Bánh mỗi ngày | Tuần IV mùa Thường niên năm A

BÁNH MỖI NGÀY | TUẦN IV THƯỜNG NIÊN NĂM A

📄 Tải đầy đủ các ngày tại đây

Mục Lục

Suy niệm Chúa nhật Tuần IV Thường Niên A

Suy niệm Thứ Hai, ngày 02 tháng 02 – Lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thờ

Suy niệm Thứ Ba, Tuần IV Thường Niên

Suy niệm Thứ Tư, Tuần IV Thường Niên

Suy niệm Thứ Năm, Tuần IV Thường Niên, ngày 05 tháng 02 – Thánh nữ Agata

Suy niệm Thứ Sáu, Tuần IV Thường Niên, Ngày 06 tháng 02 – Thánh Phaolô Miki và các bạn tử đạo

Suy niệm Thứ Bảy, Tuần IV Thường Niên

 BÁNH MỖI NGÀY | Suy niệm Chúa nhật Tuần IV Thường Niên A

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu, chương 5, từ câu 1 đến câu 12a.

Khi ấy, thấy đám đông, Đức Giê-su lên núi. Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần bên. Người lên tiếng dạy họ rằng : “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an. Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng. Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương. Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa. Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.” Đó là Lời Chúa.

1. Ý nghĩa Lời Chúa

Trong các mối phúc, “lòng trong sạch” không chỉ nói về sự thanh khiết nơi thân xác, nhưng sâu xa hơn là sự trong suốt của con tim: một trái tim không bị chia đôi, không pha tạp, không để mình bị chi phối bởi những ý hướng lệch lạc. Người có lòng trong sạch là người quy hướng trọn vẹn về Thiên Chúa, tìm kiếm thánh ý Ngài trong mọi sự. Chính vì thế, họ “được nhìn xem Thiên Chúa”, không chỉ trong đời sau, mà ngay từ bây giờ, trong đức tin, họ nhận ra sự hiện diện của Chúa giữa đời thường, trong con người và biến cố hằng ngày.

2. Minh họa

Người xưa nói: mắt là cửa sổ tâm hồn. Thời đại mạng xã hội khiến “cửa sổ” ấy luôn mở toang. Sự tò mò không được hướng dẫn dễ dẫn ta đến những hình ảnh, thông tin độc hại, gợi lên những khuynh hướng không trong sạch: từ dục vọng, ghen tị, đến phán xét và so sánh. Khi tâm hồn bị lấp đầy bởi những điều ấy, cái nhìn nội tâm trở nên mờ đục: ta không còn nhạy bén để nhận ra Chúa, không còn thấy Ngài nơi tha nhân, và cũng khó thấy Ngài trong chính mình. Thiên Chúa vẫn ở đó, nhưng đôi mắt tâm hồn ta đã bị che khuất.

3. Thực hành

Mỗi ngày, hãy tập “giữ cửa sổ”: chọn lọc điều mình xem, nghe và nghĩ; xin ơn thanh luyện cái nhìn bằng lời cầu nguyện ngắn: “Lạy Chúa, xin cho con trái tim trong sạch để con nhận ra Ngài.” Đồng thời, tập nhìn người khác bằng ánh mắt cảm thông và tôn trọng. Lòng trong sạch lớn lên từng chút, và cùng với nó, niềm vui được “nhìn thấy Chúa” giữa đời.

 

 BÁNH MỖI NGÀY | Suy niệm Thứ Hai | ngày 02 tháng 02 – Lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thờ

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Lu-ca, chương 2, từ câu 22 đến câu 40.

Khi đã đủ thời gian, đến ngày các ngài phải được thanh tẩy theo luật Mô-sê, bà Ma-ri-a và ông Giu-se đem con lên Giê-ru-sa-lem, để tiến dâng cho Chúa, như đã chép trong Luật Chúa rằng : “Mọi con trai đầu lòng phải được thánh hiến, dành riêng cho Chúa”. Ông bà cũng lên để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non. Hồi ấy ở Giê-ru-sa-lem, có một người tên là Si-mê-ôn. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ít-ra-en, và Thánh Thần hằng ngự trên ông. Ông đã được Thánh Thần linh báo là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Ki-tô của Đức Chúa. Được Thần Khí thúc đẩy, ông lên Đền Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giê-su đem con tới để làm điều người ta quen làm theo luật dạy, thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng Thiên Chúa rằng :

“Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân : Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài.”

