, Đức Phật cũng là một vị thánh cả. Cha Hậu hỏi: nếu ta là Đông Cung Thái Tử, ta dám bỏ vương quốc, ngai vàng vợ đẹp con xinh, đi tìm đường cứu độ chúng sinh hay không? (Trong 49  năm đi truyền đạo pháp, với hàng trăm, ngàn tạng kinh của Đức Phật, ta có đọc được bộ nào chưa mà coi thường tôn giáo bạn dường ấy)?  Ý nầy đã được chia sẻ trong Thánh Lễ Khánh Nhật Truyền Giáo tại Năm Căn cuối tháng 10/1974. Từ đó tới nay, chắc được Ngài lập đi, lập lại nhiều nơi, nhiều lần, để hóa giải nhiều phiền phức cũ của cách truyền đạo Chúa trong quá khứ.

 

Có lần Cha chia sẻ với kẻ thứ dân nầy: Thánh Kinh là lời Chúa, nhưng bị pha trộn nhiều sỏi sạn của chủ nghĩa quá khích yêu nước hoặc sống còn của Do Thái. Nên phải sàng lọc ra, đâu là lời Chúa nguyên chất tinh tuyền, đâu là sỏi sạn.

 

Lần khác Cha nói riêng rồi chung: ngày nào đó, Giáo Hội nới rộng chuồng chiên (vòng rào) ra thì nhiều thứ chiên sẽ nằm gọn trong chuồng, với niềm tin căn bản là Thiên Chúa sáng tạo và Ngôi Con cứu chuộc nhân Loại.

 

Cha Hậu còn đưa thêm chút kinh nghiệm bản thân làm bằng chứng. Tại quê hương của Ngài, giáo xứ  Hiền Quang, địa phận Hưng Hóa ngoài Bắc, có những thanh niên, đêm khuya len lén vào nhà chùa cạnh giáo xứ, làm mấy bãi trên bàn thờ Phật, có hôm bẻ tay chân tôn tượng trong Chùa, rồi về  vui mừng kể lại. Cha Chính xứ nghe qua cũng gật đầu thấy khoái, còn mình (Cha Hậu, lúc còn là chủng sinh) cũng mỉm cười biểu đồng tình. Nhưng Thần Phụ Ngô Phúc Hậu của thời đại nầy dám kết luận: thật là lỗi bác ái và mất dạy hết sức (nguyên văn).

 

Riêng kẻ nầy, chỉ theo chân Ngài trong hai thánh lễ Chúa Nhật tại Portland tháng 10/2006. Hôm đó trong bài Phúc Âm Chúa kể câu chuyện người giàu có và Lagiarô nghèo khó. Thần Phụ khuyên, đừng nghĩ Chúa muốn chúng ta nghèo. Cứ  làm giàu chính đáng, hưởng vừa đủ và biết bố thí.

 

Nhiều điều Chúa nói khó hiểu lắm. Mà có hỏi Chúa thì Chúa không trả lời (không mấy tu sĩ dám nói điều cũ rích nầy) nên phải đi tìm những chổ khác trong Thánh Kinh, sao cho thuận chèo mát mái trong hệ thống.

 

Nếu tôi là Chúa (bạn có dán nói bốn chữ nầy không) tôi sẽ cho bà mẹ vợ giàu có của Phêrô lên thiên đàng, luôn cả miếng vườn lớn của bà bên cạnh thủ đô Giêrusalem nữa, vì bà biết bố thí.

 

Trong Thánh Kinh, có những đoạn/câu rất tối nghĩa, như xúi dại tiêu cực, như chàng thư ký lanh lợi, nhưng Thần Phụ lái khéo qua lối giải thích  khó tìm: Chúa Giêsu chỉ nói mát, nói lẫy, đôi lúc than phiền (biết đâu câu chuyện là sỏi sạn của quyền lợi thế gian thêm vào, cần gạn lọc)  khi trả lời cho các môn đệ: theo ngài thì được hứa lời lãi gấp trăm ở đời nầy và đời sau. Cha Hậu cho một thí dụ sáng mắt mọi người: dân chúng thì có một vợ/chồng thôi, vậy mình theo Chúa (đi tu, kể cả ở đời) thì được cả trăm vợ/chồng đời nầy và cả đời sau sao? (sau đây là lời riêng của thầy bàn, không phải của thần phụ: nhóm Al Quâyđa, khi cần đàn ông tự sát, chỉ hứa: Allah  cho có 77 cô thôi; khi nào cần đàn bà om bôm, cũng  hứa 77 chàng. 77 tại Trung Đông là con số nhiều, chớ không phải chỉ có 77 mặt chữ. Trong sứ mệnh nguy nan như vậy mà, theo văn bản, lời hứa của Allah lại ít rộng rãi hơn Chúa của mình sao). Cha chia sẻ như vậy, ai nghe, cũng hiểu rõ thêm con số 100 và 77 của miệt Trung Đông.