Cha và mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những điều người ta nói về Người. Ông Si-mê-ôn chúc phúc cho hai ông bà, và nói với bà Ma-ri-a, mẹ của Hài Nhi : “Cháu bé này được đặt làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu bị người đời chống báng. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà. Như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra.”

Lại cũng có một nữ ngôn sứ là bà An-na, con ông Pơ-nu-ên, thuộc chi tộc A-se. Bà đã nhiều tuổi lắm. Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm, rồi ở goá, đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, đêm ngày thờ phượng Thiên Chúa. Cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần, cảm tạ Thiên Chúa, và nói về Hài Nhi cho hết thảy những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giê-ru-sa-lem.

Khi hai ông bà đã hoàn tất mọi việc như Luật Chúa truyền, thì trở về thành của mình là Na-da-rét, miền Ga-li-lê. Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa. Đó là Lời Chúa.

1. Ý nghĩa Lời Chúa

Lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thờ cho thấy sự vâng phục trọn vẹn của Thánh Gia đối với Luật Chúa. Đức Maria và thánh Giuse không đứng ngoài Lề Luật, dù Hài Nhi Giêsu chính là Con Thiên Chúa. Qua hành vi “hiến dâng”, các ngài tuyên xưng rằng sự sống là hồng ân từ Thiên Chúa và thuộc trọn về Ngài. Đồng thời, biến cố này mạc khải căn tính sâu xa của Đức Giêsu: Người là Ánh Sáng muôn dân, là Đấng được dâng hiến để cứu độ nhân loại, như lời ông Simêon đã loan báo.

2. Minh họa

Theo Luật Môsê, mọi con trai đầu lòng đều thuộc về Thiên Chúa (x. Xh 13,2). Cha mẹ phải đem con lên Đền Thờ để “chuộc lại” bằng một lễ vật, thường là chiên hoặc đôi chim câu đối với người nghèo. Luật này nhắc dân Israel nhớ rằng họ được giải thoát khỏi Ai Cập nhờ quyền năng Chúa, nên mạng sống của họ thuộc về Ngài. Khi Thánh Gia thực hành luật ấy, họ không chỉ chu toàn bổn phận tôn giáo, mà còn biến Lề Luật thành một hành vi đức tin và phó thác.

3. Thực hành

Lễ hôm nay mời gọi mỗi Kitô hữu tự hỏi: tôi đã thực sự “hiến dâng” đời mình cho Chúa chưa? Hãy tập dâng Chúa từng ngày sống, gia đình, công việc và cả những dự tính tương lai. Đặc biệt, cha mẹ được mời gọi ý thức rằng con cái là quà tặng Chúa trao, để giáo dục và dẫn đưa chúng về với Ngài. Khi biết dâng hiến, ta sẽ gặp được ánh sáng và bình an của Chúa trong chính cuộc đời mình.

 

 BÁNH MỖI NGÀY | Suy niệm Thứ Ba, Tuần IV Thường Niên

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô, chương 5, câu 21 đến câu 43.

Khi ấy, Đức Giê-su xuống thuyền, sang bờ bên kia. Một đám rất đông tụ lại quanh Người. Lúc đó, Người đang ở trên bờ Biển Hồ. Có một ông trưởng hội đường tên là Gia-ia đi tới. Vừa thấy Đức Giê-su, ông ta sụp xuống dưới chân Người, và khẩn khoản nài xin : “Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu chữa và được sống.” Người liền ra đi với ông. Một đám rất đông đi theo và chen lấn Người.

Có một bà kia bị băng huyết đã mười hai năm, bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều, đến tán gia bại sản, mà bệnh vẫn không thuyên giảm, lại còn thêm nặng là khác. Được nghe đồn về Đức Giê-su, bà lách qua đám đông, tiến đến phía sau Người, và sờ vào áo choàng của Người. Vì bà tự nhủ : “Tôi mà sờ được vào áo choàng của Người thôi, là sẽ được cứu chữa.” Tức khắc, máu cầm lại, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi bệnh. Ngay lúc đó, Đức Giê-su nhận thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra, Người liền quay lại giữa đám đông mà hỏi : “Ai đã sờ vào áo tôi ?” Các môn đệ thưa : “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi : ‘Ai đã sờ vào tôi ?’” Đức Giê-su ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó. Bà này sợ phát run lên, vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Bà đến phủ phục trước mặt Người, và nói hết sự thật với Người. Người nói với bà ta : “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh.”

Đức Giê-su còn đang nói, thì có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo : “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa ?” Nhưng Đức Giê-su nghe được câu nói đó, liền bảo ông trưởng hội đường : “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi.” Rồi Người không cho ai đi theo mình, trừ ông Phê-rô, ông Gia-cô-bê và em ông này là ông Gio-an. Các ngài đến nhà ông trưởng hội đường. Đức Giê-su thấy cảnh ồn ào và người ta khóc lóc, kêu la ầm ĩ. Người bước vào nhà và bảo họ : “Sao lại ồn ào và khóc lóc như vậy ? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy !” Họ chế nhạo Người. Nhưng Người đuổi họ ra ngoài hết, rồi đưa cha mẹ đứa trẻ và những kẻ theo Người, cùng đi vào nơi nó đang nằm. Người cầm lấy tay nó và nói : “Ta-li-tha kum”, có nghĩa là : “Này bé, Thầy truyền cho con : trỗi dậy đi !” Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được, vì nó đã mười hai tuổi. Và lập tức, người ta sửng sốt kinh ngạc. Đức Giê-su nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy, và bảo họ cho con bé ăn. Đó là Lời Chúa.

1. Ý nghĩa Lời Chúa

Trong trình thuật người phụ nữ băng huyết, Chúa Giêsu không đòi công phép lạ xảy ra là do quyền năng đơn thuần của Người, nhưng do đức tin của người phụ nữ: “đức tin con đã chữa con”. Đức tin ấy không ồn ào, không lời lẽ, nhưng là một sự phó thác âm thầm và kiên trì. Bà tin rằng chỉ cần chạm vào áo Người là đủ. Đức tin mở ra cánh cửa để ơn Chúa đi vào, không chỉ chữa lành thân xác, mà còn phục hồi phẩm giá và bình an nội tâm: “hãy về bình an”.

2. Minh họa

Tin Mừng nhiều lần nhấn mạnh: “Chúa thấy lòng tin của họ”. Khi bốn người khiêng kẻ bại liệt đến với Đức Giêsu, chính lòng tin chung của họ đã làm nên phép lạ. Ngược lại, tại Nadarét, nơi người ta thiếu lòng tin, Chúa “không làm được nhiều phép lạ”. Không phải vì Chúa thiếu quyền năng, mà vì con tim khép kín không thể đón nhận ân sủng. Phép lạ không phải là phần thưởng cho người đạo đức, nhưng là hoa trái của lòng tin mở ra cho Thiên Chúa hành động.

3. Thực hành

Trong đời sống, ta cũng mang nhiều “căn bệnh”: lo âu, sợ hãi, tổn thương, tội lỗi. Hãy đến với Chúa bằng một đức tin đơn sơ: qua cầu nguyện, Lời Chúa và Thánh Thể. Dù chỉ là một lời thưa nhỏ bé: “Lạy Chúa, con tin”, Chúa vẫn có thể chạm đến và chữa lành. Mỗi ngày, hãy tập phó thác nhiều hơn, để đức tin dẫn ta đến bình an đích thực.

 

BÁNH MỖI NGÀY | Suy niệm Thứ Tư, Tuần IV Thường Niên

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô, chương 6, câu 1 đến câu 6.