 

Ngài dùng lối sư phạm ngôn ngữ thời đại khi nói về bà mẹ ông Giacôbê, dẫn hai cậu quí công tử lại, xin hai chỗ đặc biệt ngon lành tả hữu: một ghế thủ tướng kiêm Tổng Trưởng Kinh Tế Tài chính; ghế thứ hai là bộ trưởng quốc phòng kiêm tổng tư lệnh quân đội, nội vụ, tình báo, An Ninh?, nhưng Chúa Giêsu chỉ hứa chén đắng. Đó là số mệnh của ngưòi theo Chúa tại gia hay xuất gia.

 

Nói về  việc khuyến khích lương dân bái lạy tượng Đức Mẹ La Vang thì dùng từ ngữ lạy bà đi. bà nầy linh lắm đó. Bà là từ lương dân gọi Bà Chúa Xứ địa phương, tại lục tỉnh có rất nhiều. Dùng từ kiểu đó là tạo cây cầu vừa tầm, nối tới lương dân.

 

Thần phụ cũng nói về những việc đang và sắp làm cùng với kết quả truyền giáo, rồi như thách thức và nói mát, xin  Đức Mẹ đầy quyền phép, hãy ra tay uy quyền mà lo cho nước Chúa. Con tới đây rồi con đi, nếu có gì  thì Mẹ phải ráng chịu.

 

Cuối cùng, Cha Hậu lại hiểu câu: lúa chín đầy đồng mà thợ gặt không phải là ít, mà nhiều lắm đó. Nhiều đoàn tu sĩ tu sinh Sai gòn, sẽ đi công tác vùng xa xôi nầy. Giúp Cha đồng xu bà goá, để thợ gặt có phương tiện đến được ruộng vùng xa, mà gặt lúa về cho nước Chúa.

 

Bạn có dám sửa ý  của câu Thánh Kinh không?  - Miệng Ngài có gang có thép Thánh Linh, nên mới dám, nhưng nghe ra thì hợp lý, hợp tình, thoải mái dữ lắm người ơi. Ai cũng chịu hết.

 

Chia tay với Ngài, mình cảm thấy suy tư bần thần cả tuần sau đó. Uớc gì sức khỏe của Ngài được trở lại như thời mới tới dạy giáo Lý cho lương dân tại xóm Vàm Nhon 1963 hay như những ngày mùa hè 1971, khi chân ước chân ráo trên đất Năm Căn. Miền cuối nước Việt đó, luôn ở trong con tim rực cháy của Ngài.

 

Uớc gì Cha trở lại Hoa Kỳ lần nữa, vì còn nhiều bổn đạo và học trò muốn được nghe Cha. May mắn thay Địa Phận nhà Cần Thơ và Miền cuối cùng của đất nước có được con người xả thân đó. 

 

Trong những giây phút hiếm hoi, ngồi chung trên xe khi chuyển điểm, mình hỏi thăm tin tức về địa phận nhà và điều đáng nhớ là: tội nghiệp cho mấy Linh Mục hưu trí, già sinh tật như đất sinh cỏ, nhiều lúc làm mệt nhau. Khi tới lúc phải vào nhà hưu dưỡng, Ngài sẽ làm cho cái vị đó cười, cho vui cửa vui nhàt?

 

Còn một bạn khác kể lại: lần nọ Ngài nói, Ngài tình nguyện xuống hỏa ngục để đem tình thương vào đó (như chị Têrêsa Hài Đồng trước kia đã ước). Kẻ nầy cũng xin xách giầy cho Ngài hoặc bám viền áo vạt sau, gọi là duyên tận, mà theo.

 

Mình tin chắc rằng Ngài sẽ đem tiếng cười giòn cho hỏa ngục đang thiếu tình thương, cùng với tinh thần lạc quan tin cậy hoàn toàn nơi Chúa, cộng thêm lối sống tam cần (ăn, ở, mặc) bất túc (không cần đầy đủ) thì hỏa ngục sẽ biến thành chốn thưởng phước thanh nhàn đời đời chẳng còn lo sợ điều gì nữa vậy.