Khi ấy, Đức Giê-su trở về quê quán của Người, có các môn đệ đi theo. Đến ngày sa-bát, Người bắt đầu giảng dạy trong hội đường. Nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên. Họ nói : “Bởi đâu ông ta được như thế ? Ông ta được khôn ngoan như vậy, nghĩa là làm sao ? Ông ta làm được những phép lạ như thế, nghĩa là gì ? Ông ta không phải là bác thợ, con bà Ma-ri-a và là anh em của các ông Gia-cô-bê, Giô-xết, Giu-đa và Si-môn sao ? Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao ?” Và họ vấp ngã vì Người. Đức Giê-su bảo họ : “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi.” Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó ; Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ. Người lấy làm lạ vì họ không tin. Rồi Người đi các làng chung quanh mà giảng dạy. Đó là Lời Chúa.

1. Ý nghĩa Lời Chúa

Tin Mừng thuật lại việc Đức Giêsu trở về quê hương Nadarét. Người không bị chống đối kịch liệt, nhưng gặp một sự khép kín âm thầm: người ta quen biết Người quá rõ, nên không còn mở lòng đón nhận mầu nhiệm nơi Người. Sự “cứng lòng tin” ấy làm Đức Giêsu ngạc nhiên. Không phải vì Người thiếu quyền năng, nhưng vì con tim con người tự đóng cửa trước ân sủng. Đức tin không chỉ là biết về Chúa, mà là dám để Chúa vượt lên trên những khuôn khổ quen thuộc của mình.

2. Minh họa

Tin Mừng nhiều lần cho thấy: phép lạ không xảy ra khi thiếu lòng tin. Cũng vậy, trong đời sống bí tích, người ta có thể “lãnh nhận” mà không “đón nhận”. Bí tích vẫn là bí tích, ân sủng vẫn được trao ban, nhưng hoa trái nơi người lãnh nhận tùy thuộc vào mức độ tin và mở lòng. Khi tham dự Thánh lễ hay lãnh nhận các bí tích cách máy móc, thiếu đức tin sống động, ta khó cảm nghiệm được quyền năng biến đổi của Thiên Chúa.

3. Thực hành

Lời Chúa hôm nay mời gọi ta xét lại đức tin của mình: tôi có đang quen với Chúa đến mức thờ ơ không? Hãy xin ơn một trái tim mềm mại, biết ngạc nhiên trước sự hiện diện của Chúa trong Lời, trong Bí tích và trong đời thường. Mỗi lần cầu nguyện hay tham dự phụng vụ, hãy ý thức mình đang gặp gỡ Đấng Hằng Sống. Đức tin được hâm nóng sẽ mở đường cho ân sủng và phép lạ của Chúa trong đời ta.

BÁNH MỖI NGÀY | Suy niệm Thứ Năm, Tuần IV Thường Niên | ngày 05 tháng 02 – Thánh nữ Agata

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô, chương 6, từ câu 7 đến câu 13.

Khi ấy, Đức Giê-su gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trên các thần ô uế. Người chỉ thị cho các ông không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy ; không được mang lương thực, bao bị, tiền giắt lưng ; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo. Người bảo các ông : “Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi. Còn nơi nào người ta không đón tiếp và không nghe anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi đất dưới chân để tỏ ý cảnh cáo họ.” Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh. Đó là Lời Chúa.

1. Ý nghĩa Lời Chúa

Trước hết, Chúa Giêsu gọi các môn đệ: ơn gọi luôn khởi đi từ sáng kiến yêu thương của Thiên Chúa. Kế đến, Người chọn họ, dù họ còn giới hạn và yếu đuối. Cuối cùng, Người sai đi, trao cho họ sứ mạng và quyền năng của chính Người. Việc sai từng hai người cho thấy sứ vụ Kitô giáo không bao giờ là hành trình đơn độc: các môn đệ nâng đỡ nhau, làm chứng cho nhau và cùng nhau bảo đảm tính xác thực của Tin Mừng. Quyền trên các thần ô uế biểu lộ chiến thắng của Nước Thiên Chúa trước sự dữ.

2. Minh họa

Thánh nữ Agata, trinh nữ tử đạo thế kỷ III, là mẫu gương sống động của người được Chúa gọi và sai đi. Dù không lên đường rao giảng như các Tông đồ, thánh nữ đã làm chứng cho Chúa bằng đời sống trong sạch, kiên vững trong đức tin và can đảm trước bách hại. Sức mạnh giúp Agata chiến thắng bạo lực và sợ hãi không đến từ bản thân, nhưng từ quyền năng Chúa Kitô đang hoạt động nơi người nữ tỳ bé nhỏ của Ngài.

3. Thực hành

Mỗi Kitô hữu đều được Chúa gọi và sai đi trong bậc sống của mình. Hãy ý thức rằng ta không sống đức tin một mình: gia đình, cộng đoàn, Giáo Hội là nơi ta cùng nhau nâng đỡ trên đường sứ vụ. Hãy xin Chúa cho ta biết cộng tác, khiêm tốn và can đảm làm chứng cho Tin Mừng bằng chính đời sống hằng ngày, như thánh nữ Agata đã làm, để sự dữ không còn quyền lực trên ta.

BÁNH MỖI NGÀY | Suy niệm Thứ Sáu, Tuần IV Thường Niên | Ngày 06 tháng 02 – Thánh Phaolô Miki và các bạn tử đạo

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô, chương 6, từ câu 14 đến câu 29.

Khi ấy, vua Hê-rô-đê nghe biết về Đức Giê-su, vì Người đã nổi danh. Có kẻ nói : “Đó là ông Gio-an Tẩy Giả từ cõi chết trỗi dậy, nên mới có quyền năng làm phép lạ.” Kẻ khác nói : “Đó là ông Ê-li-a.” Kẻ khác nữa lại nói : “Đó là một ngôn sứ như một trong các ngôn sứ.” Vua Hê-rô-đê nghe thế, liền nói : “Ông Gio-an, ta đã cho chém đầu, chính ông đã trỗi dậy !”

Số là vua Hê-rô-đê đã sai người đi bắt ông Gio-an và xiềng ông trong ngục. Lý do là vì vua đã lấy bà Hê-rô-đi-a, vợ của người anh là Phi-líp-phê, mà ông Gio-an lại bảo : “Ngài không được phép lấy vợ của anh ngài !” Bà Hê-rô-đi-a căm thù ông Gio-an và muốn giết ông, nhưng không được. Thật vậy, vua Hê-rô-đê biết ông Gio-an là người công chính thánh thiện, nên sợ ông, và còn che chở ông. Nghe ông nói, nhà vua rất phân vân, nhưng lại cứ thích nghe.

Một ngày thuận lợi đến : nhân dịp mừng sinh nhật của mình, vua Hê-rô-đê mở tiệc thết đãi bá quan văn võ và các thân hào miền Ga-li-lê. Con gái bà Hê-rô-đi-a vào biểu diễn một điệu vũ, làm cho nhà vua và khách dự tiệc vui thích. Nhà vua nói với cô gái : “Con muốn gì thì cứ xin, ta sẽ ban cho con.” Vua lại còn thề : “Con xin gì, ta cũng cho, dù một nửa nước của ta cũng được.” Cô gái đi ra hỏi mẹ : “Con nên xin gì đây ?” Mẹ cô nói : “Đầu Gio-an Tẩy Giả.” Lập tức cô vội trở vào đến bên nhà vua và xin rằng : “Con muốn ngài ban ngay cho con cái đầu ông Gio-an Tẩy Giả, đặt trên mâm.” Nhà vua buồn lắm, nhưng vì đã trót thề, lại thề trước khách dự tiệc, nên không muốn thất hứa với cô. Lập tức, vua sai thị vệ đi và truyền mang đầu ông Gio-an tới. Thị vệ ra đi, chặt đầu ông ở trong ngục, bưng đầu ông trên một cái mâm trao cho cô gái, và cô gái trao cho mẹ. Nghe tin ấy, môn đệ đến lấy thi hài ông và đặt trong một ngôi mộ. Đó là Lời Chúa.

1. Ý nghĩa Lời Chúa

Cái chết của thánh Gioan Tẩy Giả là đỉnh cao của một đời làm chứng cho sự thật. Gioan không thỏa hiệp với gian tà, dù biết lời nói của mình có thể dẫn đến cái chết. Trình thuật Tin Mừng phơi bày sự tương phản rõ nét: một bên là sự thật và lương tâm ngay chính; bên kia là quyền lực, dục vọng và sự hèn nhát. Cái chết của Gioan không phải là thất bại, nhưng là lời chứng cuối cùng cho Thiên Chúa, Đấng mà ngài đã dành trọn đời để dọn đường.

2. Minh họa

Lịch sử Giáo Hội tiếp nối con đường ấy qua các chứng nhân tử đạo. Thánh Phaolô Miki và các bạn tại Nhật Bản đã hiến mạng sống vì trung thành với Tin Mừng. Trên thập giá, thánh Phaolô Miki vẫn công khai tuyên xưng đức tin và tha thứ cho kẻ giết mình. Cũng như Gioan Tẩy Giả, các ngài không tìm cái chết, nhưng chấp nhận nó để không phản bội Sự Thật. Số phận của người làm chứng cho Tin Mừng thường gắn liền với thập giá.

3. Thực hành

Không phải ai cũng được mời gọi tử đạo bằng máu, nhưng mỗi Kitô hữu được mời gọi “tử đạo mỗi ngày”: dám sống và nói sự thật, dám từ chối thỏa hiệp với điều sai trái, dù phải thiệt thòi. Hãy xin ơn can đảm và trung tín, để trong những chọn lựa nhỏ bé hằng ngày, ta vẫn đứng về phía Tin Mừng. Chính trong sự trung thành âm thầm ấy, ta trở nên chứng nhân sống động cho Chúa giữa đời.

BÁNH MỖI NGÀY | Suy niệm Thứ Bảy, Tuần IV Thường Niên

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô, chương 6, từ câu 30 đến câu 34.

Khi ấy, các Tông Đồ tụ họp chung quanh Đức Giê-su, và kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm, và mọi điều các ông đã dạy. Người bảo các ông : “Anh em hãy lánh riêng ra, đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Quả thế, kẻ lui người tới quá đông, nên các ông cũng chẳng có thì giờ ăn uống nữa. Vậy, thầy trò xuống thuyền đi lánh riêng ra một nơi hoang vắng. Thấy các ngài ra đi, nhiều người hiểu ý, nên từ khắp các thành, họ cùng nhau theo đường bộ chạy đến nơi, trước cả các ngài. Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều. Đó là Lời Chúa.

1. Ý nghĩa Lời Chúa

Cái nhìn của Chúa Giêsu không dừng lại ở đám đông vô danh, nhưng chạm đến nỗi bơ vơ sâu xa của con người. “Động lòng thương” diễn tả một rung động tận đáy lòng Thiên Chúa trước cảnh con người lạc hướng, thiếu người dẫn dắt. Trước hết, Chúa không làm phép lạ hay giải quyết nhu cầu vật chất, nhưng dạy dỗ họ nhiều điều: Lời Chúa là lương thực căn bản, là ánh sáng giúp con người tìm lại ý nghĩa và phương hướng sống. Lòng thương xót của Chúa luôn đi kèm với sự thật và chân lý.

2. Minh họa

Thánh Phanxicô Assisi là hình ảnh sống động của trái tim biết “động lòng thương”. Ngài không thể làm ngơ trước người nghèo, bệnh nhân phong cùi hay những mảnh đời bị xã hội bỏ rơi. Không chỉ cho của cải, thánh Phanxicô còn trao ban sự hiện diện, lắng nghe và tôn trọng. Từ cái nhìn đầy cảm thông ấy, ngài dẫn người khác đến với Thiên Chúa, Đấng là Cha yêu thương của mọi người.

3. Thực hành

Lời Chúa hôm nay mời gọi ta tập nhìn tha nhân bằng ánh mắt của Chúa Giêsu. Giữa một thế giới đông đúc nhưng cô đơn, hãy để lòng mình rung động trước nỗi khổ của người khác. Một cử chỉ quan tâm, một lời lắng nghe, hay một hành động chia sẻ nhỏ bé cũng có thể trở thành “bài giảng” sống động về tình thương Chúa.

print